Ashui.com/Forum

THẾ GIỚI => Châu Á => : vnbooks 18/03/2008, 07:13



: Mỹ học đô thị Tokyo - Hỗn loạn và trật tự
: vnbooks 18/03/2008, 07:13

Một số nội dung trong cuốn sách
"Mỹ học đô thị Tokyo - Hỗn loạn và trật tự"

Tác giả : Yoshinobu Ashihara
Người dịch : Lư Thế Dân


 
Cảnh quan thành phố Tokyo

Cảnh quan của các thành phố Nhật Bản có cấu trúc chỉ hơi giống nhau ở các đường thẳng và thậm chí c̣n ít giống hơn ở sự cân xứng và mặt đứng của các công tŕnh dọc những đường thẳng đó, do đó khu đất xây dựng của các công tŕnh đó không cần phải vuông vức hay có h́nh chữ nhật. Đó là kết quả hiển nhiên của tập quán cổ xưa cho phép người chủ đất tự phân chia khu đất của ḿnh theo bất cứ cách nào mà họ thích, và đất đai th́ được chia nhỏ thỏa theo những yêu cầu về thừa kế mỗi khi người chủ của nó qua đời. H́nh dáng của đô thị, do đó, được quyết định không phải bởi quy hoạch tổng thể đô thị, mà bởi những ư nguyện bừa băi và thiếu mạch lạc cùng những hành động của các chủ đất tư. Điều này quả thực đă tạo ra cảnh quan có vẻ hỗn loạn của Tokyo.

Tiến thẳng về thành phố sau chuyến bay từ Châu Âu tới sân bay Narita, tôi chu du trên một xa lộ sáu làn đường, qua những khoảnh rừng và cánh đồng xanh tươi sum suê, và rồi đi vào vùng ven của thủ đô Tokyo. Thời tiết đang khá đẹp, quần áo và chăn đệm được treo đầy ngoài những mặt hiên quay hướng Nam của những chung cư trung tầng và cao tầng. Tất nhiên, đối với một người Nhật như tôi, đấy là một cảnh quen thuộc. Nhưng do vừa trở về từ Paris, tôi có một cảm giác không dễ chịu khi thấy ḿnh bị ép phải liếc nh́n vào cái thế giới riêng tư mang tính gia đ́nh của những người xa lạ. Trong nhà tắm của các khách sạn Châu Âu, ta hay nh́n thấy những giá treo khăn tắm được sưởi ấm bằng điện để hong khô khăn và đồ lót trong chỉ vài giờ đồng hồ. Những giá hong khăn có lẽ là chuyện cần thiết bắt buộc, do tại những nơi như London, đồ giặt phơi ng̣ai hiên không thể khô ráo được, nhưng chúng cũng là kết quả của việc tôn trọng vẻ bề ngoài của cảnh quan đô thị.

Đường phố bên trong khu ở tại Tokyo.
[attachment=1]

Những quần áo vừa giặt treo ngoài nhà để phơi khô xuất hiện khắp nơi trên các phố vắng của thành phố tại nhiều nước phát triển cho thấy trong một thoáng nếp sống thực tế của con người và điều này có thể đem lại một cảm giác gần gũi thân mật. Tuy nhiên, những khối chung cư mà ta thấy ngày nay tại Nhật Bản lại là những công tŕnh mới xây và khá hiện đại, làm cho những quần áo và khăn trải giường dường như trở nên lạc lơng với cảnh quan.


Việc sử dụng đất thiếu phối hợp

Một yếu tố đặc biệt khác của cảnh quan đô thị Nhật cần được đề cập tới là sự thiếu vắng tính phối hợp và mạch lạc, thiếu tôn trọng bề ngoài và h́nh thức của công tŕnh, cùng với sự thiếu vắng bất cứ chỉ dẫn hành chính nào từ phía chính quyền hoặc có sự phối hợp trong cộng đồng cư dân nhằm bố cục hài ḥa mặt tiền của công tŕnh này với công tŕnh khác. 

Tôi hiện sống ở Tokyo, gần một nhà ga trên tuyến tàu điện ngoại ô. Do phải đi làm hàng ngày, tôi có thể trông thấy một kiểu giống như cách mạng đô thị dần dần thay thế trong những con phố mua sắm phía trước nhà ga. Từng bước một, những cửa hàng nhỏ có kết cấu gỗ như tiệm giặt ủi, tiệm bán đồ uống, tiệm bán rau và tiệm cắt tóc bị phá huỷ dần và thay vào bằng những cửa hàng xây kết cấu bê tông cốt thép kết hợp với khối các căn hộ ở phía trên. Mỗi khối nhà ở này lại có thiết kế và h́nh thức khác nhau, đồng thời việc các khu đất bị chia nhỏ một cách không đều lại càng bộc lộ rơ khi những công tŕnh thấp bằng gỗ được chuyển thành những khối kết cấu trung tầng. Tôi cảm thấy ḿnh càng trở nên khó chịu bứt rứt với những khoảng không sót lại, chỉ c̣n không đầy một mét rộng, há hoác giữa các khối công tŕnh.

Chẳng lẽ những người chủ cửa hàng không thể cùng nhau kết hợp để xây chung một công tŕnh và sử dụng những khoảng không c̣n lại để tạo ra một khoảng sân hay quảng trường nhỏ phía trước nhà ga hay sao? Đáng lẽ nó có thể được trang trí thêm bằng một đài phun nước, một nhóm tượng hay những băng ghế, trang bị thêm những trụ đèn đường duyên dáng, trạm điện thoại công cộng và một bảng thông tin ngoài trời. Chẳng lẽ cư dân và nhà quản lư không thể cùng nhau làm việc để khu vực này trở nên gọn gàng ngăn nắp và có tổ chức hơn sao?

Cảnh quan đô thị tại Tokyo.
[attachment=2]

Ở đây, chỉ một phần nhỏ trong những thứ nêu trên là có thể thực hiện được trừ khi h́nh thức của quyền sử hữu đất đai tại Nhật Bản, hoặc cách nh́n nhận của chúng ta về giá trị của bản thân bất động sản, có thay đổi. Lấy ví dụ, có bốn người con thừa kế của cha mẹ 660 mét vuông đất. Do là mặt hàng có thể trao đổi buôn bán, đất đai có thể bị chia ra theo bất cứ cách nào họ muốn, bằng những đường thẳng hay đường dích dắc. Cái cách mà thuế thừa kế tài sản đánh lên đất đai cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn nữa. Nếu có nhiều người được hưởng quyền thừa kế một tác phẩm của Picasso hay Matisse, chẳng lẽ họ lại cắt nó thành nhiều mảnh theo ư họ và rồi chia ra? Không thể quên được rằng cũng như một tác phẩm, đất đai có lẽ có một giá trị hiển nhiên chỉ khi nó c̣n nguyên vẹn. Mảnh đất phía trước nhà ga là một ví dụ đặc biệt cụ thể, và chúng ta hy vọng rằng việc cấm chia nhỏ quá mức đất đai sẽ có hiệu lực càng sớm càng tốt.


