$txt['colorize_color'] = 'Color';$txt['HPlocation'] = 'Project Honey Pot (all regions)'; // MOD Quick PM $txt['quick_pm'] = 'Quick PM'; $txt['change_quick_pm'] = 'Change to Quick PM'; $txt['change_quick_reply'] = 'Change to Quick Reply'; $txt['send_message'] = 'Send message'; $txt['quick_pm_desc'] = 'With Quick-PM you can write a personal message when viewing a topic without loading a new page. You can still use bulletin board code and smileys as you would in a normal personal message.'; $txt['display_quick_pm'] = 'Enable Quick PM (requires enable Quick Reply)'; // MOD Auto Merge Double Post $txt['permissionname_doublePost'] = 'Allow to do Double Post'; $txt['permissionhelp_doublePost'] = 'By Enabling this will allow them to double post.'; $txt['AutoMergePost_div'] = 'Add text when merging the post'; $txt['AutoMergePost_div_sub'] = 'You can use BBC and $date variable'; $txt['AutoMergePost_time'] = 'Time after which it will allow the bump the topic'; $txt['AutoMergePost_time_sub'] = 'Time 0 to disable the MOD and 9999 for never allow bump'; // Aeva Media extra strings $txt['aeva_gallery'] = isset($txt['aeva_gallery']) ? $txt['aeva_gallery'] : 'Media'; $txt['aeva_home'] = 'Home'; $txt['aeva_unseen'] = 'Unseen'; $txt['aeva_profile_sum'] = 'Summary'; $txt['aeva_view_items'] = 'View items'; $txt['aeva_view_coms'] = 'View comments'; $txt['aeva_view_votes'] = 'View votes'; $txt['aeva_gotolink'] = 'Details'; $txt['aeva_zoom'] = 'Zoom'; $txt['permissiongroup_aeva'] = 'Aeva Media'; $txt['permissiongroup_simple_aeva'] = 'Aeva Media'; $txt['permissionname_aeva_access'] = 'Access Gallery'; $txt['permissionname_aeva_moderate'] = 'Moderate Gallery'; $txt['permissionname_aeva_manage'] = 'Administrate Gallery'; $txt['permissionname_aeva_access_unseen'] = 'Access unseen area'; $txt['permissionname_aeva_search'] = 'Search in Gallery'; $txt['permissionname_aeva_add_user_album'] = 'Add Albums'; $txt['permissionname_aeva_add_playlists'] = 'Add User Playlists'; $txt['permissionname_aeva_auto_approve_albums'] = 'Auto-approve Albums'; $txt['permissionname_aeva_moderate_own_albums'] = 'Moderate own Albums'; $txt['permissionname_aeva_viewprofile'] = 'View anyone\'s Gallery profile'; $txt['cannot_aeva_viewprofile'] = 'You cannot view Gallery profiles'; // End Aeva Media strings $txt['display_facebook_like'] = 'Display Facebook Like icon?'; $txt['display_facebook_like_desc'] = 'Enabling this will Display the Facebook Like Icon within posts.'; $txt['display_facebook_like_all'] = 'Display Facebook Like icon in all posts?'; $txt['display_facebook_like_all_desc'] = 'Enabling this will Display the Facebook Like Icon within all posts. Note Display Facebook Like Icon has to be enabled'; Tổng quan qui hoạch vùng hay qui hoạch giữa các địa hạt hành chính ở Mỹ
Ashui.com/Forum ashui
15/11/2019, 21:12  
27039 bài viết trong 10593 chủ đề bởi 205210 thành viên
Xem các bài viết mới trên diễn đàn.
Xin chào ! Bạn là khách. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký.

Đăng nhập với tên truy cập, mật khẩu và thời gian tự động thoát
VNArchitects.com
Chủ đề quan tâm: Để đăng kư thành viên, xin vui ḷng liên hệ: admin@ashui.com
 
   Trang chủ   Lịch sự kiện Thành viên Tìm kiếm Trợ giúp Đăng nhập Đăng ký  
Trang: [1]   Chuyển xuống
  In ấn  
Tác giả Chủ đề: Tổng quan qui hoạch vùng hay qui hoạch giữa các địa hạt hành chính ở Mỹ  (Đọc 3222 lần)
0 thành viên và 1 khách đang xem chủ đề này.
VINAARC
Administrator
Ashui-S
*****


