$txt['colorize_color'] = 'Color';$txt['HPlocation'] = 'Project Honey Pot (all regions)'; // MOD Quick PM $txt['quick_pm'] = 'Quick PM'; $txt['change_quick_pm'] = 'Change to Quick PM'; $txt['change_quick_reply'] = 'Change to Quick Reply'; $txt['send_message'] = 'Send message'; $txt['quick_pm_desc'] = 'With Quick-PM you can write a personal message when viewing a topic without loading a new page. You can still use bulletin board code and smileys as you would in a normal personal message.'; $txt['display_quick_pm'] = 'Enable Quick PM (requires enable Quick Reply)'; // MOD Auto Merge Double Post $txt['permissionname_doublePost'] = 'Allow to do Double Post'; $txt['permissionhelp_doublePost'] = 'By Enabling this will allow them to double post.'; $txt['AutoMergePost_div'] = 'Add text when merging the post'; $txt['AutoMergePost_div_sub'] = 'You can use BBC and $date variable'; $txt['AutoMergePost_time'] = 'Time after which it will allow the bump the topic'; $txt['AutoMergePost_time_sub'] = 'Time 0 to disable the MOD and 9999 for never allow bump'; // Aeva Media extra strings $txt['aeva_gallery'] = isset($txt['aeva_gallery']) ? $txt['aeva_gallery'] : 'Media'; $txt['aeva_home'] = 'Home'; $txt['aeva_unseen'] = 'Unseen'; $txt['aeva_profile_sum'] = 'Summary'; $txt['aeva_view_items'] = 'View items'; $txt['aeva_view_coms'] = 'View comments'; $txt['aeva_view_votes'] = 'View votes'; $txt['aeva_gotolink'] = 'Details'; $txt['aeva_zoom'] = 'Zoom'; $txt['permissiongroup_aeva'] = 'Aeva Media'; $txt['permissiongroup_simple_aeva'] = 'Aeva Media'; $txt['permissionname_aeva_access'] = 'Access Gallery'; $txt['permissionname_aeva_moderate'] = 'Moderate Gallery'; $txt['permissionname_aeva_manage'] = 'Administrate Gallery'; $txt['permissionname_aeva_access_unseen'] = 'Access unseen area'; $txt['permissionname_aeva_search'] = 'Search in Gallery'; $txt['permissionname_aeva_add_user_album'] = 'Add Albums'; $txt['permissionname_aeva_add_playlists'] = 'Add User Playlists'; $txt['permissionname_aeva_auto_approve_albums'] = 'Auto-approve Albums'; $txt['permissionname_aeva_moderate_own_albums'] = 'Moderate own Albums'; $txt['permissionname_aeva_viewprofile'] = 'View anyone\'s Gallery profile'; $txt['cannot_aeva_viewprofile'] = 'You cannot view Gallery profiles'; // End Aeva Media strings $txt['display_facebook_like'] = 'Display Facebook Like icon?'; $txt['display_facebook_like_desc'] = 'Enabling this will Display the Facebook Like Icon within posts.'; $txt['display_facebook_like_all'] = 'Display Facebook Like icon in all posts?'; $txt['display_facebook_like_all_desc'] = 'Enabling this will Display the Facebook Like Icon within all posts. Note Display Facebook Like Icon has to be enabled'; Lịch sử Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Ashui.com/Forum ashui
19/11/2019, 03:04  
27069 bài viết trong 10623 chủ đề bởi 205210 thành viên
Xem các bài viết mới trên diễn đàn.
Xin chào ! Bạn là khách. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký.

Đăng nhập với tên truy cập, mật khẩu và thời gian tự động thoát
VNArchitects.com
Chủ đề quan tâm: Để đăng kư thành viên, xin vui ḷng liên hệ: admin@ashui.com
 
   Trang chủ   Lịch sự kiện Thành viên Tìm kiếm Trợ giúp Đăng nhập Đăng ký  
Trang: [1]   Chuyển xuống
  In ấn  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội  (Đọc 8475 lần)
0 thành viên và 1 khách đang xem chủ đề này.
HoaVinh
Ashui-U
*


***Vĩnh phúc***
Gián tuyến Gián tuyến

Giới tính: Nam
Bài: 53

ktsvinhcom
Xem hồ sơ E-mail
« Trả lời #4 vào: 13/09/2007, 17:53 »

Bác hack thông tin đâu mà đầy đủ dữ vậy?
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Chúa không chơi tṛ gieo xúc xắc
Việt Khôi
Ashui-H
**


Hà Nội
Gián tuyến Gián tuyến

Giới tính: Nam
Bài: 327


Xem hồ sơ
« Trả lời #3 vào: 21/05/2007, 00:10 »

Khoá II được tuyển từ 2 nguồn: Bộ kiến trúc tổ chức ḱ thi tuyển cán bộ trong ngành, có 40 thí sinh trúng tuyển và thi tuyển năng khiếu trong sinh viên khoá VII trường Đại học Bách khoa, chọn 60 sinh viên.

Số cán bộ trong ngành trúng tuyền khoá II:

Nguyễn Văn Cát, Lữ Linh Châu, Trần Minh Châu, Bùi Danh Dương, Nguyễn Thành Đức, Vũ Văn Đức, Phạm Tấn Đạt, Nguyễn Quang Giao, Lê Thế Hách, Nguyễn Hiền, Lê Mạnh Hiền, Bùi Văn Hiệt, Hoàng Hữu Hiệt, Trương Đ́nh Hồng, Phan Hùng, Trần Ngọc Hùng, Đậu Xuân Huy, Nguyễn Khắc Huy, Lê Hương, Nguyễn Xuân Hựu, Nguyễn Đức Khoái, Vũ Thái Lộc, Hà Thế Luân, Phạm Phúc Lượng, Phạm Lưu, Trương Xuân Mai, Trần Đắc Ninh, Lê Phát, Nguyễn Văn Phú, Đỗ Hữu Phụ, Vơ Trọng Phượng, Nguyễn Thế Quế, Nguyễn Hữu Qú, Nguyễn Phúc Thành, Nguyễn Văn Tiến, Lê Hải Trừng, Chu Kim Tuyến, Nguyễn Đào Viên, Phạm Ngọc Xưởng, Nguyễn Bạch Yến...

Số sinh viên Đai học Bách khoa trúng tuyển khoá II:

Trần Quốc An, Ngô Bách, Thân Văn Bạn, Nguyễn Thiện Bảo, Vũ Quốc Bảo, Nguyễn Mạnh Chu, Nguyễn Đức Cường, Vũ Khắc Đôn, Nguyễn Khắc Đạt, Trần Tiến Đạt, Nguyễn Văn Đính, Phạm Lê Đức, Bùi Vinh Hạnh, Trần Hiển, Lê Đ́nh Hiệp, Trần Gia Khiêm, Phan Trọng Khiêm, Nguyễn Địch Long, Phạm Khắc Lộc, Ngô Thế Luân, Đặng Minh, Đoàn Thị Mỹ, Phạm Vũ Mỹ, Đào Ngọc Nghiêm, Đỗ Văn Ngoă, Phạm Cao Nguyên, Đào Nguyễn, Hoàng Minh Nhuận, Trần Thị Ninh, Nguyễn Huy Phách, Mạc Kính Phong, Vũ Quang Phú, Nguyễn Thanh Phúc, Trần Phùng, Trần Ngọc Quang, Cao Sĩ Quế, Đàm Văn Sức, Trần Văn Tam, Phan Minh Tâm, Vũ Minh Tân, Nguyễn Quốc Thái, Vũ Trọng Thanh, Nguyễn Hữu Thành, Phạm Hữu Thăng, Hà Văn Thọ, Trần Xuân Toản, Nguyễn Thế Truyền, Trịnh Đức Tuấn, Lê Vinh, Nguyễn Hồng Việt.

số sinh viên lớp trên chuyển xuống:

Nguyễn Ngọc Đính, Nguyễn Thị Đông, Bùi Minh Đức, Nguyễn Thúc Nhương, Trần Đông Rạng,

Lê Tử Ḱ (từ trường ĐH kiến trúc Mascva chuyển về).

Khoá II có một số thuận lợi hơn khoá l. Trước hết là việc khai thác những kinh nghiệm từ khoá l. Mặt khác, bên cạnh các thày giáo lâu năm, có bổ sung một lực lượng thày giáo trẻ mới được tiếp cận với xu hướng kiến trúc hiện đại có tư duy mới mẻ. Những yếu tố này tác động tốt đến học tập, rèn luyện tài năng sáng tác của sinh viên. Thời gian khoá học cũng 4,5 năm. Đầu học ḱ VIII khoá II được phân ngành tương tự khoá l: 50 sinh viên kiến trúc dân dụng, 25 sinh viên kiến trúc công nghiệp, 25 sinh viên qui hoạch đô thị và nông thôn.

Lễ tốt nghiệp của khoá II cũng được tổ chức trang trọng và đông khách dự. Đề tài tốt nghiệp là những công tŕnh giả định. Nội dung đồ án, phong cách thể hiện và mầu sắc dùng rất phong phú. Có Pḥng trưng bầy đồ án. Hội trưởng bảo vệ được trang trí hoa văn rực rỡ. Trước Hội trường có cổng chào kết bằng lá cọ. Mừng thành công có mở tiệc ăn tươi nhờ kết quả chăn nuôi của nhà bếp và sinh viên. Buổi tối kết thúc có liên hoan văn nghệ ''cây nhà lá vườn" mừng các bạn tân khoa, rất vui. Thày Tạ Mĩ Duật hứng khởi xướng lên một điệu ca trù. Thày Trần Hữu Tiềm và ai đó đế thêm tiếng phách tiếng đàn miệng. Các thày đă có tuổi nhưng không một ai câu nệ, cùng hát cùng vui. cùng đều nhởn nhơ cảm khoái. Phối cùng nhau, tất cả âm hưởng đều được phát ra từ miệng. Kẻ tung người hứng, kẻ xướng người hoạ, rôm rả.

Thật là:

...T...rách, tách tách..'', tiếng phách rộn ràng gơ nhịp,

... ''Phưng, phừng, phưng tiếng đàn Đáy khi nhấn, lúc dồn,

...''Tom, chát, tom'', tiếng trống chầu đĩnh đạc điểm khổ, điểm câu.


                                                                                   (Lê Vân)

Không khí vui chen vào buổi liên hoan như vậy đấy. Nay chắc không thể có cái cảnh như thế nữa.

Số Kiến trúc sư khoá II có nhiều thành công trong sáng tác:

Ngô Bách, Lê Hiệp (Lê Đ́nh Hiệp), Trần Gia Khiêm, Trần Thị Ninh, Đoàn Thị Mĩ, Đào Nguyễn, Trần Quốc An, Nguyễn Huy Phách, Nguyễn Thanh Phúc, Trần Phùng, Vũ Quốc Bảo, ..