Vấn đề tái phát triển đô thị

Trong những quy hoạch tổng thể tái phát triển đô thị, ưu tiên hàng đầu phải là phúc lợi cho người dân chứ không chỉ đơn giản theo đuổi lợi nhuận thông qua việc thành lập những khu thương mại. Tái phát triển đô thị ở Mỹ khởi đầu cùng với việc cải tạo nâng cấp những khu dân cư cấp thấp - nghĩa là xóa bỏ những khu ổ chuột-và dù các khu thương mại vẫn được bố trí cho mỗi quận, mục tiêu chính vẫn là xây dựng và nâng cấp nhà ở. Nhiều năm trước, khi tới thăm Nhật ngay sau Thế Chiến Thứ Hai, Justin Hermann, một chuyên gia và là người tiên phong trong lĩnh vực tái phát triển đô thị trong nội đô San Francisco, đă nhấn mạnh đến điểm này. Hermann vốn nổi tiếng v́ một loạt các dự án như Dự án Embarcadero, đă trở thành một h́nh mẫu cho các dự án tái phát triển đô thị sau này.

Tại Nhật Bản, tái phát triển đô thị hầu như bị giới hạn trong các khu vực phía trước các nhà ga và các trung tâm quận, và hầu như tất cả các dự án đều có mục tiêu trên hết là nâng cao lợi nhuận thương mại. Dù các không gian trống công cộng và những yếu tố khác để làm tăng chất lượng của không gian tất nhiên là cũng có mặt trong các dự án này, yếu tố quyết định trong dự án vẫn là khả năng dự án sản sinh ra lợi nhuận thông qua mục đích sử dụng đất. Chỉ có một cố gắng cho đủ lệ bộ được thực hiện nằm ở chất lượng xây dựng tốt và sự nâng cấp nhà ở, c̣n th́ rất ít điều được thực hiện nhằm giảm bớt khoảng cách giữa nơi làm việc và nơi ở.

Ṿm trần cao của Nhà ga Trung tâm Philadelphia, với chi tiết nội thất đơn giản.
[attachment=3]

Một vài năm trước, một nhóm quan sát viên đi thu thập số liệu về để liên hệ với việc xây dựng một khu siêu thị ngầm ở Les Halles tại Paris đă tới thăm Nhật Bản, và tôi đă dẫn họ đi tham quan một khu siêu thị ngầm ở Tokyo. Tại Nhật Bản, các siêu thị ngầm dưới đất được xây dựng để sử dụng đất hiệu quả hơn, và luôn có những công tŕnh thương mại cao tầng mọc lên từ phía trên. Tại Les Halles, người ta cho tôi biết, họ đă quyết định chỉ đặt những công tŕnh thương mại trong những siêu thị ngầm dưới đất bởi nếu đặt chúng trên những khu cao tầng của dự án sẽ làm nḥa đi sự khác biệt giữa chúng (giữa các khu cao tầng) và làm cảnh quan đô thị trở nên đơn điệu. Một cửa hàng khổng lồ đứng phía trên cái siêu thị Nhật Bản mà chúng tôi đă tới, và tôi c̣n nhớ một cách sống động lời chỉ trích của những nhà quan sát đến từ Paris khi họ ra về, rằng công năng của các không gian ở Nhật Bản dường như dựa trên một lập luận hoàn toàn khác biệt.


Hai kiểu mẫu của sự h́nh thành đô thị

Tôi tin rằng kiến trúc và đô thị có thể được h́nh thành theo hai cách khác nhau: cách thứ nhất thực hiện theo kiểu mà tôi gọi là “tiếp cận từng phần” và khởi đầu từ từng bộ phận, c̣n cách thứ hai thực hiện theo kiểu “tiếp cận toàn thể” và khởi đầu từ một khái niệm tổng quan. Với cách tiếp cận đầu tiên, một đô thị được h́nh thành dần dần, mỗi lần một hoặc hai ngôi nhà; không ai có được một h́nh dung cụ thể trước đó xem đô thị cuối cùng sẽ như thế nào. Tuy nhiên, với cách tiếp cận sau, ta có thể ngay từ đầu đă xây dựng được một quan niệm rơ ràng một đô thị với dân số và quy hoạch xác định. Từng công tŕnh riêng biệt sẽ được xây dựng nối tiếp trên cơ sở của quy hoạch đó.

Tôi đă từng tranh luận ở đâu đó về hai cách để thiết lập trật tự kiến trúc và không gian đô thị: bằng cách cộng thêm vào và bằng cách loại bớt đi. Trong điêu khắc, một số tác phẩm được tạo ra bằng cách đắp thêm vật liệu vào những chỗ c̣n trống rồi nối kết chúng lại để biến thành một tác phẩm nghệ thuật, trong khi một số tác phẩm khác lại được tạo h́nh bằng cách bào tiện hoặc đục chạm bớt những phần không cần thiết từ khối đá hay gỗ thô. Cùng cách đó, kiến trúc hoặc không gian đô thị cũng được sinh ra theo cách cộng thêm, khởi đầu là h́nh thành một luật lệ nội tại có giá trị bên trong ranh giới không gian đó; hoặc h́nh thành theo cách loại bớt đi, khởi đầu là xác định rơ ràng ranh giới ngoại vi của không gian đó và rồi tiến hành các công tác bên trong. Cách đầu tiên phù hợp với lối tiếp cận từng phần, c̣n cách sau phù hợp với lối tiếp cận toàn thể.

Chúng ta hăy cùng xem xét sự tương phản này qua việc so sánh cách tiếp cận của người Nhật với h́nh thức của kiến trúc, được h́nh thành bởi khí hậu và điều kiện tự nhiên Nhật Bản, với cách tiếp cận tại Ai Cập và Hy Lạp, những nơi được xem là cái nôi của lịch sử kiến trúc thế giới.

