$txt['colorize_color'] = 'Color';$txt['HPlocation'] = 'Project Honey Pot (all regions)'; // MOD Quick PM $txt['quick_pm'] = 'Quick PM'; $txt['change_quick_pm'] = 'Change to Quick PM'; $txt['change_quick_reply'] = 'Change to Quick Reply'; $txt['send_message'] = 'Send message'; $txt['quick_pm_desc'] = 'With Quick-PM you can write a personal message when viewing a topic without loading a new page. You can still use bulletin board code and smileys as you would in a normal personal message.'; $txt['display_quick_pm'] = 'Enable Quick PM (requires enable Quick Reply)'; // MOD Auto Merge Double Post $txt['permissionname_doublePost'] = 'Allow to do Double Post'; $txt['permissionhelp_doublePost'] = 'By Enabling this will allow them to double post.'; $txt['AutoMergePost_div'] = 'Add text when merging the post'; $txt['AutoMergePost_div_sub'] = 'You can use BBC and $date variable'; $txt['AutoMergePost_time'] = 'Time after which it will allow the bump the topic'; $txt['AutoMergePost_time_sub'] = 'Time 0 to disable the MOD and 9999 for never allow bump'; // Aeva Media extra strings $txt['aeva_gallery'] = isset($txt['aeva_gallery']) ? $txt['aeva_gallery'] : 'Media'; $txt['aeva_home'] = 'Home'; $txt['aeva_unseen'] = 'Unseen'; $txt['aeva_profile_sum'] = 'Summary'; $txt['aeva_view_items'] = 'View items'; $txt['aeva_view_coms'] = 'View comments'; $txt['aeva_view_votes'] = 'View votes'; $txt['aeva_gotolink'] = 'Details'; $txt['aeva_zoom'] = 'Zoom'; $txt['permissiongroup_aeva'] = 'Aeva Media'; $txt['permissiongroup_simple_aeva'] = 'Aeva Media'; $txt['permissionname_aeva_access'] = 'Access Gallery'; $txt['permissionname_aeva_moderate'] = 'Moderate Gallery'; $txt['permissionname_aeva_manage'] = 'Administrate Gallery'; $txt['permissionname_aeva_access_unseen'] = 'Access unseen area'; $txt['permissionname_aeva_search'] = 'Search in Gallery'; $txt['permissionname_aeva_add_user_album'] = 'Add Albums'; $txt['permissionname_aeva_add_playlists'] = 'Add User Playlists'; $txt['permissionname_aeva_auto_approve_albums'] = 'Auto-approve Albums'; $txt['permissionname_aeva_moderate_own_albums'] = 'Moderate own Albums'; $txt['permissionname_aeva_viewprofile'] = 'View anyone\'s Gallery profile'; $txt['cannot_aeva_viewprofile'] = 'You cannot view Gallery profiles'; // End Aeva Media strings $txt['display_facebook_like'] = 'Display Facebook Like icon?'; $txt['display_facebook_like_desc'] = 'Enabling this will Display the Facebook Like Icon within posts.'; $txt['display_facebook_like_all'] = 'Display Facebook Like icon in all posts?'; $txt['display_facebook_like_all_desc'] = 'Enabling this will Display the Facebook Like Icon within all posts. Note Display Facebook Like Icon has to be enabled'; TPHCM có thể tránh được ngập úng?
Ashui.com/Forum ashui
21/11/2019, 08:52  
27073 bài viết trong 10627 chủ đề bởi 205210 thành viên
Xem các bài viết mới trên diễn đàn.
Xin chào ! Bạn là khách. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký.

Đăng nhập với tên truy cập, mật khẩu và thời gian tự động thoát
VNArchitects.com
Chủ đề quan tâm: Để đăng kư thành viên, xin vui ḷng liên hệ: admin@ashui.com
 
   Trang chủ   Lịch sự kiện Thành viên Tìm kiếm Trợ giúp Đăng nhập Đăng ký  
Trang: [1]   Chuyển xuống
  In ấn  
Tác giả Chủ đề: TPHCM có thể tránh được ngập úng?  (Đọc 7293 lần)
0 thành viên và 1 khách đang xem chủ đề này.
admin
Bạn là khách
« Trả lời #12 vào: 19/11/2008, 20:36 »

Theo đồ án điều chỉnh quy hoạch chung đến năm 2025, đang chờ Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cốt xây dựng khống chế tại Tp.HCM tối thiểu đạt mức 2,05m so với mặt nước biển tại điểm Ḥn Dấu (mốc cốt chuẩn quốc gia).

Đối với đồ án quy hoạch chi tiết 1/2.000 có xác định cốt xây dựng, mỗi vùng có cốt khác nhau, như cốt xây dựng vùng Củ Chi khác vùng Nhà Bè...

Ví dụ ở khu đô thị mới Thủ Thiêm, cốt xây dựng là 2,5m (tính trên nguyên tắc mức khống chế phải từ 2,05m trở lên).

Trong quá tŕnh đô thị hóa nhanh mà chậm ban hành cốt xây dựng sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến công tác chống ngập. Việc chậm trễ quy hoạch thoát nước, quy hoạch san nền (trong đó có quy định về cốt san nền), quy hoạch vùng thấp, triều dâng... trong khi cứ quy hoạch xây dựng đô thị, xây dựng khu công nghiệp tràn lan là nguyên nhân dẫn đến t́nh trạng ngập úng trong thời gian dài vừa qua.

Cốt san nền là cao tŕnh của khu đất được phép xây dựng. Muốn dựa vào cốt nào để xây dựng, người dân phải căn cứ vào cốt xây dựng thể hiện trong đồ án quy hoạch chi tiết 1/2.000, gọi là cốt xây dựng.

Cốt chuẩn quốc gia (Ḥn Dấu), cốt chuẩn của thành phố, cốt san nền khu vực, cốt xây dựng chi tiết... cốt nào cũng có thể gọi là cao tŕnh. Trong thành phố muốn phát triển mở rộng phải xem bản đồ hiện trạng vùng nào cao hơn 2,05m mới được xây dựng, nếu thấp hơn phải san nền, bơm cát hoặc lấy cát nơi khác đổ lên.
 