VINAARC
Gián tuyến Gián tuyến

Giới tính: Nam
Bài: 721

hlongtr
Xem hồ sơ
« Trả lời #1 vào: 29/12/2009, 15:04 »

Carlos Rodrigues, AICP

Phó chủ tịch và giám đốc Hiệp hội qui hoạch vùng New Jersey

Tŕnh bày tại Hội thảo: Những thách thức chính trong tiến tŕnh đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh: Các vấn đề về quản trị, kinh tế-xă hội và môi trường

Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, 16-18/9/2009

Tóm tắt:

Qui hoạch vùng ở Mỹ không theo mô h́nh qui hoạch toàn diện trong sách vở. Ngoài những sáng kiến qui hoạch vùng do các nhóm tổ chức dân sự bảo trợ, những khuôn khổ qui hoạch vùng ở Mỹ được tạo ra với sứ mạng và quyền hạn hẹp, và thường có tính phản ứng thay v́ tiên liệu.  Giao thông và bảo vệ môi trường là hai lĩnh vực tạo ra hầu hết các sáng kiến qui hoạch vùng.

Qui hoạch vùng do khối dân sự tài trợ

Qui hoạch ở Mỹ, cả ở cấp cộng đồng lẫn cấp cao hơn như khu vực, đều không phải do chính phủ khởi xướng, mà thường bắt đầu bằng một hoạt động dân sự, chủ yếu được tài trợ từ lợi ích kinh doanh.

Qui hoạch tổng thể đô thị đă được các cộng đồng tiến bộ thực hiện trong thời kỳ chuyển tiếp của thế kỷ 20.  Qui hoạch tổng thể được các nhóm dân sự tài trợ và thanh toán và do các tổ chức tư vấn phát triển.  Đây cũng là khởi đầu của nghề qui hoạch thành phố.

Các nhóm dân sự cũng rất quan tâm đến qui mô lớn hơn, đó là qui hoạch vùng. Bản qui hoạch đầu tiên theo dạng này là của Daniel Burnham năm 1909 cho thành phố Chicago, đưa công tŕnh được đăng tải phổ biến trước đó của ông cho Hội chợ Columbian World Exposition 1893 lên một tầm cao mới.

Bản qui hoạch của Hiệp hội qui hoạch vùng 1929 cho vùng New York – dưới sự lănh đạo của Thomas Adams – là bản qui hoạch toàn diện đầu tiên cho toàn bộ Vùng đô thị này.  Nỗ lực này không chỉ phát minh ra khái niệm qui hoạch vùng mà c̣n thiết lập nên phương pháp qui hoạch vùng đầu tiên. Bản qui hoạch này mất 10 năm để tạo ra và tiêu tốn hết 1 triệu đô-la, tất cả đều là nguồn tiền tư nhân.

Những qui hoạch ban đầu do các nhóm dân sự tài trợ trên không có trọng số pháp lư nào.  Các thành phố không áp dụng chúng v́ họ không có thẩm quyền pháp lư để làm hoặc không có các sở qui hoạch để giám sát. New York City áp dụng việc phân vùng (zoning) vào đầu thập niên 20, và thẩm quyền làm điều này phải do Ṭa án tối cao Mỹ cho phép năm 1926, nhưng thành phố lại không có Qui Hoạch Tổng Thể.  Những bản qui hoạch ban đầu này dù sao cũng có ảnh hưởng ở chỗ chúng mang lại những tầm nh́n lớn và đầy tham vọng cho tương lai, đề ra được những giải pháp thông minh cho các vấn đề hiện hữu, và cho mọi người thấy, kể cả các quan chức đắc cử, đời sống của cư dân đô thị có thể được cải thiện như thế nào.