Trong những vùng mà mùa hè có khí hậu nóng khô, ít cây cao hoặc bụi rậm che khuất tầm nh́n, ánh nắng xoi xuống khiến các vật thể có bóng đổ sắc nét. Về mặt lịch sử, chúng ta có thể t́m thấy tại những vùng này rất nhiều công tŕnh đặc trưng bởi sự đăng đối qua trục và tập trung chú trọng mặt tiền, tiêu biểu cho lối tiếp cận toàn thể. Ngược lại, tại những vùng có mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, thực vật sum suê với nhiều cây cao và h́nh dáng cùng bóng đổ của các vật thể có khuynh hướng bị nḥa đi. Các công tŕnh ở đây đặc trưng bởi việc tránh đối xứng và phô bày toàn mặt đứng, và được tạo thành qua lối tiếp cận từng phần.


Các thành phố và kiến trúc h́nh thành qua lối tiếp cận toàn thể

Các kim tự tháp được xây dựng giữa sa mạc Ai Cập hơn 4.500 năm về trước là ví dụ tiêu biểu nhất của một không gian được h́nh thành từ toàn thể.

Sự xem xét cẩn trọng cách một vật thể xuất hiện từ đằng xa là một tiêu chuẩn xác định của lối tiếp cận toàn thể. Trong trường hợp này, việc tính toán toàn thể là hiển nhiên với các cạnh của kim tự tháp, tạo thành một tam giác cân trên mặt cắt, nghiêng đi chính xác 510 50’ 35”, sao cho người xem luôn thấy trước mắt ḿnh là một h́nh tam giác đều. Nó cũng thể hiện trong kỹ năng mà theo đó 146m chiều cao của kim tự tháp được chia thành 210 bậc, bằng những khối đá lớn chồng từng lớp lên nhau để tạo ra được góc nghiêng đó. Kiến thức về thiên văn học vào thời kỳ này tiến bộ tới mức cho phép định vị chính xác bốn hướng địa dư đông, tây, nam, bắc.

Một ví dụ khác là đền thờ Parthenon, sừng sững trên Acropolis của Hy Lạp từ suốt hơn 2.000 năm qua. Hy lạp có khí hậu mùa hè rất nóng và khô, và mặt trời vùng biển Aegean xoi chiếu xuống mặt đất, cắt xẻ mọi vật thể thành hai phe riêng biệt bóng tối và ánh sáng.

Đền thờ Parthenon, Athens.
[attachment=4]

Bắt đầu từ trên tầng nền của Acropolis, ta leo lên theo cái lối ṃn bằng đá đă bị hơn hai thiên niên kỷ bào ṃn. Đột nhiên ngôi đền hiện ra ngay trước mắt. Cái công tŕnh nổi tiếng này, khi tiếp cận từ phía đầu hồi, có h́nh dáng ḥan ṭan đối xứng theo trục. Mặt đứng có 8 hàng cột Doric, vẻ đẹp tột cùng của sự cân xứng hài ḥa này không thể đạt được mà không tính đến việc thiết kế dựa trên nguyên tắc tiếp cận toàn thể.

Tuy nhiên, khi ta từ từ tiến tới trước các kim tự tháp ở Cairo hay đền Parthenon tại Acropolis và quan sát cận cảnh bề mặt kết cấu, h́nh ảnh toàn thể, vốn rất ấn tượng nếu nh́n từ xa, trở nên kém rơ ràng và ta sẽ phải đối diện với cảnh mặt ngoài phủ đầy những khối đá xù x́ kém hấp dẫn.

Lối tiếp cận toàn thể đ̣i hỏi sự phối hợp của các thành phần khi người quan sát đứng từ khoảng xa, c̣n góc nh́n cận cảnh th́ có thể không cần phải đẹp mắt hay trau chuốt. Cũng cần lưu ư rằng các công tŕnh và thành phố đă nổi tiếng toàn thế giới và để lại ảnh hưởng lên lịch sử hầu hết đều là ví dụ của lối tiếp cận toàn thể, và chúng biểu lộ bốn đặc tính thông thường: đối xứng qua trục, tập trung chú trọng mặt tiền, tính biểu tượng và tính hoành tráng.


Lối tiếp cận từng phần của Nhật Bản

Nếu chúng ta xem xét lại kiến trúc gỗ cổ truyền Nhật Bản, chúng ta nhận thấy rằng trước tiên, những công tŕnh này có kích thước nhỏ hơn so với kiến trúc Ai Cập hay Hy Lạp. Hơn nữa, chúng được bao quanh bằng rừng cây xanh và không bật trội lên trên phong cảnh thiên nhiên. Không chỉ có thế, chúng có mặt bằng bất đối xứng, và hiếm khi có thể cùng lúc quan sát một cách toàn thể. Chúng không được thiết kế từ đầu để được chiêm ngưỡng toàn thể, do đó không có ǵ cản trở việc thêm thành phần vào quần thể, từng chút từng chút một, khi người ta thấy thế là cần thiết.

Đứng phía trước lối vào của Biệt Cung Katsura, công tŕnh được xem là tác phẩm xuất sắc nhất của của phong cách kiến trúc sukiya của Nhật Bản, ta sẽ thấy phía bên trái có một chiếc cổng nhỏ dẫn vào khu vườn. Kiến trúc này dường như được thiết kế hoàn toàn có chủ ư, nhằm tránh tập trung vào mặt tiền, và thực ra, từ nơi quan sát, không thể thấy rơ h́nh dáng toàn thể của công tŕnh. Sự sắp xếp như ngày nay được xem là kết quả của việc xây dựng chia thành từng giai đoạn của Shoin Cổ kỳ, Shoin Trung kỳ và Tân Cung, và không có cách nào để phán xét rằng vào giai đoạn nào th́ công tŕnh có bố cục quần thể đẹp nhất.

Biệt cung Katsura, Kyoto.
[attachment=5]

Tới thăm Biệt Cung Katsura và chiêm ngưỡng các chi tiết của nó, ta sẽ nhận thấy rằng tay nắm của các tấm cửa kéo fusuma và phần trang trí kim loại bản thân chúng là những tác phẩm nghệ thuật tuyệt diệu, và rằng hướng của các vân gỗ, các món đồ gỗ và lối hoàn thiện sản phẩm đă được tính toán và thực hiện với độ cẩn trọng chăm chút vô cùng tinh vi. Cung điện này tiêu biểu cho một lối tiếp cận hoàn toàn đối lập với với các h́nh mẫu kim tự tháp hay đền Parthenon. Nó được bao quanh bởi cây cối và khó có thể chiêm ngưỡng tất cả cùng một lúc, nhưng khi quan sát cận cảnh, những chi tiết của nó thật sự hoàn hảo và tuyệt đẹp. Không thể nói dứt khoát rằng Biệt Cung Katsura h́nh thành từ lối tiếp cận từng phần tới bố cục tổng thể kiến trúc, nhưng rơ ràng một kiểu kết hợp bố cục đă h́nh thành thông qua việc hoàn thiện và trau chuốt từng thành phần riêng biệt.