Số Kiến trúc sư khoá II trưởng thành trong quản lí ngành cấp trung ương, tỉnh thành, công ty:

Bùi Danh Dương, Trần Hiển, Hoàng Hữu Hiệt, Nguyễn Địch Long, Trương Xuân Mai, Đặng Minh, Đào Ngọc Nghiêm, Phạm Cao Nguyên, Hoàng Minh Nhuận, Nguyễn Huy Phách, Vũ Quang Phú, Vơ Trọng Phượng, Nguyễn Thế Quế, Trần Tam, Trần Thanh, Nguyễn Phúc Thành, Hà Văn Thọ, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Đào Viên, Nguyễn Đức Khoái,...

Lớp Đại học Kiến trúc cũng được Bộ giao quản lí và đào tạo khoá l tại chức kiến trúc (1962 - 1967), có 30 sinh viên.

Sinh viên Kiến trúc tại chức khoá l:

Nguyễn Văn Ái, Nguyễn Văn Ấm, Nguyễn Đức Ảnh, Bùi Bốn, Lê Ngọc Chấn, Nguyễn Minh Châu, Trần Văn Dưỡng, Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Quốc Giáo, Đặng Đ́nh Giáp, Trần Minh Hoà, Lê Nguyên Hồng, Lê Văn Huy, Tô Thế Khải, Phạm Thị Ngọc Lai, Nguyễn Thuư Lăng, Nguyễn Văn Lập, Lê Thị Ngọc Liên, Trương Chí Lượng, Trịnh Kim Như, Bế Kim Nương, Nguyễn Thế Phiệt, Nguyễn Đ́nh Phúng, Nguyễn Như Sơn, Hồ Văn Tám, Nguyễn Thi, Phan Công Thức, Bùi Đức Tính, Lê Tri, Trịnh Hồng Triển, Lê Minh Triết, Nguyễn Xuân,

Sinh viên khoá tại chức này là những cán bộ tốt nghiệp Trung cấp kiến trúc khoá VII, khoá VIII (1955 - 1958, 1956 - 1959) đang công tác tại Viện Thiết kế của Bộ và Hà Nội. Do chế độ học tại chức với ngành kiến trúc, Ban Lănh đạo đă chỉ đạo chặt chẽ việc tổ chức học tập và bố trí giáo viên nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo. KTS. Vũ Tam Lang là Giáo viên Chủ nhiệm của lớp này.

KTS. Vũ Tam Lang tốt nghiệp Kiến trúc sư tại Trường Đại học Thanh Hoa - Bắc Kinh năm 1961, về trường năm 1962. Những năm đầu ông giảng dạy môn Cơ sở Kiến trúc, được sinh viên các lớp ngưỡng mộ về sự hiểu biết kiến trúc phương Đông và tài vẽ màu nước. Đầu năm 1967 ông được đi thực tế tại Viện Thiết kế kiến trúc dân dụng. Năm 1970 Ông trở lại Trường. Năm 1974 Ông là Phó Chủ nhiệm Khoa Kiến trúc. Ông đă thực tập giảng dạy tại Pháp. Ông là người xây dựng môn học Lịch sử kiến trúc Việt Nam, là tác giả cuốn sách ''Kiến trúc Cổ Việt Nam'' được xuất bản năm 1991. Ông được phong hàm Phó Giáo sư và danh hiệu Nhà giáo Ưu tú. Ông sống vô tư, thưởng làm thơ, đọc thơ, cả thơ vui.

Trên bản vẽ tô màu kiến trúc,

Cả cuộc đời đậm nhạt theo lên.

Vàng tươi phải đặt đỏ nền,

Tím hoa, xanh lá hồng chuyên đẹp đời.

...

Bầu trời Đông, b́nh minh hừng nắng ấm,

Rộn ră ḷng tôi nghe tiếng gọi xuán về.

Con chím non lớn bởi lúa đồng quê,

Đoá hoa nở v́ hứng tia ánh sáng.

...

Gầy cũng chả gầy, béo chả béo,

Trông tạng người chỉ bạc nhạc thôi.


Nghỉ hưu Ông vẫn tham gia giảng dạy đại học và cao học, viết bài về kiến trúc cho các báo.

Những năm sơ tán ở Phú Thọ, phong trào văn hoá văn nghệ trong cán bộ và sinh viên khá phong phú và sinh động, đă thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt, v́ học sinh thân yêu.

Có nhiều hoạt động bổ ích như: Triển lăm tranh của Hoạ sĩ Trần Tía đi thực tế Thanh Hoá; cuộc thi thơ trong giáo viên, với các Nhà thơ Quí Khoa, Tam Lang, Ngọc Thanh,..; những đêm diễn của CBCNV với vở kịch ''Ra đa con rệp'' có Thày Hội, Thày Thọ là diễn viên, có tốp ca của Chi đoàn giáo viên với bài ''Bói hoa'' do Thày Hội phổ nhạc bài thơ của Đoàn Lê,... Phong trào trong sinh viên cũng sôi nổi, mỗi lớp mở một đêm diễn: 65K có xiếc, 66K có ca kịch. Tất cả đều tuyệt vời. Nhân dân địa phương tới xem rất đông. Không khí trưởng lớp nơi sơ tán trở nên vui nhộn, quên đi những khó khăn vật chất.

Kết quả này phản ánh rơ trong thành tích giảng dạy của giáo viên và học tập của sinh viên các khoá IV, V, VI hệ dài hạn, Khoá l hệ chuyên tu kiến trúc. Đặc biệt là kết quả đồ án tốt nghiệp của các khoá l, II hệ dài hạn, và khoá l hệ tại chức kiến trúc.

Nơi sơ tán càng nổi bật sự tận t́nh giảng dạy của thày gíáo. Một trong những tấm gương tiêu biểu là KTS. Đoàn Văn Minh - một Giảng viên cao tuổi của Bộ môn Kiến trúc. Mỗi buổi có giờ lên lớp, khi sương mù c̣n bao toát đă thấy thày ngồi trước bục giảng chờ sinh viên đến thông qua đồ án. Không quản tuổi cao lại bị hen xuyễn măn tính, thày mang hết sức ḿnh truyền đạt kiến thức và kinh nghệm cho các thế hệ sau. Có lần sau buổi hướng dẫn đồ án (tốt nghiệp), vừa qua hai ngọn đồi về đến nhà, chưa kịp ăn, Thày vội quay lại lớp, lại qua 2 ngọn đồi, gặp lại sinh viên của ḿnh. Thày hổn hển nói: Tôi nói lại chỗ này chỗ kia nên làm thế này.. Lúc năy tôi nói chưa rơ, sợ anh em mất công, nên tôi quay lại nói kĩ hơn. Bấy giờ Thày mới yên tâm ra về, lại qua 2 ngọn đồi, ḷng vui quên mệt. Các tṛ vẫn không quên câu nói khiêm nhường và dứt khoát: "Không ai người ta làm thế đâu cậu ạ", Thày thưởng tâm t́nh với các bạn trẻ: ''Làm kiến trúc phải lao tâm khổ tứ, khóng thể hời hợt. Một bức tranh, một pho tượng,... nếu không đạt có thể bỏ đi làm lại. Một công tŕnh không đạt không dễ ǵ phá bỏ, tốn tiền của, cái xấu tồn tại hàng trăm năm. Tôi thành thật khuyên các tṛ ai không đủ chí, theo nghề không chuyên tâm học hành, th́ nên sớm chuyển học ngành khác. Như thế đỡ hận cho ḿnh và hoạ cho xă hội!..''. Nhiều śnh viên từ khóa l đến khoá VII vẫn khắc sâu trong tâm trí h́nh ảnh thày - một ông già dáng cao mảnh khảnh, trán cao và rộng mắt sâu lắng đầy suy tư, ít nói nhưng sâu sắc và thẳng thắn. Lúc nào cũng chỉ với bộ cánh trắng giàn dị, chiếc gậy mộc trên tay, chiếc đồng hồ quả quít gài trên ngực, bước đi châm răi, vừa đi vừa thở hổn hển, lúc lẩn khuất trong sương sớm, lúc nghiêng nghiêng trong ráng chiều trên sườn đồi Ma cải Thuỵ Vân.

Giữa cán bộ, nhân viên với thày giáo và sinh viên như những người thân. Đặc biệt chúng ta ghi nhớ nghĩa t́nh của anh chị em nuôi cả một chặng đường từ Phúc Xá đến Hà Đông. Chị em nào cũng nặng gánh gia đ́nh, con nhỏ, chồng ở xa, nhưng đều rất thông cảm với thày tṛ học hành vất vả. Những buổi lên lớp quá giờ, đi công tác về muộn, thế nào các chị cũng để giành cơm chu tất. Đội quân bền bỉ này đă đi suốt với trường trên mọi nẻo đường sơ tán đến ngày thắng lợi.

...

Nhưng em ơi có thể nào quên,

Đồi cọ Trung du, những chị dịu hiền,

Bên bếp lửa suốt ngày cặm cụi,

Lửa vă mồ hôi mắt mờ than bụi,

Quên cả thân ḿnh, quên cả con thơ,

Quên cả miếng ăn quên cả th́ giờ,

Thổi cho cơm ngon, nấu nồi canh ngọt.

Em ăn ngon chị ngời lên ánh mắt

Em vơ vàng chị ái ngại lo âu.

Tự sớm tinh mơ, công việc ngập đầu

Trời sập tối, chị giong đèn làm cá.

Đồi gập ghềnh trong những đêm lạnh giá,

Chợ xa về đầy thịt cá rau xanh.

Có nhớ không em, những bát cháo hành,

Đậm thắm t́nh người, khi ốm yếu.

Nơi xa dù say sưa nhịp điệu

Sắp xếp khối h́nh ô kính tường ngăn,

Đừng v́ đường xa, sông núi khó khăn,

Mà quên gửi lời thăm các chị.


Trích trong bài Nhắn nhủ (1967) của HS. Đặng Quí Khoa

T́nh cảm quí giá này như chất keo gắn kết một tập thể mạnh mẽ, vượt qua nhiều gian khổ, đưa nhà trường tiến lên trong những năm sáu mươi, bẩy mươi .