Các qui hoạch thành phố lớn như Chicago và qui hoạch vùng như của New York phải đối phó với vấn đề đa địa hạt hành chính.  Chicago có những vùng ven đô là những đơn vị độc lập về mặt chính trị.  C̣n vùng RPA New York th́ bao gồm 3 tiểu bang, 31 hạt và hàng ngàn khu đô thị.  Các nhà qui hoạch không thể nào tiếp cận được tất cả đại diện chính trị của những địa hạt hành chính này.  Do đó, cách tiếp cận của các nhà qui hoạch nh́n chung là chú trọng vào bức tranh tổng thể và những hạng mục có giá trị, những dự án hoặc là vô cùng quan trọng đối với cả khu vực và/hoặc là quá lớn hoặc quá tham vọng mà cá nhân các địa hạt hành chính không thể tự ḿnh thực hiện được.  Những dự án rơi vào dạng này sẽ bao gồm hầu hết cơ sở hạ tầng (cầu, hầm, hệ thống xa lộ, đường sắt, đường ống cấp và thoát nước chính…) nhưng cũng có những dự án bảo tồn, như bảo tồn các hệ thống đầm lầy lớn ven biển, vùng đất cao giàu nguồn nước hay những tầng địa chất ngậm nước và cảnh quan rừng rậm ven biển giàu hệ thực vật (pine barren).

Qui hoạch vùng do chính phủ tài trợ - những ví dụ ban đầu

Hệ thống công viên vùng

Mặc dù ít có sự quan tâm về phía chính quyền trong qui hoạch toàn diện, áp lực của công chúng và sự tham gia của người dân đă có thể kêu gọi sự quan tâm của chính quyền ở một mức độ nhất định trong việc qui hoạch công viên.  Dưới sự lănh đạo của những nhân vật nổi tiếng trong công chúng như kiến trúc sư cảnh quan Frederick Law Olmsted, việc qui hoạch công viên vùng đă nổi lên thành một chuyên ngành.  Sự thành công vượt bậc của Khu công viên Trung tâm New York và Công viên Triển vọng Brooklyn, đều là dự án của Olmsted, đă gợi kên ư thức và sự quan tâm đến qui hoạch các hệ thống công viên mang lại cơ hội giải trí và sự gần gũi với thiên nhiên cho đa số cư dân đô thị.  Những bản qui hoạch công viên toàn diện đă được h́nh thành cho hầu hết các thành phố lớn và cỡ trung ở Mỹ, bắt đầu trong thập niên 1880.  Các Hạt Essex và Union ở New Jersey đă phát triển qui hoạch công viên Hạt đầu tiên, cũng đều do công ty của Olmsted thực hiện, cũng như qui hoạch ban đầu cho thành phố Newark, New Jersey. Những ghi nhận khác cũng cho thấy các qui hoạch trước đây như Boston và sau đó là Los Angeles.

Qui hoạch công viên thường là do các Ủy ban Công viên được bầu chọn công khai chỉ đạo, ủy ban này đôi khi có thể huy động vốn tư nhân nhưng thường cũng nhận được các khoản phân bổ ngân sách công cho mục đích chuẩn bị qui hoạch công viên, bồi thường mặt bằng, phát triển công viên và sau cùng là quản lư và bảo dưỡng công viên.  Các ủy ban công viên hạt trở thành chi nhánh của Chính quyền Hạt và ủy ban công viên thành phố trực thuộc Chính quyền Thành phố.

Cơ quan đặc trách thung lũng Tennessee

Cơ quan đặc trách Thung lũng Tennessee (TVA) là một giai đoạn độc đáo trong lịch sử qui hoạch ở Mỹ. Được thành lập trong kỷ nguyên chính sách New Deal của tổng thống Roosevelt, TVA là cơ quan liên bang với sứ mạng thúc đẩy phát triển kinh tế trong vùng Tennessee Valley, chủ yếu bằng cách đưa năng lượng điện giá rẻ vào thị trường nội địa.  TVA xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất năng lượng, chủ yếu nhưng không hoàn toàn là thủy điện, và có phạm vi hiện hữu lớn trong khu vực. Cơ quan này có quyền tài phán đối với các con sông cung cấp nước cho các nhà máy điện của họ và vẫn tiếp tục hoạt động mạnh.  Mặc dù đă xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng bao gồm nhà ở cho công nhân, trường học …cơ quan này vẫn không thấy ḿnh có vai tṛ qui hoạch toàn diện và nh́n chung đẩy trách nhiệm đó cho các chính quyền địa phương.

Qui hoạch quản lư tăng trưởng toàn bang: Các mô h́nh khác nhau

Phong trào “Quản lư tăng trưởng” ở Mỹ đă tạo ra từ thập niên 1970 một số mô h́nh qui hoạch toàn bang.  Thực tế, không có hai bang nào có cùng một mô h́nh; và đa số bang không có qui hoạch toàn bang ở bất kỳ h́nh thức nào. Florida, Oregon, Washington, Vermont, Maryland và New Jersey có lẽ là những ví dụ được biết nhiều nhất về quản lư tăng trưởng toàn bang ở Mỹ.