Nhưng đó mới chỉ là cốt chuẩn, hay c̣n gọi là cốt thấp nhất của Tp.HCM. Muốn thoát nước mưa nhanh, Tp.HCM phải tạo độ dốc bằng những lưu vực thoát nước nên có những vùng phải san nền cao hơn cốt chuẩn có thể vài mét.

Tùy theo độ dài của cống thoát nước, mà cống thoát th́ phải đi kèm với hệ thống giao thông, cho nên có con đường dài tới 3km là v́ vậy. Từ đầu đường đến cuối đường gần sông rạch hay hố thu gom nước chênh nhau 1-2m. Nhà dân hai bên đường muốn làm nhà đồng bộ với đường chỉ có cách chờ làm đường, cống xong mới xây dựng được.

Cái khó hiện nay là các ngành quản lư đô thị của Tp.HCM lại phân cấp, phối hợp không nhịp nhàng giữa giao thông, xây dựng, điện, nước... với nhau; giữa thành phố với quận huyện; giữa quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với quy hoạch Tp.HCM và từng quận huyện... nên cốt xây dựng trên từng tuyến đường không rơ ràng.

Rồi biến đổi khí hậu, nước biển, nước triều dâng lên, khi đó cốt chuẩn quốc gia phải thay đổi dẫn đến cốt chuẩn thành phố và cốt xây dựng sẽ phải thay đổi, hệ thống thoát nước cũng phải điều chỉnh. Tất cả điều này gây tốn kém và không thể khắc phục.

V́ vậy, xem xét lại cốt chuẩn đối với thành phố đ̣i hỏi phải có nhạc trưởng và làm đồng bộ ngay từ bây giờ, phải xây dựng bản đồ ngập lụt, bản đồ triều dâng, bản đồ các vùng thấp để có biện pháp đầu tư hạ tầng cơ sở tương ứng, hạn chế phát triển đô thị về phía thấp, tổ chức tốt hệ thống thoát nước cho lưu vực và cốt xây dựng cụ thể cho từng con đường vào nhà dân...


* 30.650 tỉ đồng cho công tác xóa ngập, giảm ngập

Về chống ngập, riêng năm 2008, Tp.HCM duyệt giao 42 dự án, tổng số vốn 354,3 tỉ đồng nhưng tiến độ thực hiện c̣n chậm, kết quả đến cuối tháng 11/2008 mới giải ngân được 72,42 tỉ đồng.

Giai đoạn 2007-2010, Tp.HCM tiếp tục triển khai 15 giải pháp phi công tŕnh chống ngập và tám giải pháp công tŕnh, hoàn thành bốn dự án ODA tại khu vực trung tâm, triển khai dự án kiểm soát triều cường giai đoạn 1 và nạo vét thông thoáng toàn bộ hệ thống kênh rạch thoát nước trên địa bàn thành phố (trong đó sẽ có ba giải pháp cấp bách, tạo nên chuyển biến cơ bản và đột phá cho công tác xóa ngập, giảm ngập trên địa bàn toàn thành phố) với tổng vốn đầu tư ước tính 30.650 tỉ đồng, trong đó 12.000 tỉ đồng vốn ODA, 18.500 tỉ đồng vốn ngân sách.

KTS. Nguyễn Ngọc Dũng (Tuổi Trẻ)
Địa chỉ IP đã được lưu lại
phongcmchp
Ashui-U
*


Gián tuyến Gián tuyến

Giới tính: Nam
Bài: 113

phongcmc84@yahoo.com
Xem hồ sơ Trang chủ E-mail
« Trả lời #11 vào: 23/05/2008, 22:44 »

MẤY AH EM BÊN CẦU ĐƯỜNG VÀO CUỘC THÔI CHỨ NHỈ
Địa chỉ IP đã được lưu lại

nếu 1 ngàu em ko c̣n yêu ah nữa ah mỉm cười chấp nhận số phận, cầm điếu thuốc cho vơi nỗi buốn cầm chén rượu t́m đến nỗi sầu !
vnArchitects
Bạn là khách
« Trả lời #10 vào: 23/05/2008, 09:42 »

Sáng 22-5 đă diễn ra hội thảo về dự án thành phần số 5 và 6, thuộc dự án nâng cấp đô thị TP.HCM (HUUP), do UBND TP làm chủ đầu tư. Với dự án này, sẽ có 120km đường tiếp tục bị đào...

Theo đơn vị tư vấn gồm liên danh giữa Công ty tư vấn Angkasa Sdn.Bhd (Malaysia) và Công ty phát triển hạ tầng Thăng Long (VN), dự án thành phần số 5 và 6 sẽ đầu tư nâng cấp, cải thiện hệ thống cấp thoát nước cấp 2, 3 ngoài lưu vực Tân Hóa-Ḷ Gốm, kết nối với các hệ thống hạ tầng cấp 3 đă và sẽ được đầu tư. Đồng thời sẽ nâng cấp hệ thống thoát nước trên các tuyến đường hiện đang thường xuyên úng ngập, điều kiện vệ sinh môi trường không được bảo đảm. 

Theo đơn vị tư vấn, có bảy quận nằm trong dự án giải quyết ngập nước. Đó là Q.4, 8, 9, 12, Thủ Đức, G̣ Vấp và B́nh Tân, trong đó giải pháp chính là nâng cao mặt đường, lắp đặt tuyến cống thoát nước mới hoặc nâng cấp cống thoát nước như lắp đặt cống hộp, cống lớn thay cho cống nhỏ hoặc mương thoát nước.

Cụ thể, tại Q.9 giải quyết thoát nước cho khu vực bao gồm nhóm các đường Nam Hoa, Tây Hoa, Đỗ Xuân Hợp và các đường Lă Xuân Oai, đường số 2, số 8, đường 295. Tại khu vực Q.12 gồm đường Nguyễn Văn Quá và các đường Dương Hà Chương, Dương Hà Đắc. Tại Q. Thủ Đức các đường số 7, 183, 177, 171, 149 và 218 và trục đường nâng cấp tuyến cống thoát nước trên đường Tôn Đản (Q.4), đường Ba Đ́nh A, Ba Đ́nh B, Tuy Lư Vương, Tùng Thiện Vương, Cao Xuân Dục, Trần Nguyên Hăn, Nguyễn Duy A (Q.8)...