Thầy giáo Hoạ sỹ Đặng Quư Khoa được viên các khoá ngưỡng mộ về tài năng và phương pháp giảng dạy. Tuỳ đối tượng sinh viên khá, trung b́nh hay yếu, Ông có phương pháp dạy thích hợp. Ông coi trọng việc giảng lư thuyết kết hợp làm mẫu. Sinh viên được Ông hướng dẫn đều tiến bộ nhanh. Ông thuộc lầu văn hoá Đông - Tây. Những dẫn chứng dí dỏm của Ông trong các cuộc trao đổi nghệ thuật hoàn toàn chinh phục người nghe. Không chỉ giới hạn trong việc dạy vẽ, Ông c̣n quan tâm đến việc giáo dục ḷng say mê nghề nghiệp cho sinh viên. ông khuyên nhủ, góp ư nhẹ nhàng mang tính triết lí, tư vấn khi họ gặp trắc trở trong cuộc sống. Nghe Ông nói, họ như được thuốc tiên giảm hết phiền muộn. Năm 1984 Ông chuyển về Trường Đại học Mĩ thuật, được đề bạt làm Chủ nhiệm Khoa Lí luận, và được phong hàm Phó Giáo sư. Ông vẫn về thăm Trường Kiến trúc và thường xuyên gặp gỡ các lớp tṛ cũ của ḿnh.

II.5. Trở thành Khoa Kiến trúc đô thị Trường Đại học Xây dựng (10.1967 - 8.1969)

Năm 1966, Nhà nước thành lập Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Một loạt Trường Đại học mới ra đời, trong đó có Trường Đại học Xây dựng. Theo đề nghị của Bộ Đại học và TH chuyên nghiệp, tại cuộc họp Chính phủ ngày 7/6/1967, Chính phủ đă quyết định việc nghiên cứu sát nhập Lớp Đào tạo Kiến trúc sư vào Trường Đại học Xây dựng.

Ngày 2/8/1967, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và Bộ kiến trúc đă thảo thuận về nội dung và nguyên tắc bàn giao:

1) Bàn giao toàn bộ CBGD, CB lănh đạo, quản lí và phục vụ lớp Kiến trúc sư, toàn bộ sinh viên đang học ờ trường và sinh viên tuyển cho năm học 1967 - 1968, toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị của lớp kiến trúc sư cho Bộ Đại học và THCN.

2) Bàn giao chỉ tiêu biên chế năm 1967, chỉ tiêu tuyển sinh năm học 1967 - 1968, kinh phí năm 1967 của lớp Kiến trúc sư cho Bộ Đại học và THCN.

3) Thời gian bàn giao cần tiến hành khẩn trương bảo đảm kịp khai giảng vào đầu năm học 1967 - 1968.

Tháng 11.1967 đă hoàn thành việc bàn giao và di chuyển Lớp Đại học Kiến trúc trở thành khoa Kiến trúc Đô thị Trường Đại học Xây dựng. KTS. Nguyễn Nghi Chủ nhiệm khoa đầu tiên.

Khoa có 5 Bộ môn: Mĩ Thuật, Vật lí Kiến trúc, Kiến trúc dân dụng, Kiến trúc Công nghiệp, Qui hoạch Đô thị và Nông thôn.

Tổ trưởng các Bộ môn như sau:

Mĩ thuật: HS. Đặng Quí Khoa.

Vật lí Kiến trúc: TS. Phạm Ngọc Đăng

Kiến trúc dân dụng: KTS. Đoàn Văn Minh

Kiến trúc Công rlghiệp: TS. Hoàng Huy Thắng

Qui hoạch đô thị - nông thôn: KTS. Khổng Toán

Tại thời điểm này, khoa có 30 cán bộ giảng dạy.

Khoa Kiến trúc đô thị đào tạo 2 ngành chính: Kiến trúc sư và kĩ sư đô thị.

Ngành Kiến trúc có trên 180 sinh viên, gồm các lớp 63K, 64K, 65K, 66K, 67K, CT.66K. Ngành Đô thị có trên 120 sinh viên, gồm các lớp 64Đ, 65Đ, 66Đ, 67Đ. Năm học 1968 - 1969, qua ḱ thi năng khiếu tuyển được 80 sinh viên ngành kiến trúc - qui hoạch, trong số sinh viên đă được vào học Trường Đại học Xây dựng. Sinh viên khoá này được phiên chế thành 2 lớp 68K, 68Q.

Khoa sơ tán tại các làng Mai Thôn, Thuỷ Thôn, Măo Thôn, thuộc xă Chi Lăng, huyện Quế Vơ, tỉnh Hà Bắc. Đây là vùng quê ven sông Đuống, nơi có nhiều địa chỉ văn hoá kiến trúc xưa: Núi Thiên Thai, Bến Tiểu Than, Chùa Dâu, Chùa Bút Tháp, Chùa Phật Tíịch, Làng Đ́nh Bảng,...

Thực hiện phương thức vừa học vừa làm, Thày tṛ đă đóng góp nhiều phưng án qui hoạch nông trường, nông thôn mới (Lương Sơn Hoà B́nh, Việt Hùng Quế Vơ, Trác Bút Duy Tiên, ...). Thày giáo Trần Tía đă dựng tượng đài chiến thắng Cầu Đào cho địa phương.

Số cán bộ giảng dạy cơ bản, ngoại ngữ, chính thị và kết cấu từ Lớp Đại học kiến trúc chuyển về được phiên chế sang các khoa khác. Anh chị em vẫn được bố trí dạy ngành Kiến trúc đô thị và các khoa khác.

Các khoa của Trường Đại học xây dựng sơ tán trong các làng xóm dọc hai bờ sông Đuốg từ Mai Thôn Chợ Ch́ đến Cầu Đào Tiểu Than Gia Lương, xa tới 20km. Với chiếc xe đạp giă chiến, hàng ngày các thày đi đến các khoa truyền kiến thức cho sinh viên, không nề vất vả mệt nhọc. Trên đường đi dạy học, Nhà giáo Dương Tiến Thọ tức cảnh viết một bài thơ gửi bạn đồng nghiệp, để cảnh và t́nh người hồi ấy lưu đọng măi:

...

Sông uốn khúc đường xa theo khúc,

Bánh xe ṃn lóc cóc trên dường,

Đường mưa đường gió đường sương,

Mắt mờ ngoái lại, mơ màng t́m ai.
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Những doanh nhân chân chính luôn luôn nghĩ đến sự nghiệp, nghĩ đến những cộng sự và nghĩ đến đất nước. Vật chất chỉ là phương tiện để doanh nhân hoàn thành sứ mệnh của ḿnh.
Việt Khôi
Ashui-H
**


Hà Nội
Gián tuyến Gián tuyến

Giới tính: Nam
Bài: 327


Xem hồ sơ
« Trả lời #2 vào: 21/05/2007, 00:10 »

lI.4. Lớp Đào tạo Kiến trúc sư chuyển về Phúc Xá, Ba Đ́nh Hà Nội.

Số lượng sinh viên Kiến trúc ngày một tăng, trong khi trang thiết bị học tập cho sinh viên có tính đặc thù, nên chi phí học cụ, học phẩm cho sinh viên kiến trúc tốn kém hơn các ngành khác. Để bảo đảm chất lượng đào tạo, bên cạnh những yếu tố về nội dung, chương tŕnh, phương pháp đào tạo, về đội ngũ cán bộ giảng dạy, Bộ Kiến trúc chủ trưng giải quyết tối ưu về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cung cấp toàn bộ nhu cầu học cụ, hoạ phẩm cho sinh viên. Lớp Đào tạo Kiến trúc sư cần có một cơ sở đủ giảng đường, xưởng vẽ mĩ thuật, xưởng thiết kế, nhà ở nhà ăn tập thể, sân băi cho hoạt động ngoại khoá. Trong khi chờ xây dựng một khu trường hoàn chỉnh (đă có qui hoạch đặt bên cạnh Viện Kĩ thuật Xây dựng tại Nghĩa Đô), Bộ sắp xếp di chuyển Trường Văn hoá nghiệp vụ của Bộ sang Gia Lâm, dành cơ sở Phúc Xá, lên khuôn viên 4ha, giao cho Lớp Đào tạo Kiến trúc sư sử dụng.

Tháng 10.1963, sau khi thoả thuận với Bộ Giáo dục, Bộ kiến trúc có văn bản số 1552/BKT ngày 16.10.1963, chuyển Lớp Đào tạo Kiến trúc sư từ Trường Đại học Bách khoa về cơ sở thuộc Băi Phúc Xá khu Ba Đ́nh, Hà Nội.

Từ đây, Lớp Đào tạo Kiến trúc sư được mang tên là Lớp Đạí Học Kíến trúc, là đơn vị cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ kiến trúc, hoạt động độc lập, do Ban Lănh đạo lớp điều hành.

KTS. Nguyễn Nghi là cấp Phó Thủ trưởng, song thực tế Ông là người Lănh đạo thường trực, người đứng mũi chịu sào hàng ngày của đơn vị. Ông có nhiều công sức tạo dựng và chèo lái Lớp Đại học Kiến trúc vững bước đi lên trong những năm 1961 - 1967.

Ngay khi c̣n đương nhiệm Phó Chủ nhiệm công ty Kiến trúc Việt Tŕ, ̣ng đă được Bộ điều động tháp tùng KTS. Nguyễn Cao Luyện đi khảo sát đào tạo Kiến trúc sư tại Trung Quốc. Khi về Bộ, Ông được giao nghiên cứu chương tŕnh, kế hoạch đào tao Kiến trúc sư theo khung 3,5 năm. Ông được làm việc với GS.AM. Prikhốtcô, nghiên cứu xây dựng lại kế hoạch đào tạo với khung thời gian 4,5 năm. Tiếp đó Ông lại nghiên cứu xây dựng kế hoạch chất lượng cao với khung 5,5 năm, áp dụng từ khoá IV trở về sau. Các bản kế hoạch này c̣n lưu lại, rất toàn diện, hợp lí. Khi lên lớp hướng dẫn đồ án cho sinh viên, hoặc khi thảo luận chấm đồ án trong nhóm giảng viên, Ông thường bảo vệ việc vận dụng phương châm thiết kế hiện hành, những nguyên tắc về điều kiện tiểu khí hậu và khuyến khích xu hướng dân tộc. Ông chuyên tâm công tác chuyên môn, và đặc biệt say sưa với kiến trúc dân gian. Căn nhà !ám việc và nhà ăn cán bộ tại Thuỵ Vân bằng tre trúc, mái lá cọ, với hàng cửa sổ chấn song trúc, cánh cửa bằng tre đan,.. đẹp giản dị, thoáng mát, do chính Ông chỉ đạo Tổ quản trị thực hiện.