(c̣n nữa)


: Hồi âm: Mỹ học đô thị Tokyo - Hỗn loạn và trật tự
: vnbooks 18/03/2008, 07:19

Một số nội dung trong cuốn sách
"Mỹ học đô thị Tokyo - Hỗn loạn và trật tự"

Tác giả : Yoshinobu Ashihara
Người dịch : Lư Thế Dân


(tiếp theo)


Cá tính của đô thị

Vậy th́, cái ǵ là cá tính? Cá tính là tài sản sở hữu của một đất nước như Nhật hay Đức về những thuộc tính riêng biệt.

Tại Nhật, có những đường phố với cảnh quan tổng thể rất sạch sẽ quang đăng, ví dụ như các thị trấn cũ ven đường được phát triển từ những nhà ga dọc những trục giao thông chính trong thời trung cổ, như Tsumago (Tỉnh Nagano) và Ôuchi (Tỉnh Fukushima) và những quận tại Kyoto với những ngôi nhà machiya làm bằng gỗ đặc trưng bởi những hàng lam gỗ và cửa chính sơn đỏ nằm trên mặt hông nhà trải dài.

Tuy nhiên, những công tŕnh bằng gỗ cổ truyền có lối vào bên hông như vậy là ngoại lệ. Các công tŕnh bằng bê tông cốt thép chịu lửa được nghiêm túc giới thiệu sau trận động đất khủng khiếp Kanto và những đợt hỏa hoạn do nó gây ra năm 1923. Trong cuộc tái thiết sau Thế Chiến II, tất nhiên có rất nhiều nhà ở một gia đ́nh làm bằng gỗ được xây dựng, nhưng đồng thời những khối nhà chung cư trung tầng và cao tầng làm bằng bê tông cốt thép chịu được lửa cũng được xây với số lượng lớn nhằm tăng hệ số sử dụng đất.

Cuộc tái thiết vĩ đại đó được thực hiện mà không có quy hoạch đô thị tổng thể dựa trên việc tiếp cận toàn thể hoặc những quy định giới hạn về mặt h́nh thức kiến trúc như cách đă được thực hiện ở Paris, New York hay Washington. Khái niệm kiểu Phương Tây về giới hạn quyền cá nhân do nhu cầu cộng đồng đă không được chấp nhận, bởi ảnh hưởng của những lư tưởng dân chủ thời hậu chiến và sự tôn trọng hệ thống quyền sở hữu đất đai tư nhân. Kết quả là, cảnh quan đô thị Nhật Bản ngày nay đă trở thành một mớ lộn xộn các công tŕnh bằng bê tông chịu lửa cao thấp khác nhau.

Cảnh quan đô thị Tokyo hiển nhiên có thể trội hơn về mặt nào đó so với cảnh quan đô thị của một số nước phát triển ở Phương Tây, nhưng nh́n chung th́ nó khá lộn xộn và không thể b́ kịp. Tuy nhiên, 12 triệu cư dân của nó không chỉ đơn giản là sống trong một môi trường hỗn loạn. Thực ra họ đang sắp xếp cuộc sống theo cách thỏa măn văn hóa của riêng ḿnh, nhờ có cái “trật tự ẩn giấu” của Tokyo.

Chạy xe trên một xa lộ ngầm hay đi bộ về nhà vào ban đêm có thể là nguy hiểm tại những thành phố lớn của Mỹ, nhưng cho tới giờ ta vẫn rất an toàn khi làm chuyện đó ở Tokyo. Không có nhiều thành phố trên thế giới mà nước sạch sử dụng cho ṿi nước sinh hoạt và nước xả bồn cầu vệ sinh lại cấp từ cùng một hệ thống đường ống cấp nước, đồng thời lại có thể ăn sống trực tiếp mọi thứ ta gặp mà không sợ tiêu chảy. Thậm chí với một hệ thống địa chỉ chỉ dẫn khá phức tạp, thư tín và bưu kiện vẫn đến nơi an toàn và nhanh chóng. Các ngôi nhà được trang bị đầy đủ không chỉ với điện thoại mà cả hệ thống TV vệ tinh tiên tiến (Xin lưu ư tác giả viết sách này vào thời điểm năm 1998 – N.D.).


Đô thị được chia nhỏ

Những ư tưởng của Benoit Mandelbrot được vạch ra trong cuốn “The Fractal Geometry of Nature” (Benoit B. Mandelbrot, The Fractal Geometry of Nature, New York: W. H. Freeman and Company, 1977) giúp giải thích cách thức Tokyo đang được tổ chức. Theo giả thuyết của ông, một trật tự mềm dẻo bao gồm một hệ thống các con số ngẫu nhiên tồn tại trong sự hỗn loạn của tự nhiên. Khi chú ư tới những h́nh vẽ rời rạc trong đồ họa máy tính, ta thấy h́nh dáng và thái độ không được định trước nhưng đang h́nh thành tuỳ theo sự thay đổi đă định trước.

Những thành phố dường như mất trật tự như Tokyo đang h́nh thành thông qua sự hội tụ của những yếu tố không đồng nhất và phát sinh tự nhiên. Chúng không được hoạch định để thành ǵ ngay từ đầu nhưng vẫn phát triển một cách ngẫu nhiên. Chất lượng ngẫu nhiên là nguồn gốc của cá tính Tokyo, có khuynh hướng bị bỏ sót bởi, theo một cách rời rạc, nó chỉ đơn giản là sự vật biến đổi hơn là sự vật được định trước từ đầu. Ở đây có “cái đẹp của sự hỗn loạn”, một thẩm mỹ thích hợp với thế kỷ 21. Như tôi đă nói từ đầu, nguyên tắc và đặc tính này của Tokyo liên quan chặt chẽ với sự ưu tiên dành cho quyền sở hữu tư nhân đất đai, điều này có thể truy về cái tập tục cởi giày khi vào nhà.