Tuy nhiên, trong số bảy quận này có một số quận không thể giải quyết triệt để úng ngập do khu đất nằm trong vùng có cao tŕnh thấp (vùng trũng). Như ở đường Nguyến Văn Quá và các khu vực trũng Q.12,  các khu vực phía nam Q.Thủ Đức. Tương tự là các khu vực có cao tŕnh thấp tại Q.B́nh Tân và khu vực ngập úng ở cạnh sông Vàm Thuật - Q.G̣ Vấp.

Trích dẫn

Cải thiện cuộc sống người nghèo

Theo ban quản lư  HUUP,  "Chương tŕnh nâng cấp đô thị quốc gia" là một dự án giảm nghèo, nhằm cung cấp và hỗ trợ hạ tầng cho các khu dân cư có thu nhập thấp. Chương tŕnh trên được thực hiện tại bốn TP gồm TP.HCM, Hải Pḥng, Nam Định và Cần Thơ.  Dự án nâng cấp đô thị VN (VUUP) đă được tài trợ một khoản tín dụng từ WB.   

Dự án HUUP có mục tiêu cải thiện điều kiện sống, môi trường cho người nghèo đang sinh sống tại các khu vực có thu nhập thấp của TP.HCM và dự án được thực thi một cách đồng bộ gồm cấp nước, thoát nước, giao thông…Đến  nay đă  hoàn thành giai đoạn 1 của dự án ở phạm vi lưu vực kênh Tân Hóa - Ḷ Gốm  và có khoảng 350.000 người đă hưởng lợi từ dự án này.

Chuyển ngập đến chỗ khác

Theo dự án, việc giải quyết ngập nước cho bảy quận trên tốn 76,9 triệu USD, tương đương 1.238 tỉ đồng. Phản biện về dự án, đại diện ban điều phối chống ngập nước TP cho rằng đơn vị tư vấn thiết kế lập các nhóm chống ngập nước ở từng quận đă làm không đúng với yếu tố thoát nước theo lưu vực, thậm chí c̣n chồng lấn giữa dự án này với các dự án thoát nước khác.

Điều băn khoăn nhất là sau khi làm xong dự án này, một số khu vực trong dự án sẽ giảm ngập nhưng sẽ đem ngập nước đến khu vực khác ngoài dự án. Đồng thời cho rằng dự án chỉ giải quyết ngập nước trên một số đường trục, chưa làm rơ có giải quyết ngập nước ở khu vực bên trong hai bên đường.

Đại diện Viện Kinh tế TP cũng  cho rằng đừng đem ngập nước từ chỗ này đến chỗ khác. Mặc dù tạm chấp nhận sau khi dự án hoàn thành một  số khu vực sẽ c̣n bị ngập tối đa 15cm trong ṿng 30 phút, nhưng vị đại diện Viện Kinh tế vẫn băn khoăn: đă là dự án thoát nước mà sau khi hoàn thành, dù đường c̣n ngập 10cm trong ṿng một giờ cũng gây thắc mắc ở người dân không giải thích được.

Ông Bùi Mạnh Tiến, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật TP, đề nghị  giải thích rơ v́ sao theo dự án này, trong số bảy quận vẫn c̣n năm quận chưa giải quyết ngập triệt để.

Trích dẫn

Đào đường qua 14 quận!

Theo kế hoạch, từ tháng 10-2008 đến 31-12-2012  sẽ triển khai dự án HUUP giai đoạn 2 thi công công tŕnh ngoài lưu vực kênh Tân Hóa - Ḷ Gốm. Theo đó, để thi công lắp đặt hệ thống thoát nước mới sẽ lần lượt đào nhiều tuyến đường dài tổng cộng 120km qua 14 quận ở 49 phường, trong đó chủ yếu là khu vực nội thành, gồm lắp đặt hệ thống thoát nước loại lớn từ 800mm đến cống hộp có kích thước 2.000mm.

105 công tŕnh đào đường hiện nay của các dự án vệ sinh môi trường TP, cải thiện môi trường nước TP, nâng cấp cải tạo hệ cống ṿm thoát nước… vẫn đang tiếp tục triển khai và dự kiến đến năm 2009 mới hoàn tất. 

Chờ bốn năm nữa

Theo đại diện Viện Kinh tế, đơn vị lập dự án cần nêu cụ thể phương án vốn đầu tư giải quyết thoát nước triệt để và phương án giải quyết giảm ngập, v́ nếu vốn đầu tư chênh lệch không lớn th́ cần giải quyết triệt để ngập nước.

Ông Ngô Hoàng Văn, đại diện Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật TP, cho rằng với các dự án ODA (vay vốn nước ngoài) thoát nước đang thi công như dự án vệ sinh môi trường TP Nhiêu Lộc, dự án cải thiện môi trường nước TP, dự án thoát nước Tân Hóa-Ḷ Gốm th́ đến năm 2012 TP mới cơ bản giải quyết ngập nước. Đến lúc đó, TP không c̣n lư do ǵ để biện minh v́ sao TP c̣n ngập nước, thế nhưng những dự án làm chậm th́ TP phải trả vốn và trả lăi vay. 

Đại diện ban quản lư dự án HUUP cho biết đang cố gắng đẩy nhanh tiến độ thi công dự án đă kư kết hiệp định vay vốn Ngân hàng Thế giới (WB) từ năm 2004. Bởi v́ WB đă yêu cầu kư cam kết nếu để chậm tiến độ th́ mỗi năm phải trả thêm 0,5% vốn vay, và số tiền này sẽ lên đến vài chục ngàn USD, trong khi đó Bộ Tài chính vẫn phải trả vốn vay.

Theo ông Nguyễn Hoàng Nhân - phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM kiêm giám đốc ban quản lư dự án HUUP, dự án có tổng vốn đầu tư 6.000 tỉ đồng, trong đó 139,5 triệu USD vốn vay WB và WB hứa cho vay thêm 60 triệu USD để thực hiện hạng mục nạo vét và kè bờ kênh Tân Hóa - Ḷ Gốm dài hơn 8km,  phần c̣n lại là vốn đối ứng VN. Thông qua việc cải tạo hệ thống hạ tầng, giải quyết ngập nước, khi hoàn thành dự án này vào năm 2012 sẽ có khoảng 1,8 triệu người dân nằm trong phạm vi dự án sẽ được cải thiện môi trường sống.