Phần lớn các mô h́nh quản lư tăng trưởng toàn bang dựa vào việc áp dụng sê-ri “những cách làm qui hoạch tốt nhất”, là những hướng dẫn về mặt không gian cho hoạt động đầu tư công lẫn tư.  Chúng có thể được bổ sung bằng bản đồ thể hiện những khu vực tăng trưởng ưa thích.  Trong tất cả trường hợp c̣n có các khuôn khổ luật định tham chiếu hoặc là các chương tŕnh thuộc thẩm quyền liên bang hay địa phương, hoặc thuộc cả hai, mà có thể (hoặc không) được đề cập trong bản đồ quản lư tăng trưởng toàn bang.

Một số chương tŕnh như Oregon, sử dụng các biên giới tăng trưởng, đây là một kỹ thuật qui hoạch mạnh mẽ, xác định rơ làn ranh giữa các vùng đă đô thị hóa (nơi bắt buộc phải đặt ra ngưỡng mật độ tối thiểu) và các vùng không được đô thị hóa, nơi không được phép phát triển hạ tầng. Các bang đưa ra những dự phóng về dân số và việc làm và giao lại cho từng địa hạt hành chính, các nơi này sau đó phải đưa ra những kế hoạch có thể thuyết phục các nhà qui hoạch bang và phải có đóng góp cho sự tăng trưởng chung được kỳ vọng.

Có nhiều cách phân bổ việc ra quyết định giữa bang và các cơ quan địa phương. Ở Vermont, một bang lớn với dân số nhỏ (600.000) và mạnh về truyền thống chính quyền bang, khuôn khổ quản lư tăng trưởng của bang phần lớn do các cơ quan thuộc bang điều hành, theo thẩm quyền được ấn định bởi đạo luật A-500.  Tuy nhiên, đây là khuôn khổ bất thường nếu ở những nơi khác ở Mỹ, và ở đa số các bang khác thẩm quyền của chính quyền bang bị hạn chế hơn, chủ yếu v́ sự chống đối của chính quyền địa phương.  Florida có các ủy ban qui hoạch mạnh, chịu trách nhiệm phát triển qui hoạch, đánh giá “sự đồng bộ trong hoạt động” (hay khả năng của chính quyền địa phương trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu để duy tŕ các mức phát triển dự báo) và trung ḥa giữa các chính quyền địa phương và bang.

Nếu có điều ǵ giống nhau giữa đa số các nỗ lực qui hoạch quản lư tăng trưởng toàn bang th́ đó là việc họ dựa vào một loạt chính sách “cây gậy và củ cà rốt” để thúc đẩy chính quyền địa phương hợp tác và tuân thủ những yêu cầu của chính quyền bang, thường là tập trung vào khuyến khích hơn là trừng phạt. Ví dụ ở Maryland, các chính quyền địa phương nào không tuân thủ những chỉ đạo của bang về cách thức và nơi mà tăng trưởng cần diễn ra, sẽ bị mất đặc quyền tiếp nhận ngân sách bang dành cho trường học địa phương, điều này có thể tạo ra một gánh nặng tài chính lớn.

Hệ thống của New Jersey cũng được dự báo trên ư tưởng rằng bang có thể phân bổ nguồn lực cho những thị trấn nào làm theo qui hoạch của bang, và không cấp cho địa hạt không tuân thủ. Thực tế hệ thống này không hiệu quả lắm v́ thiếu ư chí chính trị từ bang trong việc áp dụng tích cực.  Bang này đă tạo ra vô số chương tŕnh để khuyến khích những cách thức qui hoạch “sự tăng trưởng thông minh” (Chỉ định trung tâm qui hoạch bang, hỗ trợ qui hoạch, làng chuyển tiếp, phố chính…) nhưng không phân bổ được nguồn lực đáng kể để tạo sự khác biệt lớn (chẳng hạn tưởng thưởng sự tuân thủ) và cũng không trừng phạt được những ai không tham gia.