Nếu, dù xấu hoặc tốt, chúng ta muốn Tokyo chấp nhận cá tính của một thành phố dựa trên một sự tiếp cận toàn thể, vậy th́ việc cải cách cơ bản về hệ thống quyền sở hữu đất đai sẽ là cần thiết. Nếu không, chúng ta phải sử dụng những thành quả của lối tiếp cận từng phần và thực hiện từ những tiểu tiết, bắt đầu từ việc làm sạch đường phố phía trước nhà ḿnh, làm cho các cửa sổ bày hàng trong cửa hàng của ḿnh trở nên độc đáo hơn nữa, gỡ bỏ những bảng hiệu và những quảng cáo khác trong các quận buôn bán đồng thời cải tiến các bảng chỉ đường và việc chiếu sáng. Đă tới lúc mỗi người chúng ta phải xem xét và hiểu rơ các đô thị Nhật Bản đă phát triển như thế nào.


Chức năng của các nhà ga

Các nhà ga đường sắt hay tàu điện ngầm chính tại Nhật hầu như luôn nằm ở ngay trung tâm thành phố, và do đó đứng trên khu đất vô cùng đắt giá, cho nên hiển nhiên là những người phát triển các công tŕnh đó mong muốn sử dụng đất đai hiệu quả hơn, với mật độ cao hơn để tăng lợi nhuận. Ngược lại, nhà ga đường sắt ở Châu Âu có trần rất cao và thiết kế thoáng rộng, một số có mái ṿm cong để dẫn ánh sáng từ ngoài vào nội thất. Nhà ga cao rộng của Rome đă trở thành cảnh nền đáng nhớ cho một số bộ phim có cảnh chia tay sầu thảm.

Các nhà ga tại Nhật, mặc dù có tính công cộng, thường có phần trần khá thấp, bởi luôn có các khách sạn hay cửa hàng được xây phía trên nhằm tăng mật độ sử dụng đất. Do đó, ngoài những bảng kư hiệu cung cấp thông tin về các chuyến tàu, gần như mỗi bức tường đều phủ đầy những bảng hiệu và bảng quảng cáo của các cửa hàng hay tiệm ăn, bao lấy người khách bằng hàng núi thông tin và khiến họ càng khó định hướng hơn so với các nhà ga ở Mỹ hay Châu Âu. Đối với khách du lịch nước ngoài đặt chân lên một vùng đất xa lạ, những bảng hiệu nhiều quá mức ấy là vô ích và làm cho họ rất khó khăn khi t́m kiếm tới đúng sân chờ chuyến tàu của ḿnh.

Ṿm trần thấp tại nhà ga chính ở Nhật Bản, với vô số bảng quảng cáo.
[attachment=1]

Một lần nữa, dù mang tính chất công cộng, các nhà ga vẫn đúng là được phủ đầy những quảng cáo thương mại đến nỗi thật khó để nhận ra chúng là nhà ga hay công tŕnh thương mại. Những hành động để phản đối lại việc xây dựng những nhà ga - cao ốc đă xuất hiện ở một vài nơi, và chúng ta cần phải xem xét lại từ góc độ quy hoạch đô thị tính đúng đắn của việc đưa cả hai chức năng công cộng là nhà ga tập trung và chức năng thương mại của cửa hàng và tiệm ăn vào cùng một công tŕnh. Ở vùng ngoại ô, có thể là tiện lợi cho mọi người khi dừng chân tại nhà ga, đồng thời là đi mua sắm, và rồi quay lại và đi về nhà, nhưng việc kết hợp một nhà ga trung tâm với một cửa hàng lớn tại trung tâm thành phố khó có tính thuyết phục nếu xét trên góc độ phân khu chức năng đô thị.

Do tuần làm việc năm ngày đă thành lệ thường ở Nhật Bản, người lao động có thêm nhiều thời gian ở nhà hơn, và trong buổi chiều tối số lượng người của Quận Marunouchi nằm giữa Ga Tokyo, đă giảm đáng kể. Những cửa hàng lớn trong các khu trung tâm này đă buộc phải cắt bớt thời gian buôn bán của ḿnh. Chắc chắn sẽ có lúc các cửa hàng lớn ở ven các ga trung tâm ở Tokyo sẽ phải chịu sự suy thoái và phải trả giá v́ đă bố trí quá gần nhà ga trung tâm.


Việc đậu xe trái phép và đô thị

Trong những đô thị lớn như Tokyo, những ôtô đậu trái phép đầy chật các con phố và gây ùn tắc giao thông là một vấn đề thường xuất hiện trên mặt báo. Chỗ đậu xe là rất cần thiết, tuy nhiên, chỉ khi chúng ta sử dụng xe hơi. Phạt thẳng tay những vụ đậu xe trái phép tự nó không giải quyết được vấn đề, nguyên nhân sâu xa của chúng là ở sự thiếu hụt trầm trọng không gian đường phố tại các đô thị Nhật Bản. Mọi cố gắng trong bản quy hoạch đô thị của Tokyo sẽ bị dập tắt trừ khi một trần giới hạn được áp dụng lên tổng sản lượng xe hơi tương ứng với diện tích đường ôtô xây mới hay mở rộng.

Tại một hội nghị nào đó, tôi đă đề nghị rằng nếu việc giới hạn sản lượng xe hơi không thể thực hiện được, chúng ta cần xây dựng một hệ thống chỉ cho phép sử dụng ôtô có biển số chẵn trong những ngày chẵn và ôtô biển số lẻ chỉ trong những ngày lẻ. Tuy nhiên, tôi được phản hồi rằng một hệ thống như vậy sẽ có tác dụng ngược so với dự định. Trong thời kỳ thịnh vượng như hiện nay, điều đó chỉ dẫn tới việc cứ mỗi người lại sở hữu hai ôtô, một biển số chẵn và một biển số lẻ, điều này c̣n làm trầm trọng hơn vấn đề chỗ đậu xe và ùn tắc giao thông. Những nhà sản xuất xe hơi hẳn không dám mong điều ǵ tốt hơn thế. Thật đáng sợ khi nền kinh tế lại có thể có một ảnh hưởng xấu đến thế lên các đô thị.