Giờ đây, những cán bộ, sinh viên lớp Đại học Kiến trúc thời đó hẳn không quên người Thủ trưởng giản dị nhưng rất nghiêm túc trong bộ âu phục màu xanh chàm. Khi đi giải quyết công việc, dáng đi vội vă, nét mặt suy tư, như không để phí một chút thời gian nào. Khi gặp làm việc với cán bộ sinh viên, bao giờ Ông cũng đưa tay ra chào đón hoặc đưa tiễn, và bắt tay trịnh trọng người khách của ḿnh. Khi ở Phúc Xá cũng như khi sơ tán lên Phú Thọ, anh em thấy Ông làm việc cả ngày, có khi cả buổi tối, để xử lí hết công việc: nào lên lớp cho sinh viên, nào nghiên cứu chương tŕnh kế hoạch, rồi làm việc với cán bộ nhân viên trong đơn vị, tiếp cán bộ các lớp, Ông thường lên Bộ làm việc hoặc đi họp xa với chiếc xe đạp cũ kĩ. Thấy mấy Thày giáo trẻ đọc Thơ Đường, Ông tâm sự là cũng từng thích thơ Đường, nay nhiều việc quá không c̣n th́ giờ đọc. Ông kể lại cho các bạn trẻ về sự tích bài thơ: "Tích niên kim nhật thử môn trung/ nhân diện đào hoa tương ánh hồng/ nhân diện bất tri hà xứ khứ/ đào hoa y cựu tiếu Đông phong''.

Ông là một trí thức trẻ tham gia kháng chiến, là đảng viên lớp 6.1 (1958 - 1959), là đương kim Đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá III (1960 - 1976). Ông nói chuyện rủ rỉ, chậm răi. Trong sử lí công việc, ̣ng tranh thủ ư kiến tập thể lănh đạo, ít tự quyết đoán, đôi lúc dè dặt với mọi người. Ông ít kiên tŕ mạnh dạn bầy tỏ nhưng vấn đề liên quan đến bản thân, dễ bị hiểu lầm. Trong công tác quản lí, Ông thực hiện nghiêm túc nội qui qui chế, không nể nang xuê xoa trong những trường hợp sinh viên phải lưu ban, thôi học.

Cơ sở tại phúc Xá có thể đảm bảo cho qui mô đào tạo 250 sinh viên hệ chính qui, 100 sinh viên hệ chuyên tu, 100 sinh viên hệ tại chức (tính theo số sinh viên có mặt tại trường). Bộ máy giúp việc cho Ban Lănh đạo có Tổ Giáo vụ và Tổ hành chính tổ chức.

Tổ Giáo vụ có KS. Nguyễn Đức Bân (Tổ trưởng), CN Nguyễn Ngọc Th́n, Phan Thị Kiều Loan, Nguyễn Văn Toả,  Nguyễn Thị Đức Kiến.

Tổ Hành chính tổ chức có: Nguyễn Minh Lí (Tổ trưởng), Nguyễn Văn Oanh, Hà Văn Ân, Nguyễn Thị Kim Cát, Nguyễn Thị Tính, Nguyễn Khắc Tịnh, Hà Văn Can, Y tá Trần Văn Thiệu.

Trường có nhà ăn tập thể do Ông Nguyễn Văn Tiệp làm quản lí. Một đội ngũ chị em cấp dưỡng do Trường Văn hoá nghiệp vụ để lại gồm các chị Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Minh Vũ Thị Nam, Nguyễn Thị Hồi, Nguyễn Thị Sáu, Nguyễn Thị Thành, Nguyễn Thị Y...

Cán bộ giảng dạy từ 18 thày năm 1964, tăng lên 36 thày năm 1967. Bên cạnh đó có đội ngũ dạy kiêm chức trên 15 người. Bước đầu có hai Bộ môn: Bộ môn Văn hóa kĩ thuật và Bộ môn Kiến trúc.

Bộ môn Văn hóa kĩ thuật có:

KS. Lê Văn Nội, Tổ trưởng (1963-1966), dạy Sức bền vật liệu.

KS. Nguyễn Đức Bân, Tổ trường (1966 -1967), dạy Sức bền vật liệu.

CN. Hoàng Doanh, dạy Toán

KS. Dương Tiến Thọ, dạy H́nh hoạ

KS. Nguyễn Văn Tợ, dạy Vật liệu xây dựng.

CN. Nguyễn Ngọc Th́n, dạy Cơ Lí thuyết

KS. Dương Văn Cánh, dạy Cơ học kết cấu.

KS. Nguyễn Khánh Hội, dạy Kết cấu công tŕnh.

KS. Nguyễn Anh Châu, dạy Kĩ thuật thi công.

KS. Nguyễn Ngọc Thanh, dạy Tổ chức & kế hoạch xây dựng

CN. Nguyễn Huy Thanh, dạy Ngoại ngữ.

Đồng chí Lê Vân dạy Triết - Mĩ học Mác - Lê nin.

Đồng chí Lê Thức dạy Kinh tế chính trị và Lịch sử Đảng.

Bộ môn Kiến trúc gồm có:

KTS. Đàm Trung Phường, Tổ trường (1963-66) dạy nguyên lí và đồ án qui hoạch đô thị.

KTS. Khổng Toán, Tổ trưởng (1966 - 1967) dạy nguyên lí và đồ án qui hoạch đô thị.

KTS. Đoàn Văn Minh dạy nguyên lí và đồ án kiến trúc.

KTS. Đoàn Ngọ dạy cấu tạo và đồ án kiến trúc.

KTS. Nguyễn Nghi dạy đồ án kiến trúc.

KTS. Vũ Tam Lang dạy cơ sở kiến trúc và đồ án kiến trúc.

KTS. Huỳnh Lẫm dạy nguyên lí và đồ án kiến trúc.

KTS. Nguyễn Thế Bá dạy nguyên lí và đồ án qui hoạch đô thị

Hoạ sĩ Đặng Quí Khoa dạy môn Vẽ Mĩ thuật.

Cán bộ giảng dạy kiêm chức:

KTS. Hoàng Như Tiếp, KTS. Trần Hữu Tiềm, KTS. Hoàng Linh, TS.KTS. Vương Quốc Mĩ, KTS. Dương Hi Chấn, KTS. Vơ Thuộc, KTS. Nguyễn Trực Luyện, KTS. Trịnh Nhưng, KTS. NguyễnKim, KTS. Trần Trọng Trí, KS. Vũ Đức Thận, KS. Nguyễn Tại, KS. Trần Văn Mô, KS.Nguyễn Học Văn, KS. Phạm Đ́nh Biều, KS. Nguyễn Kí, ...

Về Đoàn thể, Lớp Đại học kiến trúc có một Liên chi bộ thuộc Đảng bộ Bộ Kiến trúc. Đoàn Thanh niên LĐVN trực thuộc Đoàn TNLĐVN Bộ Kiến trúc. Công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Bộ Kiến trúc. Ban đầu (1963), Liên chi Đảng có 51 đảng viên, gồm 1 chi bộ cán bộ (8 đảng viên) và 3 chi bộ sinh viên (43 đảng viên). Năm 1967, Liên chi đảng có 50 đảng viên, gồm 1 chi bộ cán bộ (24 đảng viên) và 4 chi bộ sinh viên (26 đảng viên).

Trong những năm này, Phó ban Lănh đạo Lê Hoàng Long được bầu làm Bí thư Liên chi Đảng (1963 - 1967). Ông Nguyễn Minh Lí là Thư kí Công đoàn (1963 - 1966). Bí thư Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam là sinh viên khoá l Vũ Đức Đảm (1963 - 1965) và sinh viên khoá Il Nguyễn Thế Quế (1965 - 1967).

Lớp học, xường vẽ, nhà làm việc, nhà ở, nhà ăn,...tuy là công tŕnh cấp 4, nhưng rộng răi thoáng mát. Điều kiện sinh hoạt, học tập của sinh viên được cải thiện nhiều. Mỗi lớp sinh viên có một xưởng đồ án riêng. Trong xường, mỗi sinh viên có một bàn thiết kế với hộc bàn có khoá riêng. Kèm theo, mỗi sinh viên có thêm 1-2 bảng vẽ to, 1-2 bảng vẽ nhỏ (planchette)) đủ thước chữ T và một bộ ê ke. Giấy can, giấy in báo và giấy vẽ dùng cho việc nghiên cứu sơ phác t́m ư, thể hiện đồ án, được cấp đủ cho sinh viên theo từng bài tập đồ án. Không khí học tập nghiên cứu sáng tác chuyển biến rất tốt. Sau giờ học lí thuyết, sinh viên luôn có mặt tại xướng thiết kế, kết quả học tập tiến bộ nhanh.

Khi giao nhiệm vụ thiết kế, thày giáo chủ tŕ kết hợp giảng nguyên lí thiết kế loại công tŕnh tương ứng. Sinh viên được tham quan công tŕnh, và đọc sách xem tạp chí tại thư viện trường để thu thập tư liệu liên quan. (sách chuyên đề, tạp chí kiến trúc các nước Liên xô (cũ), Trung quốc, Đức, Rumani, Ba Lan, Tiệp, Bungari, Pháp).

Thày giáo hướng dẫn đồ án theo Tổ học tập. Mỗi tuần có 2 đến 3 buổi học đồ án (10 - 15 tiết). Mỗi buổi, thày gặp từng sinh viên, kiểm tra, góp ư sửa chữa và vạch hướng nghiên cứu tiếp, cho đến khi hoàn chỉnh đồ án.

Đồ án được thể hiện tập trung tại Xưởng, giúp cho sinh viên học hỏi lẫn nhau từ nội dung đến phương pháp thể hiện. Sinh viên thường góp ư phương án lẫn nhau, giúp sửa chữa mảng cây, chữ viết. Tuyệt nhiên không có t́nh trạng làm giúp - vẽ hộ. Những đồ án có nhiều bản vẽ, sinh viên thường phải làm cả ban đêm. Các đồ án chuyên ngành, bên cạnh thày giáo kiến trúc, c̣n có các thày giáo kĩ thuật như kết cấu, thi công, vật lí kiến trúc, điện nước, giao thông... Các thày họp thống nhất nhiệm vụ, yêu cầu, và phương pháp hướng dẫn.

Việc chấm đồ án là nhiệm vụ của Bộ môn. Đồ án của sinh viên được treo trên xưởng để các thày trong Bộ môn xem kĩ, chỉ ra những điểm tốt, điểm chưa tốt; rồi thảo luận, đánh giá, cho điểm. Đôi khi có những cuộc tranh luận khá căng thẳng giữa các thày giáo trong nhóm chấm bài. Khi trả bài, thày giáo phân tích từng bài của sinh viên. Qua mỗi đồ án, sinh viên tiếp thu được một lượng kiến thức mới, có tiến bộ vững chắc.