Qui hoạch bang New Jersey có một qui tŕnh sáng tạo (mặc dù rất tốn kém và thâm dụng lao động) để đạt được sự đồng bộ giữa những qui hoạch địa phương và qui hoạch bang. Người ta gọi đây là “sự chấp nhận qua lại” và kêu gọi so sánh chi tiết giữa các qui hoạch bang, hạt và địa phương, cần tạo ra danh sách theo hạng mục về mức độ phù hợp hay khác biệt giữa những qui hoạch, và đàm phán tất cả những khía cạnh khác nhau này.  Ủy ban qui hoạch bang New Jersey là cơ quan chịu trách nhiệm phát triển bản qui hoạch và đàm phán với các chính quyền địa phương, không bắt buộc phải chấp nhận những phản đối của địa phương.  Cuối cùng sẽ có một “Tuyên bố về những đồng thuận và bất đồng”, trong đó liệt kê tất cả lĩnh vực chưa được thống nhất.  Thực tế, luôn có những cách thức để thỏa hiệp và tránh sự bất đồng chính thức.  Qui tŕnh này giải quyết những khúc mắc chính trị tiềm tàng giữa bang và các chính quyền địa phương nhưng cũng làm giảm hiệu quả chính sách của bang và giảm khả năng sự qui hoạch của bang có thể thay đổi hành vi của địa phương.

Một nghiên cứu gần đây của Viện Chính sách đất đai Lincoln đă so sánh thành quả dựa trên kết quả qui hoạch tăng trưởng thông minh giữa 5 bang có các chương tŕnh quản lư tăng trưởng chính thức toàn bang và 5 bang không có chương tŕnh chính thức.  Kết quả so sánh cho thấy các bang không có chương tŕnh chính thức có thể đạt được kết quả tốt hơn trong một số lĩnh vực nhất định nếu ư chí chính trị, nguồn lực tài chính và sự ủng hộ của dân chúng cùng hội tụ để thật sự ủng hộ những chương tŕnh vững mạnh.

c̣n nữa...


* USA-Maps-Cover.jpg (90.74 KB, 471x600 - xem 1942 lần.)
« Sửa chữa bởi: 29/12/2009, 15:17 bởi Dragon » Địa chỉ IP đã được lưu lại

www.VINAARC.com
VINAARC
Administrator
Ashui-S
*****


VINAARC
Gián tuyến Gián tuyến

Giới tính: Nam
Bài: 721

hlongtr
Xem hồ sơ
« vào: 29/12/2009, 15:00 »

tiếp theo...

Qui hoạch vùng ở Mỹ ngày nay

Ngày nay, như trong quá khứ, vẫn không có khuôn khổ qui hoạch vùng chính thức trên khắp nước Mỹ, mặc dù Chính quyền Liên bang hiện nay đă nêu rơ sự quan tâm tăng cường các thể chế hiện hữu và có lẽ sẽ tạo nên những thể chế mới.  Thật vậy, qui hoạch vùng, như vốn có, được thực hiện bởi hỗn hợp các cơ quan được thành lập riêng ở cấp bang. Nó sẽ bao gồm các Tổ chức qui hoạch đô thị định hướng giao thông và Hội đồng Vùng của các chính quyền, cùng nhiều dạng tổ chức có mục đích chuyên biệt, thường mang sứ mạng môi trường như các Cơ quan kiểm soát chất lượng không khí và quản lư nước, Ủy ban Cape Cod ở Massachusetts, Ủy ban Hồ Tahoe ở California và Ủy ban Adirondacks ở New York. Trong trường hợp không có qui hoạch vùng do chính quyền tài trợ, th́ các nhóm dân sự như Envision Utah và Một ngàn Bằng hữu của Oregon – sẽ tiếp tục truyền thống mạnh mẽ lấp đầy khoảng trống này.