Và rồi tôi nghĩ tới ư tưởng sáng tạo ra một “công ty cưỡng chế các vụ đậu xe trái phép”, với một cảnh sát về hưu làm chủ tịch. Những xe hơi đậu trái phép sẽ bị kéo đi khắp mọi nơi, những món tiền phạt rất lớn được thu, và tiền này sẽ được chia một phần cho chính quyền. Tuy nhiên, khi suy nghĩ sâu hơn tôi nhận ra tính bất khả thi của đề xuất này. Không có đủ không gian trống trong Tokyo để giam giữ tất cả những xe hơi bị kéo đi. Thử nh́n xem trong chớp nhoáng một dự án lấp kín đất như Yumenoshima đạt hết công suất chứa rác thải như thế nào. Một nơi giam giữ xe có thể sẽ được xây dựng, nhưng nếu chúng ta có điều kiện làm điều đó, thà mở rộng không gian đường phố c̣n dễ hiểu hơn. Tôi đành buộc phải kết luận rằng, dù những đề xuất như vậy đều có ưu điểm của ḿnh, một giải pháp khả thi trong điều kiện hiện tại rất khó t́m và do là, sau những chuyện đă được bàn đến và thực hiện, gốc rễ của mọi điều tồi tệ là ở vấn đề đất đai.


Rắc rối với những tuyến xa lộ

Nếu có ai khảo sát những tuyến cao tốc quanh thủ đô Tokyo, họ sẽ thấy chúng khác với đường cao tốc ở những quốc gia khác. Sự khác biệt dường như nằm ở thực tế rằng các xe tải có số lượng vượt trội so với xe hơi cá nhân. Bản thân tôi đă quan sát kỹ lưỡng t́nh trạng giao thông trên tuyến cao tốc thủ đô Số 3 dẫn về trung tâm thành phố. Dù tỷ lệ phần trăm xe tải có thay đổi theo thời gian trong ngày, nó đạt tối đa gần 70 phần trăm tổng số lượng xe tham gia giao thông, và phần lớn trong số đó là xe tải cỡ lớn.

Theo số liệu năm 1992, trong số 940.000 phương tiện chạy trên mạng lưới cao tốc thủ đô, 450.000 tức phân nửa số phương tiện đă sử dụng các tuyến cao tốc ṿng quanh trung tâm thành phố. Hơn nữa, 240.000 hay phân nửa số phương tiện nói trên đă chạy xuyên qua trung tâm của Tokyo.

Nguyên nhân ở đây là ở sự thiếu hụt của hệ thống xa lộ Tokyo. T́nh trạng chưa hoàn thiện của mạng xa lộ vành đai Tokyo, những con đường chính bốn làn xe bao quanh thành phố thành những ṿng tṛn đồng tâm, gây ra những vấn đề giao thông nghiêm trọng. Những xe tải lớn chạy vào từ khắp đất nước cần phải được hướng ra tuyến vành đai ngoài cùng càng nhanh càng tốt và đi thẳng tới nơi đến của chúng. Tuy nhiên, thậm chí những tuyến giao thông huyết mạch quan trọng như Kanjô Hachigô hay Tuyến vành đai Số 8, cũng vẫn chưa đáp ứng được chức năng bởi những khó khăn vướng mắc trong việc giao nhận quyền sử dụng bất động sản cần thiết để tiến hành nâng cấp xa lộ và những tŕ hoăn trong những hạng mục xây dựng trên cao hoặc những đoạn xây trong tunnel ngầm. Thậm chí hiện nay, chỉ có một nửa của Gaikan, tức đường Vành đai ngoại vi, được mở cửa thông xe, c̣n th́ toàn bộ quăng đường ṿng sẽ vẫn chưa được hoàn thành cho tới thế kỷ sau (tức thế kỷ 21 – N.D.). Một đường vành đai chỉ có thể đáp ứng thỏa đáng yêu cầu chức năng nếu toàn bộ đoạn ṿng đai đều được thông xe. Nó sẽ không có lư do tồn tại chừng nào mà một phần của nó vẫn c̣n phải đóng cửa.

Có đôi điều cần bàn về những ư kiến trao đổi trong một buổi truyền h́nh về chủ đề Tokyo có thực sự cần các đường cao tốc không. Hiển nhiên, nếu các đường cao tốc chỉ cho phép xe được chạy với tốc độ thấp như chúng đang chạy hiện nay, thà loại bỏ chúng đi c̣n đáng hơn là dùng phí khoảng đất hiện dành cho các cột trụ đỡ các làn đường phụ. Trong bất cứ trường hợp nào, một con đường chỉ có giá trị khi nó hiệu quả trong toàn bộ hệ thống. Chỉ cần xuất hiện một nhược điểm tại đâu đó là đă khiến một con đường không đáp ứng được nhiệm vụ. Cần phải nói rằng t́nh trạng hiện thời chính là kết quả của thực tế là Nhật Bản không chấp nhận cách tiếp cận toàn thể với bản quy hoạch đô thị như Châu Âu và Hoa Kỳ đang làm. Ngoài ra, ta cũng c̣n phải đối phó nhiều với các thiếu sót của hệ thống sở hữu đất đai tại Nhật Bản.


Đáng báo động về vấn đề đất đai

Khó khăn lớn nhất tại Tokyo ngày nay là vấn đề đất đai, giá cả đă tăng vọt lên những mức cao khó hiểu.

Nhờ sự phát triển kinh tế của Nhật Bản, Tokyo không chỉ là thủ đô của nước Nhật, mà c̣n là trung tâm của các hoạt động kinh tế chính trị toàn cầu, tương tự như Paris, London, New York và Washington D.C., rất nhiều người cho rằng thành phố này cần phải được cải thiện hơn nữa và nâng lên cho xứng đáng với tầm mức của một đại đô thị - thủ đô. Nhiều người khác tin rằng do sự tập trung quá mức của các hoạt động chính trị, tập đoàn kinh tế, tài chính thương mại và văn hóa tại Tokyo, Nhật Bản cần được tái tổ chức quanh những đa trung tâm, như đă được phác thảo trong bản Quy hoạch Phát triển tổng thể Đất đai Lần 4 của Chính phủ.

Vấn đề không phải ở chỗ sự thay đổi nào là đúng đắn hoặc đáng ao ước, cái thực tế vẫn tồn tại ở đây là sự tập trung quá mức tại Tokyo. Giá đất quá cao tại những quận thương mại trung tâm Tokyo là chuyện không hay ho ǵ mà lư do th́ ai cũng biết. Giá đất cao ở khắp thành phố khiến việc thu hồi đất cho những tiện ích công cộng như sân bay hay đường xá trở nên rất khó khăn, và trừ phi có thay đổi, vấn đề này sẽ mau chóng trở nên không giải quyết được.