Khi tách ta khỏi Thường Đại học Bách khoa, chỉ có khoá l và khoá II (1961, 1962), gồm trên 200 sinh viên chuyển về băi Phúc Xá. Khoá III 30 sinh viên thuộc chỉ tiêu của Đại học Bách khoa nên được đào tạo tiếp tại khoa Xây dựng. Năm học 1964, Lớp Đại học kiến trúc tuyển 25 sinh viên khóa IV. Các năm sau: khoá V, khoá Vl, khoá VII, chỉ tiêu ổn định cho mỗi khoá 40 sinh viên. Việc thi tuyển theo qui chế chung của Bộ Giáo dục, với 4 môn thi: Toán, Vật lí, Làm Văn, Vẽ Mĩ thuật.

Từ năm thứ ba sinh viên bắt đầu tập làm nghiên cứu khoa học. Các nhóm nghiên cứu h́nh thành theo tổ học tập. Dưới sự hướng dẫn của các thày giáo các nhóm đă thực hiện một số đề tài khoa học: chuyên đề về nhà trẻ, nhà ăn tập thể, trường học, nhà ở nông thôn, ...

Việc nghiên cứu khoa học của sinh viên thời ḱ đó mang tính chất tập dượt, xây dựng tư liệu phục vụ việc học tập. Mỗi nhóm từ 3 - 5 sinh viên, có sinh viên khá giỏi trung b́nh, đề cương nghiên cứu được Thày giáo thông qua. Mỗi tuần nhóm nghiên cứu có 1 - 2 lần đi khảo sát thực tế một số công tŕnh có ở nộị ngoại thành, vẽ ghi trao đổi với người sử dụng về những ưu khuyết điểm của công tŕnh. Nhóm cũng sưu tầm các công tŕnh trong các tạp chí kiến trúc, có ư kiến nhận xét chủ quan của nhóm. Các mẫu khảo sát đều vẽ lại nghiêm chỉnh, từ 8 - 10 mẫu. Mỗi chuyên đề phải làm một báo cáo tổng quan.

Ḱ hè năm 1964, theo đề xuất của KTS. Đoàn Văn Minh và yêu cầu của Ty Văn hoá Hà Tây, một Đoàn công tác thực tế 20 sinh viên khoá l do các Thày giáo Đàm Trung Phường, Vũ Tam Lang, Đặng Quí Khoa hướng dẫn, về khu Thắng cảnh Hương Sơn làm công tác NCKH, thiết kế phục vụ sản xuất.

Khi Thày tṛ đang hăng say lăn lộn thực địa, sơ phác qui hoạch, thiết kế sơ bộ một số công tŕnh, th́ sảy đến vụ đánh phá đầu tiên của đế quốc Mĩ vào vùng biển Quảng Ninh, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ ra miền Bắc.

Sau 7 học ḱ với 12 đồ án, khoá l được phân ngành: kiến trúc dân dụng: 50 sinh viên, kiến trúc công nghiệp: 24 sinh viên, qui hoạch đô thị và nông thôn: 24 sinh viên. Mỗi ngành thực hiện tiếp 2 đồ án chuyên ngành, học thêm một số môn chuyên đề và làm đồ án tốt nghiệp.

Giữa học ḱ VIII, sinh viên ngành dân dụng đă được giao sớm đề tài tốt nghiệp, để tranh thủ thời gian nghiên cứu lập nhiệm vụ thiết kế. Thời điểm này (1965), Bộ Kiến trúc có nhiệm vụ thiết kế xây dựng một số công tŕnh, Trường đă chọn 10 sinh viên xuất sắc đến tham gia công tác thiết kế tại Viện thiết kế dân dụng. Dưới sự hướng dẫn của các kiến trúc sư lâu năm, anh em đă tham gia sơ phác công tŕnh Triển lăm Giảng Vơ, khách sạn Đồ Sơn, khách sạn Băi Cháy, khách sạn Tam Đảo và các biệt thự của Trung ương ở Tam Đảo, Quảng Ninh...

Đế quốc Mĩ liều lĩnh đem máy bay đánh phá Miền Bắc. Tháng 5.1965, Trường phải rời Hà Nội, sơ tán về xă Thuỵ Vân, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Đây là vùng nông thôn trung du, xóm làng xen lẫn rừng cọ đồi chè. Được sự giúp đỡ hết ḷng của Chính quyền và nhân dân địa phương, chỉ trong thời gian ngắn, chúng ta dựng được hội trường, lớp học, nhà ăn, nhà bếp. Thư viện th́ mượn nhà dân. Những ngôi nhà gỗ 5 gian, 3 gian lợp lá cọ, có hàng hiên rộng thoáng mát, được dân làng nhường cho Thày tṛ làm nơi học tập, nghỉ ngơi.

Tại đây chúng ta đă tuyển sinh tiếp các khóa V (65 - 70), khoá Vl (66 - 71), Khoá VII (67 - 72). Mỗi khóa 40 sinh viên.

Đáp ứng nhu cầu cấp thiết về cán bộ thiết kế của Bộ, tháng 5.1965, sau khi học xong chương tŕnh khoá học, 50 sinh viên ngành kiến trúc dân dụng khoá l được nhận công tác. Một năm sau, sinh viên được chọn một công tŕnh thiết kế thực tế mà sinh viên đă làm đề phát triển thành đồ án tốt nghiệp. Cuối năm 1966, sinh viên nộp đồ án thực tế và bảo vệ tốt nghiệp.

Hai ngành Kiến trúc công nghiệp và Qui hoạch đô thị vẫn được học tiếp các chuyên đề, làm đồ án chuyên ngành và bảo vệ đồ án tốt nghiệp tại Trường nơi sơ tán xă Thuỵ Vân vào tháng 4.1966.

Lễ tốt nghiệp khoá I có ư nghĩa to lớn. dù ở nơi sơ tán xa Thủ đô, nhưng được tổ chức khá trang trọng, khách mời có Đại diện hai Bộ, đại biểu Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam và địa phương. Trong lễ tốt nghiệp, Thứ trưởng Nguyễn Cao Luyện thay mặt Bộ Kiến trúc và Ban Lănh đạo Lớp Đại học kiến trúc đánh giá kết quả học tập rèn luyện của sinh viên, cảm ơn các thày giáo, cán bộ cán bộ nhân viên đă làm nên thành quả rất đáng tự hào. Một đội ngũ Kiến trúc sư trẻ, đáng tin cậy, sản phẩm đầu tiên của Lớp Đại học Kiến trúc. Nhắc lại chuyện Bác Hồ gặp và giao nhiệm vụ cho giới Kiến trúc, Ông hồ hởi nói: Nay chúng ta vui mừng quá, quí quá, đă phần nào báo công được với Bác.

Thay mặt Bộ Đại học và THCN, Thứ trưởng Hoàng Xuân Tuỳ cũng phát biểu: ...''Nếu có người khách nước ngoài nào đến thăm rừng cọ này thấy chúng ta đào tạo những Kiến trúc sư vẽ nên những công tŕnh cao đẹp, hiện đại để xây dựng đất nước ta trong tương lai, họ không những sẽ ngạc nhiên và càng thấy rơ ḷng tin tuyệt đối của chúng ta vào thắng lợi hoàn toàn của nhân dân ta. Họ thấy rơ ư chí cao đẹp của những chàng trai quyết tâm nắm lấy khoa học kĩ thuật để làm chủ công cuộc xây dựng đất nuộc của ḿnh sau này".

Những nhận xét đánh giá của các đại biểu thêm một lần khẳng định chất lượng đào tạo của khoá l là tốt. Khi ra trường, anh chị em nhanh chóng kế tục công việc sáng tác và quản lí chuyên môn của các bậc cha anh.

Trong số 107 sinh viên khoá 1, có 4 người không học hết khoá, 6 người chuyển sang học tập và làm đồ án tốt nghiệp với các khoá sau.

Khi ra trường có gần 60% được trực tiếp hành nghề thiết kế, đều có công tŕnh. Trong số này có một số Kiến trúc sư xuất sắc như: Lương Anh Dũng, Hoàng Minh Phái, Nguyễn Vũ Hưng, Tạ Xuân Vạn. Diêu Công Tuấn, Nguyễn Triệu, Tạ Trường Xuân, Lê Quang Hải, Nguyễn Thế Khải, Nguyễn Xuân Thử, Đỗ Thế Sính,Trần Bảo Châu, Trần Ngọc Lân, Nguyễn Đăng Kiểm, Nguyễn Đắc Nghinh, ....

Trong số 12 Kiến trúc sư làm công tác giảng dạy đại học và ở Viện Nghiên cứu, có 6 Kiến trúc sư đạt học vị Tiến sĩ: TS. Lê Quang Hải, TS. Nguyễn Bá Đang, TS. Nguyễn Hữu Tài, TS. Vũ Duy Cừ, TS. Đỗ Thế Sính, TS. Tạ Trường Xuân. Có người được phong hàm Phó Giáo sư và Nhà giáo ưu tú: NGƯT,PGS.TS. Nguyễn Bá Đang, NGƯT. PGS.TS. Nguyễn Hữu Tài.

KTS. Nguyễn Ngọc Nhă giữ nhiệm vụ Phó Hiệu trưởng một nhiệm ḱ (1976 - 1978). KTS.Vũ Đức Đảm giữ nhiệm vụ Bí thư đảng ủy Trường 3 nhiệm ḱ (1988 - 1994), 7 Kiến trúc sư giữ nhiệm vụ Chánh Phó Giám đốc Sở Xây dựng (Trần Ngọc Điều, Nguyễn Hoàng, Hoàng Văn Thịnh, Nguyễn Trảo, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Đ́nh Châu, Nguyễn Xuân Đào).

12 Kiến trúc sư phụ trách cơ quan Thiết kế Qui hoạch kiến trúc ở Trung ương và địa phương (Nguyễn Ngọc Nhă, Nguyễn Thú, Lương Anh Dũng, Phạm Hữu Chung, Vũ Đức Đảm, Nguyễn Đăng Kiểm, Phạm Văn Mộc, Nguyễn Văn Thanh, Đặng Như Tất, Hoàng Văn Thịnh, Nguyễn Đắc Nghinh, Cao Kim Qui.)

Trong 2 năm 1965, 1966, Đội ngũ cán bộ giảng dạy và cán bộ nhân viên được bổ sung thêm 30 người, đảm bảo chủ động tổ chức giảng dạy học tập tại nơi sơ tán xa Thủ đô.

Về Kiến trúc có thêm 7 Kiến trúc sư tốt nghiệp khoá l được giữ lại trường: Lê Quang Hải, Vũ Đức Đảm, Nguyễn Bá Đang, Vũ Duy Cừ, Nguyễn Hữu Tài, Hoàng Văn Sâm, Vũ Khắc Vấn và 5 Kiến trúc sư tốt nghiệp tại Liên Xô và Trung Quốc trở về: Nguyễn Kim Sến, Lê Dũng Thức, Nguyễn Đăng Linh, Kiều Ngọc Đăng, Văn Thiên.

về Mĩ thuật có thêm HSĐK.Trần Tía, HS.Tô Duy.