Các Tổ chức qui hoạch đô thị (MPOs) và Hội đồng các chính quyền (COGs) là những cơ chế phổ biến nhất đối với qui hoạch cấp cao hơn thành phố hay giữa địa phương ở Mỹ. Họ bao gồm những cộng sự t́nh nguyện của chính quyền địa phương, thường ở cấp hạt, được tạo ra chủ yếu v́ mục tiêu nhận được tài trợ giao thông từ Liên Bang, nhưng cũng có thể đảm nhận các chức năng qui hoạch khác. Vốn ngân sách giao thông liên bang từ đầu thập niên 90 đă yêu cầu có những qui hoạch giao thông đường dài ở cấp đô thị để những vùng này đạt yêu cầu nhận ngân sách của Liên bang. Các MPO và COG do một hội đồng bao gồm đại diện chính trị từ mỗi chính quyền địa phương liên kết điều hành. Các hội đồng này đề ra kế hoạch vốn, có tính đến ngân sách dự trù nhận được từ chính phủ liên bang.  MPO và COG có lực lượng nhân sự qui hoạch chuyên nghiệp và có thể hỗ trợ qui hoạch cho các chính quyền địa phương thành viên, nhưng họ không có thẩm quyền đối với quyết định sử dụng đất ở địa phương hay bất kỳ h́nh thức cơ sở hạ tầng nào, và cũng không tham gia vào những nỗ lựa bảo tồn môi trường hay phát triển kinh tế qui mô lớn.  Họ cũng không tham gia quản lư các hệ thống vận tải đường sắt (transit), mặc dù có thể tài trợ vốn cho loại h́nh này.  Các hệ thống transit thường được h́nh thành riêng biệt như cơ quan vùng, ví dụ Cơ quan Giao thông Vùng Denver (RTD) quản lư các hệ thống đường sắt tại nhẹ và xe buưt ở khu Metro Denver.

Ở New Jersey có 3 MPO: Cơ quan qui hoạch giao thông Bắc Jersey, phụ trách khu vực bắc Jersey gồm 13 hạt; Ủy ban qui hoạch vùng Thung lũng Delaware, trụ sở Philadelphia, phụ trách 4 hạt bắc Jersey; và Các tổ chức Qui hoạch Giao thông Bắc Jersey, trụ sở tại

Atlantic City, có thẩm quyền với 4 hạt ở nam Jersey. Hướng tiếp cận gần nhất đến mục đích sử dụng đất của các tổ chức này là thông qua những sáng kiến giáo dục, như công bố những kỹ thuật qui hoạch hay cách làm qui hoạch tốt nhất.

Như đă đề cập, có nhiều tổ chức hoạt động v́ mục đích đặc biệt ở cấp cao hơn thành phố. California có các Cơ quan Quản lư Chất lượng Không khí và Quản lư nước, được thành lập để quản lư tài nguyên (chất lượng không khí, cấp nước) vốn không dễ quán xuyến bởi địa phương. Sứ mạng của các tổ chức này là không toàn diện, nhưng được xác định theo tài nguyên mà họ quản lư (nước, chất lượng không khí). Do đó, họ thường không đi theo hướng qui hoạch vùng toàn diện.

Những ví dụ khác bao gồm các Ủy ban Cape Cod ở Massachusetts, Lake Tahoe ở California và Adirondacks ở New York. Tất cả những tổ chức này đều được thiết lập ở cấp bang để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hay quang cảnh/hệ sinh thái trong vùng, những nơi quá giá trị và nhạy cảm nếu để cho địa phương quản lư. Những cơ quan này thường có một số thẩm quyền về sử dụng đất, nhưng vẫn né tránh việc tiếp cận tiên phong hoặc tích cực vấn đề qui hoạch vùng toàn diện, một phần v́ rơ ràng nó không nằm trong sứ mạng của họ.

Ở New Jersey có 3 cơ quan qui hoạch vùng do bang tạo ra trong hơn 30 năm qua, đó là các ủy ban Meadowlands (đồng cỏ), Pinelands (đất thấp) và Highlands (đất cao). Tất cả do cơ quan lập pháp của bang thành lập v́ những vấn đề môi trường, với quan điểm cho rằng tự thân các chính quyền địa phương không thể t́m ra được giải pháp chính trị hay kỹ thuật.  Mặc dù gọi là “các cơ quan qui hoạch vùng”, thực chất là do có sự tham gia của nhiều chính quyền địa phương. Cho đến nay, cả ba cơ quan qui hoạch vùng này đều không thành công trong việc qui hoạch toàn diện ở qui mô vùng (nhà ở, giao thông, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường…), mặc dù họ đă thành công trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên được giao ở qui mô vùng.