(Theo Tuổi Trẻ)
Địa chỉ IP đã được lưu lại
VINAARC
Administrator
Ashui-S
*****


VINAARC
Gián tuyến Gián tuyến

Giới tính: Nam
Bài: 721

hlongtr
Xem hồ sơ
« Trả lời #9 vào: 25/04/2008, 16:47 »

Ngày 24-4, UBND TP.HCM đă tổ chức hội nghị chuyên đề về dự án chống triều cường và lũ thượng nguồn cho TP.HCM do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) xây dựng.
Dự kiến dự án này sẽ hoàn tất vào khoảng năm 2011 với quy mô gồm 12 cửa cống đóng, mở khi có triều cường, lũ, cùng 160 km đê bao chạy dọc sông Sài G̣n. Số tiền đầu tư cho dự án thủy lợi trên là 500 triệu USD, từ khi khởi công đến khi hoàn thành khoảng ba năm. Tháng 6-2008, dự án này phải tŕnh Thủ tướng xét duyệt.
Tổ nghiên cứu lập dự án cho biết chức năng của dự án là ngăn triều cường và lũ từ xa để chống ngập cho thành phố. Riêng chức năng thoát nước mưa th́ dự án không đề cập. Nhiều đại biểu tham dự hội nghị tỏ ra băn khoăn về hiệu quả chống ngập của dự án. Theo ông Phạm Minh Trí, quy hoạch chống ngập úng phải đồng bộ. TP.HCM không cần triều cường mà chỉ cần có mưa cũng bị ngập, vậy sao dự án không t́m cách thoát nước mưa luôn? Ông Lâm Đ́nh Chiến kiến nghị dự án cần nghiên cứu, đề ra biện pháp khắc phục nạn san lấp kênh rạch tràn lan đă bít các ḍng chảy thoát nước ra sông ng̣i.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Đào Xuân Học cho biết tại TP.HCM, trung b́nh mỗi năm thiệt hại từ 1.500 đến 2.000 tỷ đồng do ngập gây ra. Tuy nhiên, thoát nước mưa là thoát nước đô thị nên trách nhiệm thuộc về các dự án khác. Từ năm 2001, TP.HCM đă triển khai bốn dự án thoát nước để chống ngập. Dự án của bộ chỉ liên quan đến phần thủy lợi mà thôi. Sau khi dự án này hoàn thành, hệ thống kiểm soát thủy triều luôn bảo đảm hệ thống cấp 1 ở mức thấp trung b́nh từ 0,8 m đến 0,9 m. Bộ sẽ mời những nhà chuyên môn thành lập hội đồng thẩm định phản biện lại dự án.

Ông Trịnh Công Vấn, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng thủy lợi 2, thành viên nhóm nghiên cứu dự án khẳng định: “Dự án không đi sâu vào hệ thống cống nên khả năng ngập khi có mưa vẫn xảy ra. Nói rơ vậy để người dân khỏi ngộ nhận là khi thực hiện xong dự án này (dự án của Bộ - PV) th́ sẽ hết ngập”. Theo thống kê của Sở Giao thông Công chính, thành phố c̣n 100 điểm ngập (đầu năm 2007 là 85 điểm), trong đó có 61 điểm ngập nằm ở các quận nội thành.

(Theo www.phapluattp.vn)


* 6-ngap.jpg (28.66 KB, 360x235 - xem 768 lần.)
Địa chỉ IP đã được lưu lại

www.VINAARC.com
admin
Bạn là khách
« Trả lời #8 vào: 28/03/2008, 09:30 »

Quy hoạch chống ngập cho TP.HCM: Một đề án nghiên cứu sơ sài
(SGTT)


Đừng để người dân ngộ nhận chỉ cần 11.000 tỉ đồng là hết ngập, bởi nếu gặp các trận mưa lớn th́ vẫn bó tay.

Các lư lẽ, dẫn chứng trong đề án quy hoạch chống ngập cho thành phố chưa thuyết phục được các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực chống ngập, thuỷ lợi. Việc góp ư cũng chỉ mang tính định hướng v́ thiếu số liệu, dẫn chứng khoa học.

Đề án tầm cỡ trong ba tháng

Trích dẫn
Mục tiêu xây dựng đê bao và cống như đề xuất chỉ chống lũ, triều nên khi có mưa, nếu không có các giải pháp tổng thể, thành phố vẫn b́ bơm trong nước.

Các năm qua, triều cao bất thường, nước dâng cũng xảy ra liên tục. Năm 2007 là năm có triều cường dâng cao nhất trong 50 năm trở lại đây và gây ra ngập lụt nghiêm trọng. Tuy nhiên, GS Nguyễn Sinh Huy, tổ trưởng tổ nghiên cứu đề án nói: “Việc kiểm soát triều chống ngập th́ chưa được quan tâm”. Theo GS Huy, đề án chỉ mang tính chất tóm tắt c̣n nhiều thiếu sót sẽ được nghiên cứu bổ sung trong thời gian tới.

Giáo sư Huy củng cố thêm niềm tin vào đề án này rằng đề án do tổ công tác nghiên cứu đề xuất giải pháp chống ngập úng được thành lập, thực hiện theo quyết định của bộ trưởng bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn vào giữa tháng 11.2007. Bản quy hoạch là kết quả tổng hợp nhận thức và suy nghĩ của các chuyên gia thuỷ lợi đă nhiều năm hoạt động ở thành phố. Kết quả nghiên cứu cũng có sự ủng hộ, đóng góp ư kiến của nguyên thứ trưởng bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nguyễn Giới, TS Nguyễn Hồng Bỉnh, nguyên giám đốc sở Thuỷ lợi...

Tuy nhiên thạc sĩ Hồ Long Phi, phó ban điều phối chống ngập thành phố nhận xét, bản đề án có một tầm nh́n tương đối tổng thể cho việc kiểm soát triều và lũ. Tuy nhiên, thời gian hoàn thành đề án tầm cỡ mà chỉ trong ṿng ba tháng là chưa thoả đáng.