Chúng ta cần phải xem xét tới bản chất thực của đất đai. Giá đất của những vùng hoang dă không có người ở có lẽ gần như bằng không. Trong các vùng đô thị ngày nay, giá của chúng tăng lên do sự nâng cấp cơ sở hạ tầng, tức là do những yếu tố kinh tế nằm ng̣ai đất đai. Giá đất tại bất cứ quận nào cũng tùy thuộc vào không chỉ những đặc điểm của quy họach đô thị của quận, khả năng tiếp cận với hệ thống giao thông và phân vùng chức năng (thương mại, công nghiệp hay khu ở) mà c̣n vào việc khu đất có dễ tiếp cận với một tuyến phố thương mại và có hệ thống cấp thoát nước cùng mạng lưới năng lượng và thông tin liên lạc hoàn hảo thuận tiện. Do đó giá đất được quyết định bởi lượng tài chính công đầu tư vào để nâng cấp, nguồn vốn này hiển nhiên lấy từ các loại thuế giúp duy tŕ những tiện ích và dịch vụ này. V́ thế, nếu sử dụng đất chỉ giành cho lợi ích tư của chủ đất là sai. Đất đai phải được sử dụng nhiều hơn cho mục đích công cộng để phù hợp với các quyết định của quy hoạch đô thị, giống như tại Phương Tây.


Khái niệm kiểu Nhật về quyền sở hữu đất đai

Chúng ta không thể chỉ dựa trên những nguyên tắc kinh tế để giải quyết vấn đề giá đất cao quá mức trừ khi khái niệm của Nhật Bản về quyền sở hữu đất đai được thay đổi cơ bản và chúng ta bắt đầu ưu tiên cho những nhu cầu cộng đồng.

Trong trường hợp xây dựng đường xá, chỉ cần một chủ đất từ chối giao đất của ḿnh là đă khiến việc làm đường phải chựng hẳn lại. Những kỳ nèo như vậy thường có động cơ là t́nh cảm sở hữu mănh liệt với bất động sản. Đối với nhiều người, đất đai là một tài sản để lại của tổ tiên mà gia đ́nh không thể bán đi, và trong một số trường hợp người chủ đất dường như bị chi phối bởi ḷng ham muốn chiếm hữu cổ sơ có sức mạnh hơn nhiều bất kỳ một nguyên tắc kinh tế nào.

Tại nơi những con phố chật chội giao nhau, vạt chéo góc đường và mở rộng chiều rộng đường có thể giúp giảm ách tắc giao thông, nhưng tại những đô thị Nhật Bản, các góc đường như vậy thường có cắm một cọc sắt. Đây là một loại mốc đánh dấu ranh đất, đặc điểm của cộng đồng nông nghiệp, trái ngược với những cư dân du mục.

Ư thức sở hữu mạnh mẽ này thường được nhấn mạnh bằng những bức tường xây quanh khu đất ở. Thậm chí nó c̣n có thể được rào thêm trên đỉnh tường bằng dây kẽm gai hay trong một số trường hợp là những mảnh chai lọ thủy tinh cắm lên trên.

Hiện tượng này không chỉ giới hạn trong khu đất ở. Ví dụ như người ta sẽ tự hỏi, tại sao bức tường xung quanh Đại học Tokyo, cơ sở giáo dục cao cấp nhất Nhật Bản, lại cao đến thế. Nếu bức tường đó hạ xuống ngang với gờ của con đường bên trong trường, con đường boulevard với vỉa hè rất rộng chạy phía trước cổng chính và chiếc cổng nổi tiếng Akamon sẽ trở thành một đường đi dạo tuyệt vời chẳng kém ǵ khu rừng Bois de Boulogne ở Paris. Khu vườn Thực vật của đại học Koishikawa thậm chí c̣n tệ hơn. Bao quanh bởi một bức tường dài như vô tận bằng bê tông đúc sẵn, nó như một trong những vườn thực vật được bao bọc nghiêm ngặt nhất trên thế giới. Điều này làm ta tự hỏi phải chăng đấy chính là vườn thực vật của một trường đại học.

Tôi không biết một môi trường như vậy có phải là kết quả của sự hẹp ḥi thiển cận của Đại học Tokyo hay không, do những cảm xúc mănh liệt về quyền sở hữu đất hay do tinh thần trách nhiệm quá mức của những nhà quản lư, nhưng không khí mà nó tạo ra cho cảnh quan đô thị thật không hay chút nào. Ít nhất những rào chắn cũng nên hạ xuống hẳn vài mét và, nếu thật sự cần thiết, xin hăy thay chúng bằng một hàng rào song sắt có thể nh́n xuyên qua được.


Hướng tới một cách nh́n mới về quyền sở hữu đất đai

Lượng thời gian quư báu mất đi hàng ngày của rất nhiều công dân đô thị, kết quả của sự tôn trọng của chúng ta đối với quyền sở hữu đất đai, cho thấy sự thay đổi trong lối tư duy là rất cần thiết. Việc đầu tiên chúng ta nên cân nhắc là những cách tiếp cận mới đối với những người được đền bù đang bị cưỡng chế phải rời khỏi đất của ḿnh. Đă tới lúc để nghiên cứu các khả năng, lấy ví dụ, như đề nghị trao đổi những khu đất tốt hơn do nhà nước sở hữu lấy những khu cần cho việc xây dựng những tiện ích công cộng, và thiết lập một hệ thống giải thưởng cho việc hiến tặng những miếng đất như vậy, hoặc một hệ thống đền bù dài hạn trả góp hàng năm. Những công tŕnh sang trọng do công cộng quản lư, hoặc những khu nhà ở do chính phủ đầu tư, hoặc những mảnh đất trước kia của tập đoàn hỏa xa quốc gia có thể được xây dựng và bán với thời hạn ưu đăi cho những người đề nghị hiến đất của ḿnh. Thậm chí c̣n khả thi hơn là giải pháp tiếp cận dây chuyền đối với việc tiến hành mua khu đất trống nằm cạnh quận đang được phát triển hoặc nâng cấp, xây dựng ở đấy những khu nhà hiện đại và những tiện ích khác để đáp ứng đ̣i hỏi của những người đề nghị được chuyển đi, v.v.