Ủy ban vùng đồng cỏ (NJMC) được tạo ra để khắc phục một tai họa môi trường trong khu vực đồng cỏ Hackensack Meadowlands, là vùng đất thấp nước ngọt rộng lớn mà cả thể kỷ qua là nơi chứa chất thải đô thị, sinh hoạt và công nghiệp từ New York City và các vùng đô thị Bắc Jersey. Kết quả là nơi này bị ô nhiễm nặng. NJMC có quyền tài phán về qui hoạch, khoanh vùng và thậm chí kiểm soát cả luật xây dựng của riêng ḿnh. Đây cũng là nơi duy nhất ở New Jersey được phép theo cơ chế chia sẻ nguồn thu.  NJMC mạnh tay trong việc đóng cửa các băi rác và đề ra những kế hoạch khắc phục và t́m nguồn thu thay thế cho các đô thị, vốn phụ thuộc nhiều vào tiền phí đổ rác. Họ tích cực truy t́m nguồn gây ô nhiễm và tài trợ cho việc khôi phục các vùng đất thấp để cải thiện chất lượng nước của con sông Hackensack River bị ô nhiễm nặng và các nhánh sông. NJMC cũng phát triển thành công ngành du lịch sinh thái địa phương ở con sông, chủ yếu là tham quan chim trên vùng đất ngập nước.

Ủy ban vùng đất ngập nước (PC) thành lập đầu thập niên 80 và giám sát khu vực hơn 1 triệu mẫu Anh. Động cơ chính thành lập cơ quan này là bảo vệ vùng đầm lầy Cohansey Aquifer, một trong những vùng đầm lầy nước ngọt lớn nhất trên thế giới và là nguồn nước uống chính cho miền Nam New Jersey. Có sự quan ngại cho rằng các khu đô thị không có đủ năng lực để ra quyết định sử dụng đất và bảo vệ đầy đủ nguồn nước này. Ủy ban PC đă h́nh thành Qui hoạch quản lư vùng (RMP) xác định những khu vực tăng trưởng tương lai (nơi phải có hệ thống cấp thoát nước công cộng), những vùng hạn chế tăng trưởng tương lai (chỉ có cấp thoát nước tại chỗ cho tư nhân) và vùng không có phát triển.  PC yêu cầu qui hoạch tổng thể và khoanh vùng cho mỗi đô thị phải “đồng bộ” với RMP.  Các quyết định qui hoạch được đưa ra chủ yếu trên cơ sở tiêu chí môi trường. Kết quả, PC đă thành công trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên vốn là một phần sứ mạng của họ (ngoài vùng ngập nước, sinh vật tự nhiên các chủng loài bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng cũng được bảo vệ chặc chẽ) nhưng kém thành công trong kết quả qui hoạch.

Ủy ban vùng đất cao (HC) được thành lập 2004 và có quyền tài phán trên vùng đất rộng hơn 800.000 mẫu Anh. Lư lẽ lập pháp cho việc h́nh thành HC là bảo vệ vùng cao nguyên NJ, là vùng có nhiều đường phân nước dồi dào, nguồn cung cấp nước ngọt cho 50% dân số bang, gồm cả những vùng đông dân cư nhất. Ủy ban HC áp dụng Qui hoạch tổng thể vùng rất ngặt nghèo (RMP) năm 2008. Mô h́nh hành động nội tại (inner-acting) với hơn 80 khu đô thị chịu tác động của RMP, lại được dựa một cách lỏng lẻo theo mô h́nh vùng đất ngập nước Pinelands.  

Cũng có một số chương tŕnh mục tiêu đặc biệt do bang tạo ra và các cơ quan bang quản lư.  Ví dụ, Đạo luật rà soát các cơ sở tiện ích vùng duyên hải (CAFRA) là chương tŕnh bang, được ban hành theo những Điều khoản Quản lư Vùng duyên hải Liên bang, nó có quyền phủ quyết thẩm quyền qui hoạch và khoanh vùng của địa phương trong một khoảng cách nhất định từ mực nước cao trung b́nh và thay thế bằng tiêu chuẩn qui hoạch do một cơ quan bang ban hành, và đánh giá yêu cầu phát triển bởi chính cơ quan đó.