Người dân lại b́ bơm nếu chỉ có đê và cống

Trích dẫn
13 nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành lập quy hoạch

Tổ công tác có 13 người (giáo sư Nguyễn Sinh Huy làm tổ trưởng) thuộc các cơ quan: hội thuỷ lợi, viện quy hoạch thuỷ lợi miền Nam, viện khoa học thuỷ lợi miền Nam, cơ sở 2 đại học Thuỷ Lợi, công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thuỷ lợi 2. Các thành viên là những nhà khoa học thuỷ lợi, chuyên gia quy hoạch có uy tín như: giáo sư – tiến sĩ khoa học Nguyễn Ân Niên, giáo sư – tiến sĩ Lê Sâm, phó giáo sư – tiến sĩ Lê Chí Nguyện, tiến sĩ Trịnh Công Vấn, phó viện trưởng viện quy hoạch thuỷ lợi miền Nam Nguyễn Ngọc Anh, phó viện trưởng viện khoa học thuỷ lợi miền Nam…

Phân tích thêm nhận định trên, thạc sĩ Phi, cho biết đề án chưa phân tích thấu đáo, khách quan các mối quan hệ giữa mưa – triều và lũ. Giải pháp kiểm soát triều và lũ như đề xuất, về căn bản là hợp lư nhưng chống ngập cho thành phố cần nhiều hơn thế. Với địa h́nh của thành phố, việc hạ thấp mực nước như đề nghị chỉ có thể tăng thêm một phần nhỏ năng lực thoát nước so với chuyện tăng thêm tiết diện cống thoát nước. Tuy nhiên, ông Phi cũng tỏ ra thận trọng: “Các tài liệu hỗ trợ cho đề án chưa cung cấp đầy đủ. Các ư kiến góp ư cũng chỉ mang tính định hướng”.

Tiến sĩ Tô Văn Trường, viện trưởng viện quy hoạch thuỷ lợi miền Nam – đơn vị được ông Huy liệt kê trong danh sách các đơn vị thực hiện đề án – cũng cho rằng, hiện nhiều người đă thống nhất cao và đề nghị cần nhanh chóng tŕnh thủ tướng phê duyệt sớm triển khai đề án. Trong bối cảnh “tiền hô hậu ủng”, nếu góp ư theo cách “tát nước theo mưa” th́ thật đơn giản. Theo ông, một bất hợp lư lộ khá rơ là đề án không quan tâm đến chống ngập do mưa. Trong khi, hiện nay cứ sau mỗi trận mưa, thành phố có ít nhất 40 điểm bị ngập. Mục tiêu xây dựng đê bao và cống như đề xuất chỉ chống lũ, triều nên khi có mưa, nếu không có các giải pháp tổng thể, người dân thành phố vẫn b́ bơm trong nước. Nội dung báo cáo chỉ có thể là bước đầu, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo cho đầy đủ, khoa học hơn.


Thiếu tài liệu, góp ư chỉ mang tính định hướng

Phó giáo sư – tiến sĩ Phùng Chí Sỹ, viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường: Bố cục đề án cũng chưa thật logic, khó theo dơi. Theo luật Bảo vệ môi trường 2005, trong quy hoạch phải có “đánh giá môi trường chiến lược” chứ không phải là “đánh giá tác động môi trường”. Đây là vấn đề rất phức tạp đ̣i hỏi phải xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, đề nghị bộ và tổ công tác nghiên cứu toàn diện hơn trước khi tŕnh chính phủ. Quy hoạch thuỷ lợi chỉ là một trong số các giải pháp chống ngập cho thành phố. Cạnh đó, cũng cần xét đến các giải pháp thích nghi trong trường hợp không thể chống được hoặc thực hiện khó khăn, tốn kém.

Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Tất Đắc, Hội Cơ học TP.HCM: Mực nước triều trong kênh, rạch thành phố giảm bao nhiêu th́ chưa được phân tích. Mặt khác, khi đóng cống sẽ làm giảm khả năng tiêu thoát. Hệ luỵ dẫn đến là khi mưa lớn th́ càng kéo dài thời gian ngập. Chống ngập cho thành phố không chỉ là bài toán thủy lợi mà c̣n là bài toán kinh tế – xă hội – môi trường. Kinh phí gần 11.000 tỉ đồng không lớn nhưng hậu quả về môi trường chưa được xem xét kỹ th́ về sau có tốn thêm tiền cũng không khắc phục được. Nếu tŕnh cho thủ tướng ngay các giải pháp như đề xuất phê duyệt là chưa đủ cơ sở, quá vội vă.

Phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Văn Điềm, đại học Bách khoa thành phố: 30 năm qua, thành phố thực hiện nhiều biện pháp nhưng ngập nước vẫn hoàn ngập nước th́ những nguyên nhân nêu ra có đầy đủ hay chưa? Những số liệu về mực nước biển dâng có ảnh hưởng trực tiếp đến đề xuất trong đề án nhưng chúng chưa được lư giải bằng khoa học hoặc nguồn gốc xuất xứ. Chưa xác định được biểu đồ thời gian mà lập và thực hiện quy hoạch là thiếu thuyết phục.

Tiến sĩ Tô Văn Trường, viện trưởng viện quy hoạch thuỷ lợi miền Nam: Đây là đề án lớn, rất quan trọng nhưng lại thực hiện trong thời gian ngắn đă không tránh khỏi những khiếm khuyết. Đừng để người dân ngộ nhận chỉ cần 11.000 tỉ đồng là hết ngập bởi nếu gặp các trận mưa lớn th́ vẫn “bó tay.com”. Tổ công tác cần rà soát, xem xét xây dựng lại đề án trên quan điểm chống ngập do lũ, triều và cả mưa nữa.


* ngap_nuoc_TPHCM.jpg (82.79 KB, 605x317 - xem 763 lần.)
Địa chỉ IP đã được lưu lại
admin
Bạn là khách
« Trả lời #7 vào: 11/03/2008, 22:39 »

Trích dẫn

Giới thiệu nội dung báo cáo
“QUY HOẠCH THỦY LỢI PHỤC VỤ T̀M KIẾM GIẢI PHÁP CHỐNG NGẬP LỤT CHO TP HỒ CHÍ MINH”
NGUYỄN TRUNG TÍN, UVBTV Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND TPHCM


CHƯƠNG IV
VẤN ĐỀ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
 

Đây là một vấn đề lớn cần có một đề tài nghiên cứu riêng. Sau đây chỉ là một số ư kiến đúc rút từ kết quả thực hiện các bài toán thủy lực và những nhận thức từ những diễn biến của các quá tŕnh tự nhiên và tác động con người đă nêu ở phần trên.