Về Kết cấu, có thêm KS. Nguyễn Văn Đô.

Về Chính trị có thêm KTS. Nguyễn Đức Khoái.

Cán bộ nhân viên có thêm: Lê Minh Chúc, Nguyễn Chính Xích, Phạm Văn Thuyết, Hoàng Văn Thúc, Đặng Đức Cường, Nguyễn Thị Cận, Đỗ Gia Thịnh, Vơ Đắc Thắng, Nguyễn Văn Điền, Nguyễn Thị Thủy.

Địa chỉ IP đã được lưu lại

Những doanh nhân chân chính luôn luôn nghĩ đến sự nghiệp, nghĩ đến những cộng sự và nghĩ đến đất nước. Vật chất chỉ là phương tiện để doanh nhân hoàn thành sứ mệnh của ḿnh.
Việt Khôi
Ashui-H
**


Hà Nội
Gián tuyến Gián tuyến

Giới tính: Nam
Bài: 327


Xem hồ sơ
« Trả lời #1 vào: 21/05/2007, 00:08 »

II. Lớp đào tạo Kiến trúc sư (1961 -1967) - Tiền thân của  Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

II.1. Bối cảnh kinh tế xă hội

Sau kế hoạch 3 năm khôi phục (1955-1957), nước ta bước vào giai đoạn phát triển kinh tế văn hoá với kế hoạch 3 năm 1958 - 1960. Bước đầu chúng ta phải nhờ nước bạn giúp thiết kế một số nhà máy, khu nhà ở mới như Nhà máy cơ khí Hà Nội, nhà máy điện Vinh, nhà máy tuyển quặng crômít Thanh Hoá, nhà máy tuyển quặng Apatít Lao Cai, Khu gang thép Thái Nguyên, Khu nhà ở Kim Liên... Tiếp theo, chúng ta phải tự đảm đương công việc thiết kế xây dựng những công tŕnh của ḿnh.

Năm 1958, Bộ Kiến trúc được thành lập. Nhu cầu về kiến trúc sư rất lớn và rất cấp thiết. Số kiến trúc sư được đào tạo trước Cách mạng không nhiều, và phần lớn lại đảm đương trọng trách quản lí nhà nước.

Thống kê sơ bộ như sau:

Ngành Công tŕnh có 11 Kiến trúc sư: Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Cao Luyện, Trần Hữu Tiềm, Nguyễn Ngọc Chân, Đoàn Văn Minh, Đoàn Ngọ, Nguyễn Nghi, Dương Hi Chấn, Vương Quốc Mĩ, Đàm Trung Lăng và KTS. Nguyễn Hữu Thứt ở Hungari mới về

Ngành Qui hoạch đô thị và Nông thôn có 4 Kiến trúc sư: Hoàng Như Tiếp, Ngô Huy Quỳnh, Khổng Toán, Đàm Trung Phường.

Thủ đô Hà Nội có 2 Kiến trúc sư: Tạ Mĩ Duật, Nguyễn Ngọc Ngoạn.

Quốc pḥng có 2 Kiến trúc sư: Hoàng Linh, Phạm Hoàng.

Trong số 19 Kiến trúc sư kể trên đă có 12 vị làm công tác quản lí cấp công ty, Cục, Vụ, Viện và Bộ; 3 vị đang thực tập và nghiên cứu sinh ở nước ngoài.

Số sinh viên gửi đi đào tạo ở nước ngoài mỗi năm có 2 - 5 người. Sớm nhất, năm 1961 sẽ có 2 Kiến trúc sư tốt nghiệp ở Bắc Kinh là Nguyễn Kim Luyện và Vũ Tam Lang. Tới năm 1963 sẽ có thêm 4 Kiến trúc sư tốt nghiệp ở Mascva là Nguyễn Trực Luyện, Huỳnh Lẫm, Trịnh Nhưng, Vơ Thuộc.

Bộ kiến trúc do Bộ Trưởng Bùi Quang Tạo chủ tŕ đă có chủ trương và quyết tâm tổ chức việc đào tạo Kiến trúc sư ở trong nước. Trước mắt, khi chưa đủ điều kiện mở Trường Đại học th́ cần mở lớp đại học.

Thứ trưởng KTS. Nguyễn Cao Luyện được phân công đặc trách công tác này. Năm 1960, Ông được cử đi khảo sát việc đào tạo kiến trúc sư tại Trung Quốc.

II.2. Tháng 6.1961, Lớp Đào tạo Kiến trúc sư ra đời.

Ngày 21.4.1961, Bộ kiến trúc có văn bản số 1205.BKT.TCCB tŕnh Chính phủ xin mở Lớp Đào tạo Kiến trúc sư. Số lượng xin tuyển năm 1961 là 100 sinh viên. Kiến trúc sư Nguyễn Nghi, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp kiến trúc Hà Đông, Phó Chủ nhiệm công ty kiến trúc Việt Tŕ được điều động về Bộ nghiên cứu soạn thảo mục tiêu - kế hoạch - chương tŕnh đào tạo và đề xuất lực lượng cán bộ giảng dạy.

Ngày 8.6.1961, Chính phủ có văn bản số 1927.CN, cho phép Bộ Kiến trúc mở Lớp đào tạo Kiến trúc sư. Nội dung chính của văn bản là:

1) Cho phép Bộ Kiến trúc mở lớp đào tạo kiến trúc sư với số lượng tuyển sinh năm 1961 là 100 người.

2) Về đối tượng tuyển sinh của lớp kiến trúc sư chủ yếu là lấy số cán bộ đang làm công tác kiến trúc và số học sinh trung cấp kiến trúc. Nếu 2 nguồn cung cấp này không thể đảm bảo số tuyển sinh nói trên, th́ Bộ Giáo dục cần chọn trong số học sinh phổ thông thi vào đại học của niên khoá 1961 - 1962 cung cấp cho đủ số lượng 100 nói trên.

3) Bộ Giáo dục và Trường Đại học Bách khoa có trách nhiệm giúp đỡ Bộ Kiến trúc về mặt trường sở, chỗ ăn ở cho sinh viên, vấn đề thực tập thí nghiệm, giảng dạy về chính trị, khoa học cơ bản vẽ kĩ thuật ...

4) Uỷ ban Kế hoạch nhà nước căn cứ vào yêu cầu giảng dạy của lớp kiến trúc sư này mà ghi vào kế hoạch xin chuyên gia giáo sư cung cấp cho Bộ kiến trúc.

Trong tháng 6.1961, Bộ kiến trúc đă có thông báo tuyển sinh đến các cơ quan thiết kế của các Bộ, các ngành, các địa phương. Đầu tháng 8.1961, ḱ thi tuyển sinh được tổ chức. Đối tượng tuyển sinh là cán bộ đang công tác trong các cơ quan thiết kế xây dựng ở Trung ương và các địa phương đă tốt nghiệp phổ thông cấp 3. Thí sinh thi 4 môn: Toán, Vật lư, Làm văn, Vẽ Mĩ thuật. Có 24 thí sinh trúng tuyển.

Cùng thời gian, Bộ đă tuyển chọn 60 học sinh khoá 12 Trường Trung cấp Kiến trúc Hà Đông. Số anh chị em này đă hoàn thành chương tŕnh văn hoá tương đương phổ thông cấp 3, có kết quả xuất sắc.

Sau ngày nhập học, Trường Đại học Bách khoa tổ chức thi tuyển môn Vẽ Mĩ thuật cho số sinh viên trúng tuyển vào khoá 6 ngành xây dựng, chọn thêm 20 sinh viên.

Cán bộ trong ngành trúng tuyển ḱ thi tháng 8.1961:

Tạ Thanh Cao. Trương Vi Dân . Nguyễn Văn Dự. Vũ Đức Đảm. Trần Văn Điểm. Trần Ngọc Điều. Bùi Minh Đức. Nguyễn Ngọc Giả. Lê Quang Hải. Nguyễn Trọng Hùng. Vũ Khang. Nguyễn Đăng Kiểm. Nguyễn Lang. Trần Ngọc Lân. Trần Anh Minh. Phạm Văn Mộc. Trần Quang. Ngô Gia Phúc. Vũ Minh Sơn. Tống Duy Tế. Vơ Hoa Thiếm. Nguyễn Thú. Nguyễn Ngọc Thư. Nguyễn Ngọc Uyển.

Học sinh Trung cấp Kiến trúc K.12 được tuyển:

Vũ Đ́nh Ấm. Nguyễn Đ́nh Châu. Đinh Văn Chéo. Phạm Hữu Chung. Nguyễn Chương. Vũ Công Cơ. Vũ Duy Cừ. Nguyễn Công Cử. Nguyễn Minh Dục. Lương Anh Dũng. Trần Đăng Duyến. Trần Đàm. Nguyễn Xuân Đào. Nguyễn Thị Đông. Nguyễn Minh Đức. Đoàn Ngọc Đương. Huỳnh Hiền. Đoàn Quang Hiển. Đỗ Đ́nh Hoa. Nguyễn Thế Khải. Bành Văn Khang. Nông Văn Khoan. Hoàng Văn Khương. Trịnh Thị Liên. Hoàng Lương. Nông Văn Mạnh. Nguyễn Ngọc Nhă. Vũ Nhă. Nguyễn Thúc Nhương. Nguyễn Khắc Nhượng. Trương Ngô. Hoàng Minh Phái. Phạm Thanh Phúc. Cao Kim Qui. Trần Đông Rạng. Mai Văn Riễn. Hoàng Văn Sâm. Nguyễn Văn Sanh. Nông Văn Tạch. Nguyễn Hữu Tài. Đặng Như Tất. Nguyễn Thái. Nguyễn Văn Thanh. Nguyễn Ngọc Thanh. Hoàng Văn Thịnh. Phan Văn Thiệp. Lê Hoàng Thọ. Hoàng Đ́nh Thoan. Nguyễn Xuân Thử. Nguyễn Thị Trâm. Nguyễn Trảo. Phan Bá Triều. Nguyễn Triệu. Nguyễn Ḱm Trung. Diêu Công Tuấn. Trần Tuấn. Tạ Xuân Vạn. Vũ Khắc Vấn. Nguyễn Khắc Xương. Nguyễn Hoàng.