Trong bất cứ trường hợp nào, thậm chí cả khi có những kiềm chế trên giá cả đất đai, việc mở rộng hệ thống giao thông hay nâng cấp các sân bay vẫn không thể làm được trừ phi t́m ra cách cư xử với những người vốn phải được di dời công bằng và thuận tiện trong tŕnh tự dài hạn. Trong khi đó, những chủ đất ngắn hạn chờ được lợi do đầu cơ phải không được cho phép thâu lợi. Tất nhiên, trong những trường hợp như vậy, việc cưỡng chế là chấp nhận được. Những vấn đề giao thông của đại đô thị là đủ mức nghiêm trọng để tiến hành những biện pháp như vậy.

Cách tiếp cận này có thể kỳ cục đối với lối suy nghĩ của ông bộ trưởng tài chính, nhưng số tiền đền bù thỏa đáng cho những người bị di dời hiển nhiên là cần thiết đế khiến họ bán mảnh đất phục vụ nhu cầu của cộng đồng. Đô thị về cơ bản là một nơi tập hợp con người tham gia các hoạt động kinh tế, nhưng những khía cạnh dân cư và văn hóa của đô thị phải được cân nhắc kỹ càng hơn so với cách làm hiện giờ trong bản quy hoạch đô thị.


: Hồi âm: Mỹ học đô thị Tokyo - Hỗn loạn và trật tự
: vnbooks 18/03/2008, 08:57

Một số nội dung trong cuốn sách
"Mỹ học đô thị Tokyo - Hỗn loạn và trật tự"

Tác giả : Yoshinobu Ashihara
Người dịch : Lư Thế Dân



Tokyo - thủ đô nước Nhật, thoạt nh́n có vẻ như thật hỗn loạn, và có rất nhiều người đồng t́nh với ư kiến rằng thành phố này lạc hậu so với các thủ đô khác trên thế giới về mặt quy hoạch và cảnh quan đô thị. Trong nhiều năm ṛng các nhà quy hoạch và kiến trúc sư nước ngoài hầu như không quan tâm tới các thiết kế và quy hoạch đô thị Nhật Bản. Măi cho đến gần đây, họ bắt đầu tự hỏi làm thế nào nước Nhật có thể đạt được sự phát triển kinh tế đáng ngạc nhiên kể từ thập niên 70 (của thế kỷ 20) và có thể liên tục đạt thặng dư thương mại trong khi bản thân người Nhật đang sống trong những môi trường đô thị trông vô cùng hỗn loạn mất trật tự. Cái bí mật ẩn giấu của vấn đề này là ǵ? Muộn c̣n hơn không, một làn sóng kiến trúc sư và các nhà quy hoạch đô thị đổ tới Nhật Bản để t́m hiểu kinh nghiệm đầu tay về những thành phố này. Rất nhiều điều kỳ diệu đang được thực hiện nhờ vào công nghệ và bí quyết sản xuất kỹ thuật cao, hệ thống truyền thông và thông tin liên lạc tuyệt hảo, hệ thống cấp nước vệ sinh và an ninh chất lượng cao của đô thị – tới mức cho phép uống nước trực tiếp từ ṿi nước và yên tâm đi bộ một ḿnh vào ban đêm trên đường phố.

Hiển nhiên rằng có rất nhiều yếu tố khác nhau tạo nên những thành công của Tokyo. Tuy nhiên, ở đây tôi xin chỉ tập trung vào hai điều: sự tồn tại của “văn hóa của sàn nhà”, tức một văn hóa truyền thống Nhật Bản xây dựng trên tập tục cởi giầy dép trước khi bước vào nhà, như được giải thích trong Chương 1, và một lịch sử xây dựng đô thị trên những mảnh, những rẻo đất nhỏ chắp vá nhiều hơn là một h́nh ảnh tổng thể được h́nh dung rơ ràng như ở các đô thị phương Tây. Nếu chúng ta đang xây dựng các đô thị hoàn hảo hơn cho tương lai, chúng ta cần thấu hiểu cái lịch sử và truyền thống này để lập nên một “trật tự kiểu Tokyo” mới, và điều này có nghĩa là phải t́m hiểu cái “mỹ học của sự hỗn loạn” mới mẻ mà bề ngoài có vẻ như làm lộn xộn toàn bộ tổ chức trật tự đô thị.

Mặt khác, Tokyo vẫn c̣n nhiều thiếu sót cần điều chỉnh trước ngưỡng cửa thế kỷ 21: điều chỉnh hợp lư hơn quyền sở hữu đất đai nhờ quy hoạch đô thị, cải thiện và trang bị hệ thống đường sá thông qua quy hoạch tổng thể mạng lưới giao thông, cải tạo, đổi mới việc quản lư sông ng̣i và kênh mương, tái lập mối liên hệ giữa khu ở và cộng đồng dân cư, và sửa lại xu hướng thương mại hóa quá mức trong phát triển đô thị. Tôi cũng đưa ra một số kiến nghị của bản thân về cách thức cải tạo vấn đề, kèm theo các so sánh với những đô thị nổi tiếng khác trên thế giới. Bản thân là một cư dân lâu đời của đại đô thị này, đôi lúc tôi ngờ rằng bí mật của sự phát triển kinh tế và cách tân văn hóa Nhật nằm ở sự hỗn loạn bề ngoài của Tokyo. Chúng tôi bắt đầu quan sát sự gia tăng của các xuất bản về những phương pháp tiếp cận mới với công nghệ “hỗn loạn” và thuật toán chia, và bất ngờ chúng tôi nhận thấy ḿnh đang bị đưa tới một thế giới vô hướng. Những khái niệm này diễn tả, không phải một cái nh́n rơ ràng hai mặt, thuần tuư trắng hay đen của thế giới, mà là một lối suy nghĩ khác cho phép có thể uyển chuyển, không cứng nhắc xây dựng nên cấu trúc của một trật tự.

Những ư tưởng song hành như sự hỗn loạn và thuật toán chia được t́m thấy, không phải tại những thành phố được quy hoạch rơ ràng từ đầu như Paris hay New York, mà tại chính Tokyo, nơi đă được t́m hiểu theo kiểu từng phần nhỏ riêng biệt. Tôi tin rằng những ư tưởng này nằm trong những ǵ được xem là thứ mỹ học mới của Tokyo, thể hiện ở trật tự giữa sự hỗn loạn. 

Yoshinobu Ashihara
(Lư Thế Dân dịch)


Sorry, the copyright must be in the template.
Please notify this forum's administrator that this site is missing the copyright message for SMF so they can rectify the situation. Display of copyright is a legal requirement. For more information on this please visit the Simple Machines website.