5.1 Hiện trạng môi trường

Hiện trạng chất lượng môi trường nước ở TPHCM hiện xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt là các vùng đô thị dân cư phát triển cả cũ lẫn mới, các khu công nghiệp. T́nh trạng ô nhiễm này kéo dài mặc dù TP đă đầu tư cho rất nhiều dự án cải thiện môi trường. Những nguyên nhân chính tạo nên t́nh trạng này đă được phân tích trong nhiều công tŕnh nghiên cứu khoa học. Dưới đây chỉ nhắc lại các nguyên nhân có liên quan chính đến vấn đề sử dụng nguồn nước trên lưu vực:

- Việc khai thác nguồn nước trên thượng lưu làm cho ḍng chảy xuống hạ lưu bé đi, kéo theo đó là sự thoái hóa của môi trường hạ du.

- Sự giảm nhỏ lưu lượng trong sông trong mùa lũ làm yếu khả năng tự làm sạch của các con sông, do đó ô nhiễm tích lũy tăng dần. Chế độ chảy 2 chiều do thủy triều biển một mặt tạo nên sự bổ sung nguồn nước sạch vào kênh rạch làm giảm mức độ ô nhiễm, song mặt khác cũng tạo nên những hạn chế: sự h́nh thành các giáp nước, những vùng giao hội, ở đó ô nhiễm tích lũy.

- Những hoạt động của con người, đặc biệt là thu hẹp lấn chiếm ḷng sông, san lấp vùng trũng đă làm cho nước tập trung vào ḷng sông, dẫn đến mức nước đỉnh triều cao lên, chân triều thấp xuống, gây ngập lụt, sạt lở bờ sông rạch.

- Sự phát triển của hạ du luôn kèm theo sự gia tăng của khối lượng chất thải mà nơi tiếp nhận chính là sông rạch. Trong phạm vi TP, trên sông Sài G̣n, chất lượng nước thuộc loại B. Trong các kênh rạch bao quanh TP mức độ ô nhiễm nguồn nước ở nhiều nơi cao gấp hàng chục, hàng trăm lần so với mức cho phép.

5.2 Dự kiến những diễn biến của môi trường khi nước biển dâng cao:

1) Xâm nhập mặn càng sâu, yêu cầu cấp nước ngọt càng lớn, các vùng đất cận duyên hải càng “xa dần” lục địa, việc cấp nước do đó càng khó khăn;
2) Ngập càng cao, chân triều cũng càng cao, nước từ các vùng trũng nội đồng càng khó tiêu thoát;
3) Đặc điểm của sông rạch vùng triều là hệ thống liên thông với nhiều điểm giao hội trong điều kiện đô thị phát triển trên vùng đất thấp ô nhiễm càng tích lũy;
4) Ngập càng cao yêu cầu rút nước càng mạnh. Hệ thống rạch, lạch triều tự nhiên sẽ tự cấu trúc lại để phù hợp với yêu cầu đó: đáy rạch càng cao theo chân triều (là hiện tượng bồi lắng) do mốc cơ bản thay đổi, trong lúc bề rộng phải tăng thêm (để đảm bảo yêu cầu thoát nước). Mật độ ḍng chảy trên các băi triều thay đổi;
5) Nói chung, khi chiều sâu ngập nước thay đổi, ḍng chảy sẽ được cấu trúc lại. Ḍng chảy sẽ phục tùng quy luật tiêu năng tối thiểu để vận động theo lộ tŕnh ngắn nhất khác với hiện tại;
6) Và nhiều biến động phức tạp khác về môi trường sinh thái.

5.3 Những tác động của công tŕnh kiểm soát nước đối với môi trường:

Do việc lựa chọn hệ thống công tŕnh kiểm soát nước ở ṿng trong cho nên cần cảnh báo trước là công tŕnh kiểm soát nước sẽ làm mức nước trên sông chính Đồng Nai - Sài G̣n, Vàm Cỏ tăng cao thêm khoảng 15-20 cm so với hiện nay. Tốc độ ḍng chảy ở các khúc quanh sẽ có xu thế tăng lên. Do đó, việc tăng cao tŕnh đê bao, mốc cốt xây dựng là cần thiết.

- Nhược điểm của hệ thống cần phải nhắc trước là công tŕnh cống sẽ thu hẹp chiều rộng, chiều sâu của kênh rạch. Điều đó nhất định sẽ dẫn đến sự tích lũy ô nhiễm ở thượng lưu công tŕnh, sự gia tăng lưu tốc ḍng chảy qua cống. Điều đó cần xem xét kỹ lưỡng trong việc lựa chọn kích thước các cống.

- Việc tốt lên của môi trường trong vùng được kiểm soát nhất định sẽ kéo theo sự gia tăng ô nhiễm của hạ lưu trên các trục thoát nước, do đó cần lưu ư đến việc vận hành công tŕnh hợp lư, bảo đảm cho môi trường hạ du không xấu đi.

- Bên cạnh nhược điểm đó, hệ thống công tŕnh, nhất là ở vùng 1 sẽ tạo cho TP một không gian phát triển rộng lớn kéo dài từ Củ Chi đến Hiệp Phước, một môi trường tốt hơn: biến ḍng chảy 2 chiều thành ḍng chảy 1 chiều, hạ thấp mức nước trong vùng kiểm soát, tạo điều kiện để giải quyết bài toán ngập lụt cho các vùng khó tiêu thoát, cải tạo ô nhiễm môi trường vùng phía Tây và Nam TP, tạo điều kiện để sử dụng nguồn nước sông Sài G̣n – Vàm Cỏ Đông vào việc cải tạo vùng trũng phía Tây TPHCM. Môi trường đất – nước vùng kiểm soát sẽ tốt lên.
 