Sinh viên K.VI ĐHBK trúng tuyển qua thi năng khiếu:

Nguyễn Văn Anh. Nguyễn Xuân Ân. Lê Biên. Trần Bảo Châu. Nguyễn Trí Dũng. Nguyễn Bá Đang. Nguyễn Ngọc Đính. Hứa Ngọc Hiếu. Nguyễn Vũ Hưng. Tạ Thị Lan Hương. Nguyễn Văn Lộc. Đỗ Thế Sính. Dương Xuân Tấn. Đỗ Đ́nh Thi. Nguyễn Đ́nh Tiến. Trần Anh Tú. Lâm Quang Vinh. La Thị Bích Vân. Tạ Trường Xuân.

Lưu học sinh chuyển tiếp vào năm thứ 3,4:

Nguyễn Đắc Nghinh, từ ĐH Đồng tế Thượng Hải về

Phạm Gia Du, từ ĐH xây dựng Kiev về

Nguyễn Ngọc Quỳnh, từ ĐH kiến trúc Mascva về.

Trong số sinh viên trên, có 4 người do bệnh tật không học hết chương tŕnh:Tạ Thanh Cao, Nguyễn Khắc Xương, Tống Duy Tế và Trần Tuấn.

lI.3. Tháng 9.1961, khai giảng khoá l.

Khoá đầu được khai giảng ngày 3.9.1961 cùng với khoá VI Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, tại Hội trường 500.

Mục tiêu, chương tŕnh và kế hoạch đào tạo ban đầu được xây dựng trên cơ sở khung đào tạo là 3,5 năm (như khoá l Trường ĐH Bách khoa),

Chương tŕnh này được xây dựng trên nguyên tắc:

- Những môn cơ bản và cơ sở của ngành học nhằm bảo đảm cho cán bộ có tŕnh độ cơ bản về phương pháp và năng lực sáng tác th́ nhất thiết phải có trong chương tŕnh: Vẽ mĩ thuật, H́nh hoạ, Bóng phối cảnh, Cơ sở kiến trúc, hệ thống 14 đồ án kiến trúc từ thấp đến cao, Cấu tạo nhà cửa, Thiết bị vệ sinh,...

- Những môn cơ bản, kĩ thuật cơ sở phụ trợ như Toán cao cấp, Cơ lí thuyết Sức bền vật liệu, Cơ kết cấu, Kết cấu công tŕnh, Vật liệu xây dựng,... được phân bổ với số tiết tối thiểu hợp lí, môn trước là cơ sở của môn sau.

- Những môn nào có thể lùi lại bổ sung sau sẽ không đưa vào chương tŕnh hoặc có thể kết hợp giảng trong giờ đồ án, như môn Nguyên lí thiết kế hoặc bố trí số tiết tối thiểu hợp lí, như môn Ngoại ngữ, Lịch sử Kiến trúc.

Sau đó từ chủ trương mới của Bộ Giáo dục, và ư kiến của Chuyên gia đào tạo của Liên Xô (cũ) tại Bộ Kiến trúc - Giáo sư TS.AM.Prikhôtkô, Bộ Kiến trúc đă ấn định chương tŕnh chính thức là 4,5 năm. Chương tŕnh có đủ các môn lí luận và các môn kĩ thuật cơ sở hoàn chỉnh.

Lớp sinh viên kiến trúc khoá l được phiên chế thành ngành Kiến trúc khoá VI thuộc khoa Xây dựng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Bộ kiến trúc đă bổ nhiệm Ban Lănh đạo Lớp Đào tạo Kiến trúc sư do Thứ trưởng KTS. Nguyễn Cao Luyện - Trưởng Ban, KTS. Nguyễn Nghi là Phó Ban phụ trách công tác giáo vụ. Năm 1963, Đại uư (chuyển ngành) Lê Hoàng Long được cừ làm Phó Ban về chính trị. Nhân viên giúp việc ban đầu có các ông Lê Chức, Nguyễn Ngọc Toản, Hà Văn Ân...

Cố Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện để lại trong chúng ta những ấn tượng không phai mờ. Cụ là một Kiến trúc sư tài năng, có hoài băo và tâm huyết với việc nghiên cứu khai thác phát triển kiến trúc truyền thống Việt Nam. Trước CM tháng 8, Cụ cùng một số đồng nghiệp sáng lập và hoạt động trong Nhóm ánh sáng. Ngôi nhà số 7 phố Thuyền Quan là một trong số công tŕnh do Cụ thiết kế hiện vẫn c̣n nguyên vẹn. Khi được giao phụ trách Lớp Đào tạo Kiến trúc sư, mặc dầu bận việc chỉ đạo công tác khoa học kĩ thuật và thiết kế trên Bộ, Cụ không lơi lỏng công việc tổ chức đào tạo trường. Cụ không trực tiếp giảng dạy, nhưng thông qua các buổi gặp gỡ, bằng những mẩu chuyện vui nhẹ nhàng, dí dỏm, Cụ truyền cho cán bộ, sinh viên những hiểu biết về kiến trúc truyền thống và đem lại cho họ ḷng say mê nghề nghiệp, ư thức trách nhiệm của ḿnh. Cụ có tâm hồn một nhà thơ. Khi viết hay nói chuyện, Cụ thường dùng ngôn ngữ giàu cảm súc và thơ minh hoạ. Nói về sự hài hoà với thiên nhiên của ngôi nhà dân gian Việt Nam, Cụ đọc câu thơ Nguyễn Trăi:

Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,

Quét hiên ngày sợ bóng hoa tan!

Khi chia tay cán bộ và sinh viên chuyển về Trường Xây dựng, Cụ nói lời động viên rồi mượn câu thơ của Nhà thơ Huyền Kiêu để tạm biệt:

Sáng tiễn đưa nhau, chẳng nhớ nhau!

Nửa đêm sực tỉnh bỗng dưng sầu!


...

Số Kiến trúc sư tốt nghiệp Khoá l ngành kiến trúc dân dụng được giữ lại Trường (Lê Quang Hải, Vũ Đức Đảm, Nguyễn Bá Đang) đă được Cụ trực tiếp rèn cặp trong thời gian tập sự giảng dạy. Sự trưởng thành của anh em mang dấu ấn về trí thức, về phương pháp nghiên cứu và phong cách làm việc của Cụ. Sau này, khi đến tuổi nghỉ hưu, thông qua Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam, Cụ vẫn theo dơi bước đi của Trường, thường xuyên góp ư xây dựng.

Những nhà giáo đầu tiên thuộc biên chế Lớp Đào tạo Kiến trúc sư là: KTS. Vũ Tam Lang, HS. Đặng Quí Khoa, KS. Dương Tiến Thọ, KS. Lê Văn Nội,  KS. Nguyễn Văn Tợ, KS. Nguyễn Khánh Hội. Năm 1962, 1963 có thêm KS. Dương Văn Cánh và KTS. Huỳnh Lẫm.

Năm 1966, KS Lê Văn Nội được đi thực tập nước ngoài. Sau Ông được chuyển về Vụ Tổ chức rồi chuyển tiếp về Thanh Hoá.

Năm 1966, KS. Nguyễn Văn Tợ chuyển về Viện thiết kế Thư ơng mại. Sau khi thống nhất đất nước, Ông chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1985, PGS.HS. Đặng Quí Khoa chuyển về Trường ĐH Mĩ thuật.

TS. Dương Văn Cánh, nguyên Chủ nhiệm Khoa Xây dựng, lâm bệnh hiểm nghèo, mất năm 1983.

Cán bộ Bộ kiến trúc tham gia giảng dạy có KTS. Nguyễn Văn Ninh, KTS. Hoàng Như Tiếp, KTS. Trần Hữu Tiềm, KTS. Tạ Mĩ Duật, KTS. Đoàn Văn Minh, KTS. Đoàn Ngọ, KTS. Nguyễn Ngọc Chân, KTS. Khổng Toán, TS. Vương Quốc Mĩ, KTS. Nguyễn Hữu Thứt, KS. Vũ Đức Thận, KS. Nguyễn Văn Tài, KS. Trịnh Hoài Linh, KS. Phạm Đ́nh Biều...

CBGD Trường Mĩ thuật tham gia giảng dạy có các Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đức Nùng, Lương Xuân Nhị, Vương Tŕnh, Ngô Tôn Đệ, Trịnh Thiệp, Nhà Điêu khắc Lê Công Thành...

Cán bộ giảng dạy các Bộ môn của Trường ĐHBK tham gia giảng dạy các môn cơ bản và kĩ thuật cơ sở: Thái Thanh Sơn, Tô Xuân Dũng, Hoàng Văn Thân, Nguyễn Bân, Lều Thọ Tŕnh, Trương Hùng Thiên, Nguyễn Văn Yên,Nguyễn Kim Luyện, Nguyễn Thái...

Mặc dù khoá đầu tiên tuyển chọn từ nhiều nguồn, tŕnh độ không đồng đều, nhưng được học tập trong môi trường Đại học Bách khoa, lại được các giáo sư các nhà Hoạ sĩ, các Kiến trúc sư có tŕnh độ và phương pháp tốt, nên sinh viên tiếp thu nhanh, kết quả học tập vững chắc. Từ một lớp b́nh thường (học ḱ l), đă trở thành lớp xuất sắc (học ḱ II), rồi trở thành lớp tiên tiến của Trường Đại học Bách khoa (Học ḱ III - IV). Vào đầu năm thứ hai, lớp 61K đă có một pḥng triển lăm (nội bộ) tranh vẽ trong hè, chất lượng khá tốt. Mỗi học ḱ có 1 - 2 sinh viên đạt danh hiệu sinh viên ưu tú (có 75% môn thi và các đồ án kiến trúc đạt điểm 5/5, c̣n lại đạt điểm 4/5; các môn kiểm tra đạt yêu cầu), 8 - 10 sinh viên đạt danh hiệu sinh viên tiên tiến (các môn thi và đồ án kiến trúc đạt 4/5, các môn kiểm tra đạt yêu cầu). Năm thứ II, một số sinh viên khá đă được tham gia cuộc thi quốc tế sáng tác tượng đài chiến thắng Hi Rôn do Hội Kiến trúc sư quốc tế tổ chức.

Năm 1962 tuyển 100 sinh viên khoá II. Năm 1963 tuyển 30 sinh viên khoá III.

Thời gian này Lớp Đào tạo kiến trúc sư có một chi bộ cán bộ với 3 đảng viên, sinh hoạt tại Đảng bộ Bộ Kiến trúc. Hai chi bộ sinh viên (khóa l,II) với 40 đảng viên, sinh hoạt tại Liên chi Khoa Xây dựng Đảng bộ trường Đại học Bách khoa. Hai chi đoàn TNLĐVN thuộc Đoàn TNLĐ Việt Nam Đại học Bách khoa.