Các hoạt động qui hoạch vùng do dân sự tài trợ tiếp tục phát triển mạnh và trong nhiều trường hợp định ra những tiêu chuẩn ưu việt về chuyên môn.  Tiến tŕnh này do tổ chức 1000 bằng hữu của Oregon đi đầu xoay quanh kế hoạch xây dựng vùng metro Portland, với tên gọi dự án Chất lượng nước, giao thông và sử dụng đất (LUTRAQ). Dự án này có tác dụng buộc chính quyền bang và liên bang ḥa hợp những mục tiêu sử dụng đất, giao thông và chất lượng nước, và h́nh thành những công cụ tư duy và định lượng mới để đánh giá các phương pháp và chiến lược khác nhau. Ngoài ra c̣n có các ví dụ ảnh hưởng khác từ các nơi như Envision Utah, đă phát triển qui hoạch định hướng hệ thống transit cho vùng Hồ Salt Lake, và Chicago 2020: thúc đẩy các giải pháp qui hoạch vùng cho vùng Chicago và lân cận. RPA tiếp tục hoạt động mạnh ở vùng 3 bang New York kèm theo việc cấy ghép Qui hoạch vùng thứ 3.

Qui hoạch vùng/quốc gia thế kỷ 21: Sáng kiến Hoa Kỳ 2050

RPA cùng một loạt đối tác dân sự và hàn lâm khác, ở Mỹ và cả châu Âu, đă và đang khai thác ư tưởng cho rằng ở một số nơi trên thế giới khái niệm vùng đô thị truyền thống với một khu trung tâm duy nhất đă không c̣n phù hợp cho nhiều mục tiêu qui hoạch.  Thay vào đó, chúng ta nên tập trung nỗ lực qui hoạch vào những đơn vị có không gian lớn hơn, gồm các vùng đa đô thị, gắn kết với nhau bằng những kết nối chức năng phức tạp không chỉ về thị trường nhà ở hay việc làm truyền thống, mà là ḍng chảy kiến thức, thông tin và tài chính.

Những vùng rộng lớn hơn này, mà ta gọi là “siêu vùng” (mega-regions), bao gồm Hành lang đông bắc (Boston đến Washington, D.C.) và một số siêu vùng khác quanh khu vực Bắc Mỹ như Cascadia ở Tây bắc Thái B́nh Dương, miền nam California, và nơi khác.

Khái niệm siêu vùng cho thấy có những yếu tố cơ sở hạ tầng mà cá nhân các vùng đô thị không thể định h́nh được.  Có lẽ quan trọng nhất là tàu lửa cao tốc, vốn hiện đại hơn ở châu Âu và châu Á so với Mỹ.  Bản đồ hệ thống xe lửa cao tốc quốc gia nổi lên gần như là phản chiếu của bản đồ các siêu vùng, nó thừa nhận lợi thế vốn có của xe lửa cao tốc so với đường hàng không ở những thị trường có bán kính lên đến 400 dặm.

Các siêu vùng đặt ra những thách thức lớn hơn nữa xét về các khuôn khổ thể chế hoạt động, trong điều kiện có sự tham gia của vô số địa hạt hành chính. Ở Mỹ, rơ ràng chỉ có Chính phủ liên bang mới có thể cung cấp vai tṛ lănh đạo cần thiết để đưa khái niệm siêu vùng vào hoạt động thực tế.

Chủ trương siêu vùng do RPA và các đối tác đưa ra không bao gồm việc cải cách mạnh hệ thống quản trị, điều mà chúng tôi không cho là khả thi về mặt chính trị.  Thay vào đó, tổ chức này dự trù rằng các sáng kiến siêu vùng sẽ được Chính quyền liên bang, các bang, những thành phố lớn, cùng với khu vực dân sự và tư nhân ủng hộ, và rằng các cơ chế thể chế mới được thiết kế để theo đuổi hiệu quả chủ trương siêu vùng sẽ được thiết lập.

(Nguồn: Kho tư liệu Viện Nghiên cứu phát triển Tp. HCM)


* usa-map.gif (29.77 KB, 637x399 - xem 595 lần.)
Địa chỉ IP đã được lưu lại

www.VINAARC.com
Trang: [1]   Chuyển lên
  In ấn  
 
Chuyển tới:  

Liên hệ Ban quản trị diễn đàn: ASEAN TIMES ONLINE
+84 9 8888 7890 | E-mail: admin@ashui.com
URLs: vnarchitects.ashui.com, vnarchitects.com
© 2008 VNArchitects | Ashui® Corporation
Hỗ trợ bởi MySQL Hỗ trợ bởi PHP Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Powered by SMF 1.1.4 | SMF © 2005, Simple Machines LLC