PHẦN KẾT LUẬN
 
“Quy hoạch thủy lợi phục vụ việc t́m kiếm giải pháp chống ngập lụt cho TPHCM” được xây dựng trên cơ sở phân tích điều kiện tự nhiên, nguyên nhân gây úng ngập, điều kiện thoát lũ của các cửa sông hiện tại, đúc rút kinh nghiệm về những tác động của con người trong quá tŕnh khai thác nguồn nước, kiểm soát nước trên lưu vực. Các nhận định chính có thể tóm tắt như sau:

1) Những hoạt động của con người trên lưu vực nhằm mục đích khai thác nguồn tài nguyên nước sông Đồng Nai đă đem lại những lợi ích to lớn phục vụ cho phát triển, mặt khác cũng gây tác động lớn đến môi trường. Nguồn nước đến hạ lưu ít dần. Tác động của biển vào đất liền mạnh lên đáng kể, gây trở ngại cho việc tiêu thoát nước, ngập úng, xói lở gia tăng, ô nhiễm tích lũy. Trong đó, có những hoạt động có thể khống chế được, để làm giảm bớt ảnh hưởng xấu nói trên như: Lấn chiếm bờ sông rạch, san lấp vùng trũng, cải tạo ḷng sông lớn (uốn nắn, nạo vét, đào sâu) một cách không khoa học. Đề nghị TP ban hành các quy định nhằm hạn chế các hoạt động nói trên.

2) Phân tích những t́nh h́nh ngập triều, ngập lũ đă xảy ra gần đây cho phép kết luận: Trong trường hợp xả lũ 0.5% như quy định hiện hành, TPHCM sẽ phải chịu ngập lụt, thiệt hại rất nghiêm trọng, đặc biệt khi mực nước biển dâng do khí hậu trên trái đất nóng dần lên và cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển.

Do đó yêu cầu cần có những chủ trương về vận hành các công tŕnh thượng lưu để làm giảm nhỏ lưu lượng xả xuống hạ du, t́m cách phân lũ sang những vùng ít quan trọng để giảm bớt áp lực nước cho các vùng đô thị trung tâm.

Triều cao đă làm giảm năng lực thoát nước của các hệ thống thoát nước đô thị được xây dựng từ trước, gây ngập triều sâu hơn ở các vùng ven. Đây là bài toán bức xúc nhất cần giải quyết. Trong quy hoạch vấn đề đó được đặt lên hàng đầu và phải giải quyết trong 4 – 5 năm trước mắt.

3) Khi nói đến kiểm soát triều, người ta nghĩ đến việc kiểm soát từ xa (các cửa sông) dễ kiểm soát. Song điều đó hiện nay chưa khả thi v́ trong trường hợp lũ lớn nước chảy 1 chiều ra biển, lưu lượng tháo lũ rất lớn, phải làm công tŕnh thoát lũ rất lớn (20-30 ngàn m3/s), tốc độ ở vùng cửa sông gia tăng, gây xói lở. Có thể trong tương lai khi mức nước biển gia tăng, áp lực thủy triều lớn, ḍng chảy vùng cửa sông là 2 chiều và đặc biệt, khi lũ thượng lưu đă được kiểm soát (lưu lượng xả bé đi) phù hợp với sức chịu đựng của hạ du, chúng ta sẽ nghĩ đến việc kiểm soát các cửa sông lớn. Hiện tại chỉ nên đặt vấn đề kiểm soát nước cho vùng nội đồng là hợp lư nhất.

4) Căn cứ vào t́nh h́nh tự nhiên, những yêu cầu bức xúc trước mắt về việc kiểm soát nước và kinh nghiệm kiểm soát nước trong những năm qua, chúng tôi phân lănh thổ TP ra 3 vùng:

- Vùng 1: nằm phía bờ hữu sông Sài G̣n – Nhà Bè, khống chế phần lớn diện tích của TP, cũng là vùng có nhiều vấn đề bức xúc nhất (ngập nước vùng đô thị, kênh rạch ô nhiễm, môi trường xuống cấp...) phải được triển khai trước tiên. Trong đó, các công tŕnh hạ lưu phải được xây dựng trước để giải quyết ngập triều vùng Nam TP.

- Vùng 2: nằm ở ngă ba sông Đồng Nai- Sài G̣n là vùng đang phát triển mạnh và không khó khăn trong việc kiểm soát nước.

- Vùng 3: là vùng tả ngạn sông Nhà Bè – Soài Rạp hiện c̣n là vùng để ngỏ.

5) Vùng hữu ngạn là một không gian thống nhất (không nên chia cắt bé hơn), ở đây nhiệm vụ kiểm soát nước, thoát lũ, cải tạo môi trường là thống nhất từ trên đến dưới. Vùng này bảo đảm cho TP một không gian phát triển rộng lớn từ cửa thoát Nam Rạch Tra xuống đến Bến Lức, sông Kinh, Hiệp Phước (là nơi có nhà máy điện, các khu công nghiệp, cảng Hiệp Phước). Do không gian kiểm soát lớn nên yêu cầu khối lượng công tŕnh xây dựng khá lớn, đầu tư lớn (hơn 15 cống lớn, hàng trăm km đê, bờ bao, nạo vét nhiều kênh trục). Nếu tính các cửa bé th́ số lượng c̣n lớn hơn.

Việc vận hành một hệ thống như thế nhằm mục đích khai thác tổng hợp (đa mục tiêu) là vấn đề rất khó, đặt vấn đề nghiên cứu ngay sau khi quy hoạch vùng này được phê duyệt để đảm bảo hiệu quả công tŕnh.

6) Thực hiện được việc kiểm soát nước ở vùng 1 chúng ta có thể cải tạo được một không gian, trong đó ta có thể hạ thấp mức nước kênh rạch theo yêu cầu để tăng cường khả năng thoát nước của hệ thống thoát nước đô thị cũ, biến ḍng chảy 2 chiều thành ḍng chảy 1 chiều từ trên xuống dưới, tạo điều kiện tốt cho việc thoát lũ, cải tạo vùng đất trũng phèn phía Tây TP, cải tạo ô nhiễm môi trường nước - đất đang xuống cấp nghiêm trọng. Những kết quả tính toán được cho thấy điều đó hoàn toàn khả thi.

7) Vùng II, hẹp hơn về diện tích và đơn giản hơn về biện pháp kiểm soát, người dân có thể thực hiện được, chỉ cần Nhà nước hỗ trợ 1 phần cho xây dựng đê bao dọc sông lớn kết hợp với giao thông.

8 ) Việc chống với áp lực của nước biển dâng trong điều kiện lũ lớn là một công việc phải thực hiện lâu dài, phải chọn bước đi phù hợp.