Địa chỉ IP đã được lưu lại

Những doanh nhân chân chính luôn luôn nghĩ đến sự nghiệp, nghĩ đến những cộng sự và nghĩ đến đất nước. Vật chất chỉ là phương tiện để doanh nhân hoàn thành sứ mệnh của ḿnh.
Việt Khôi
Ashui-H
**


Hà Nội
Gián tuyến Gián tuyến

Giới tính: Nam
Bài: 327


Xem hồ sơ
« vào: 20/05/2007, 23:59 »

I. Hoàn cảnh h́nh thành sự nghiệp đào tạo kiến trúc sư trong chế độ xă hội chủ nghĩa Việt Nam

1.1. Đào tạo Kiến trúc sư ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8.1945

Trước Cách mạng tháng 8.1945, chính quyền thực dân Pháp đă tổ chức đào tạo Kiến trúc sư với qui mô nhỏ trong Trường Mĩ thuật Đông Dương.

Mục tiêu ban đầu của Trường, như Nghị định thành lập ngày 27.10.1924, của Toàn quyền Đông Dương M. Merlin là: ... đào tạo giáo viên nghệ thuật và hội hoạ cho các trường thành chung và dạy nghề trang trí.

Năm 1925 Trường bắt đầu tuyển sinh, trong đó có ngành Nghệ thuật kiến trúc Viễn đông. H́nh thức đào tạo theo xưởng, mỗi khoá chỉ tuyển từ 2 đến 5 sinh viên. Sau gần 20 năm, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đào tạo được trên 20 Kiến trúc sư

Đầu năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới thứ II lan đến Việt Nam, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương di chuyển về Sơn Tây và Đà Lạt rồi ngừng hoạt động. Ngày 19.12.1946, cuộc Trường ḱ kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bùng nổ. Thày tṛ xếp bút nghiên lên đường kháng chiến.

Qua t́m hiểu, sinh viên kiến trúc các khoá như sau:

1925 - 1930: Nguyễn Xuân Phương, Lê Quang Tỉnh

1926 - 1931: Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Tường Tam

1927 - 1932: Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp

1928 - 1933: Trần Hữu Tiềm, Nguyễn Gia Đức

1929 - 1934: Bạch Văn Trụ, Phan Văn Hoá, Đoàn Ngọ

1930 - 1935: Vơ Đức Diên, Đoàn Văn Minh

1931 - 1936: Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Ngọc Diệp

1932 - 1937: Hoàng Linh, Phạm Hoàng (Phạm Khắc Hệ)

1934 - 1939: Nguyễn Ngọc Chân, Nguyễn Nghi, Tạ Mĩ Duật, Nguyễn Ngọc Ngoạn

1938 - 1943: Ngô Huy Quỳnh, Khổng Toán, Phạm Khắc Nhu, Lương Tấn Khoa

1940 - 1945: Huỳnh Soàn, Nguyễn Văn Đường, Đỗ Bá Vinh

1942 - 1947: Đàm Trung Phường, Dương Hi Chấn, Đàm Trung Lăng, Huỳnh Kim Măng

1943-1948: Vương Quốc Mĩ, Nguyễn Văn Thâng, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Quang Nhạc

1944-1949: Nguyễn Văn Long, Nguyễn Sanh Kha,  Vơ Như Tỉ, Vơ Thành Nghĩa, Ngô Viết Thụ.

Một số sinh viên đang học dở dang đă qua Pháp tiếp tục học tập và bảo vệ tốt nghiệp tại Paris như các ông Huỳnh Kim Măng, Nguyễn Văn Thâng, Nguyễn Quang Nhạc, Ngô Viết Thụ, Vơ Thành Nghĩa...

1.2. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, không có điều kiện đào tạo kiến trúc sư.

Sau cách mạng tháng Tám, chính quyền cách mạng đă có chương tŕnh đào tạo đại học - cao đẳng chuyên nghiệp. Trường Cao đẳng Giao thông - Công chính ra đời, trong đó có ngành kiến trúc. Do hoàn cảnh kháng chiến, Trường Cao đẳng Giao thông - Công chính chỉ đào tạo hệ Trung cấp kĩ thuật.

Từ 1946 đến năm 1954, Trường Cao đẳng Giao thông - Công chính tuyển được 6 khoá trung cấp kĩ thuật. Năm 1955, Trường này chia thành 2 trường: Trung cấp Giao thông và Trung cấp Thuỷ lợi - Kiến trúc. Các trường này tuyển sinh khoá VII vào năm học 1955 – 1956. Năm 1958, trường Trung cấp Thuỷ lợi - Kiến trúc lại chia thành 2 trường: Trung cấp Thuỷ lợi Nam Hà và Trung cấp kiến trúc Hà Đông (nay là trường Cao đẳng xây dựng số l).

Trong hoàn cảnh kháng chiến, không có điều kiện để tổ chức đào tạo ngành học kiến trúc, Đảng và Nhà nước đă nhắc nhở ngành Giáo dục và ngành Kiến trúc chuẩn bị cho công tác này khi kháng chiến thắng lợi.

Bác Hồ - hiện thân của Đảng và nhà nước, đă nh́n xa thấy rộng. Trong những năm kháng chiến, Bác đă nghĩ đến công cuộc kiến thiết đất nước sau này. Cố KTS. Nguyễn Cao Luyện có lần kể lại trước cán bộ và sinh viên rằng: Khi ở Việt Bắc, tuy bộn bề công việc cùng Trung ương Đảng và Chính phủ chỉ đạo công cuộc Trường ḱ kháng chiến, Ông Cụ vẫn bố trí thời gian gặp gỡ hầu hết giới trí thức.

Riêng buổi gặp các Kiến trúc sư, một ấn tượng bất ngờ không thể quên. Bác hỏi cả nước hiện nay có được bao nhiêu Kiến trúc sư, những ai đi theo kháng chiến,có mang theo gia đ́nh không, có yêu cầu giúp đỡ ǵ không. Sau lời hỏi thăm ân cần đó, Bác nói tiếp: “Kháng chiến trường ḱ gian khổ đấy nhưng nhất định thắng lợi. Số lượng Kiến trúc sư như vậy là quá ít, sau này các chú sẽ gặp khó khăn đấy. Ngay từ bâygiờ các chú hăy h́nh dung trước những công việc phải làm. Kiến trúc phải làm ǵ và làm như thế nào để nhanh chóng khôi phục lại đất nước. Phải có những bước đi như thế nào để đuổi kịp các nước tiên tiến, nhưng vẫn mang được cốt cách của một đất nước vốn đă có hàng ngàn năm văn hiến. Người ta sống cần có nhà để ở, có trường để học hành, có chợ có cửa hàng để giao lưu buôn bán, có bệnh viện để chăm lo sức khoẻ,... Kiến trúc cần cho cuộc sống. Mỗi dân tộc thậm chí mỗi vùng đều có một nền kiến trúc riêng. Kiến trúc của ta, theo Bác, nó không đồ sộ, nhưng rất tinh tế, rất gắn bó với tâm tư t́nh cảm của con người Việt Nam... Lực lượng chuyên môn c̣n mỏng lắm, phải nghĩ đến việc mở trường đào tạo. Các chú suy nghĩ đi, rồi kiến nghị với Bác”. Lời của Bác thực sự lay chuyển tâm can mọi người, củng cố niềm tin vào cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, mở ra một chân trời rộng lớn về tương lai và về nhiệm vụ của ngành, của mỗi người, trong đó có vấn đề xây dựng một nền kiến trúc Việt Nam và đào tạo Kiến trúc sư Việt Nam.

Thế là tại núi rừng Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đă có một lớp kiến trúc đặc biệt và duy nhất. Thày giáo là các Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Trần Hữu Tiềm, Tạ Mĩ Duật. Sinh viên là các ông Dương Hi Chấn, Đàm Trung Phường, Đàm Trung Lăng, Vương Quốc Mĩ - những sinh viên kiến trúc trường Cao đẳng mĩ thuật đang học dở dang. Các ông được hoàn thành chương tŕnh khoá học và bảo vệ đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư tại Việt Bắc.

1.3. Sau ngày Hoà b́nh lập lại trên miền Bắc (1954), chưa đủ điều kiện đào tạo Kiến trúc sư.

Năm 1954, nửa đất nước có hoà b́nh. Đảng và Chính phủ đă có kế hoạch đào tạo cán bộ cho việc khôi phục và phát triển kinh tế - văn hoá. Năm 1955 -1956, bốn Trường Đại học khai giảng: Đại học Bách khoa, Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm và Đại học Kinh tế quốc dân.

Trong khoá l của khoa Xây dựng Trường Đại học Bách khoa (1956) có Tổ 29 gồm 26 sinh viên theo học ngành Kiến trúc. Nhưng do chưa đủ các điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật và đội ngũ Cán bộ giảng dạy về kiến trúc, nên sau một học ḱ, số sinh viên ngành học này trở lại học ngành xây dựng. Một số kĩ sư khoá này ra trường về công tác trong ngành kiến trúc, sẵn có năng khiếu và ḷng say mê nghề nghiệp, đă trở thành những cán bộ đầu đàn như GS.TS. Nguyễn Mạnh Kiểm, PGS.TS. Trương Tùng, GS.TSKH. Nguyễn Trâm, GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng, PGS. Trần Hùng, PGS.TS. Nguyễn Đức Thiềm, PGS.TS. Tôn Đại, PGS. Lê Kiều, PGS. Hoạ sĩ Đặng Quí Khoa, KTS. Lê Văn Lân, TS. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, KS. Đinh Đức Vinh...

Như vậy là thời gian đầu sau khi hoà b́nh được lập lại ở Miền Bắc cho đến năm 1960, chúng ta chưa hội đủ điều kiện để mở ngành đào tạo kiến trúc sư.


* lophocVietBac.jpg (39.86 KB, 360x240 - xem 1307 lần.)
« Sửa chữa bởi: 21/05/2007, 00:13 bởi Việt Khôi » Địa chỉ IP đã được lưu lại

Những doanh nhân chân chính luôn luôn nghĩ đến sự nghiệp, nghĩ đến những cộng sự và nghĩ đến đất nước. Vật chất chỉ là phương tiện để doanh nhân hoàn thành sứ mệnh của ḿnh.
Trang: [1]   Chuyển lên
  In ấn  
 
Chuyển tới:  

Liên hệ Ban quản trị diễn đàn: ASEAN TIMES ONLINE
+84 9 8888 7890 | E-mail: admin@ashui.com
URLs: vnarchitects.ashui.com, vnarchitects.com
© 2008 VNArchitects | Ashui® Corporation
Hỗ trợ bởi MySQL Hỗ trợ bởi PHP Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Powered by SMF 1.1.4 | SMF © 2005, Simple Machines LLC