9) Trong giai đoạn trước mắt phải thực hiện những điều tŕnh bày trong dự án trên đây để đảm bảo an toàn cho TP trước áp lực của lũ lớn và mức nước biển dâng.

10) Trong tương lai khi nước biển dâng cao hơn 0,8m chúng ta phải nghĩ đến kế hoạch kiểm soát triều ở ṿng ngoài. Dự án này không mâu thuẫn với những bước đi giai đoạn sau và bảo đảm mối liên kết với tất cả các vùng chung quanh (Đồng Nai, Đồng bằng sông Cửu Long) để đối phó với nước biển dâng trong một chiến lược chung của quốc gia.
Địa chỉ IP đã được lưu lại
admin
Bạn là khách
« Trả lời #6 vào: 11/03/2008, 22:38 »

Trích dẫn

Giới thiệu nội dung báo cáo
“QUY HOẠCH THỦY LỢI PHỤC VỤ T̀M KIẾM GIẢI PHÁP CHỐNG NGẬP LỤT CHO TP HỒ CHÍ MINH”
NGUYỄN TRUNG TÍN, UVBTV Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND TPHCM


CHƯƠNG III
QUY HOẠCH THỦY LỢI PHỤC VỤ GIẢI QUYẾT T̀NH TRẠNG NGẬP NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM
 

4.1 Mục tiêu quy hoạch:

1) Đề xuất các biện pháp kiểm soát lũ, kiểm soát triều nhằm giải quyết bài toán chống úng ngập cho toàn TP trong điều kiện có lũ lớn ở thượng lưu và nước biển dâng trong tương lai. (Mục tiêu lâu dài).
2) Đề xuất biện pháp kiểm soát triều nhằm hạ thấp mức nước triều, tăng cường khả năng tiêu thoát của hệ thống công tŕnh thoát nước đô thị ở những vùng đô thị cũ nằm trên địa h́nh thấp. (Mục tiêu trước mắt).
3) Định hướng các khung trục tiêu cho khu vực nội thành và vùng ven.
4) Xem xét việc kết hợp vận hành công tŕnh kiểm soát nước với việc cải thiện môi trường kênh rạch, cải tạo các vùng đất phèn và các mục tiêu thủy lợi khác.

4.2 Tần suất tính toán:

- Lũ thiết kế an toàn cho đô thị lớn nằm ở hạ lưu như TPHCM, theo quy phạm phải được lấy P = 0,5% (lũ lớn 200 năm mới có một lần).
- Đường quá tŕnh triều thiết kế, được lấy theo đường quá tŕnh năm 2000 có xét đến mực nước dâng 0,7m:
Trong trường hợp trên th́ mức nước ở Phú An (trung tâm TP) có thể dâng lên đến 2,5m. Đó là cơ sở để xem xét cao tŕnh đê và mốc cốt san nền trong tương lai.

4.3 Phân vùng kiểm soát nước:

Từ những phân tích đặc điểm tự nhiên, tính chất ngập lụt, khả năng kiểm soát nước ngoại lai, quy hoạch phát triển chúng tôi phân TP thành 3 vùng khác nhau về yêu cầu và giải pháp kiểm soát nước, chống ngập úng:

Vùng 1: Gồm toàn bộ khu vực bờ hữu sông Sài G̣n – Nhà Bè;
Vùng II: Khu vực ngă ba sông Đồng Nai – Sài G̣n;
Vùng III: Khu vực bờ tả sông Nhà Bè – Soài Rạp.

- Vùng I: là vùng khống chế khu vực nội thành cũ, với nhiều vấn đề bức xúc nhất về tiêu thoát nước đô thị, môi trường, cải tạo đất. Để giải quyết các vấn đề trên có thể cần xây dựng một hệ thống công tŕnh khép kín. Trên cơ sở đó tiến hành việc kiểm soát nước cho toàn vùng I. Và đó cũng là cách hợp lư để chống với triều cao, nước biển dâng.
Vùng một là vùng trọng tâm cần giải quyết trong quy hoạch này.

- Vùng II: là một vùng đang phát triển (mới) tiêu thoát thuận lợi hơn. Các vùng mới phát triển dễ dàng có thể thay đổi quy hoạch hạ tầng phù hợp với kiến trúc thượng tầng để chống ngập. Toàn bộ khu c̣n lại (nhà vườn, khu du lịch sinh thái) được bao trong hệ thống khép kín.

- Vùng III: là vùng để mở (vùng đệm) sẽ được giải quyết với các công tŕnh kiểm soát nước lớn, tùy thuộc vào t́nh h́nh nước biển dâng và quá tŕnh phát triển đô thị phía Nam. Để chống ngập trong điều kiện hiện tại có thể dùng hệ thống bao nhỏ.

4.4 Quy hoạch hệ thống công tŕnh kiểm soát nước chống ngập úng cho vùng một (khu vực nằm bên bờ hữu sông Sài G̣n-Soài Rạp).

4.4.1 Giới thiệu khu quy hoạch bờ hữu sông Sài G̣n – Soài Rạp:

1) Khu vực nghiên cứu tŕnh bày trong phần quy hoạch này nằm giữa sông Sài G̣n và sông Vàm Cỏ Đông, bao gồm các quận huyện của TPHCM và phần đất của các huyện Đức Ḥa, Bến Lức, Cần Giuộc và Cần Đước của tỉnh Long An với tổng diện tích tự nhiên vào khoảng 2.110 km2. Trừ một phần diện tích của huyện Củ Chi, Hóc Môn, quận 12, B́nh chánh, Tân B́nh,... có cao độ cao trên 2m, phần lớn c̣n lại của khu vực này có cao độ mặt đất tự nhiên rất thấp.

Vùng thấp: nằm ở phía Nam và Đông Nam Củ Chi, Đông Hóc Môn, Nhà Bè, Nam B́nh Chánh, quận 8, quận 6 với địa h́nh thấp và bằng phẳng, bị chia cắt bởi mạng lưới sông chằng chịt. Cao độ mặt đất trong những vùng này thay đổi từ 0.3¸1.0m nên bị chi phối mạnh bởi chế độ bán nhật triều.
Vùng trũng: thuộc phía Tây và Tây Nam TP là vệt trũng thấp ven kênh Thầy Cai - An Hạ. Cao độ mặt đất tự nhiên khá thấp 0.3¸0.4m . Đây cũng là nơi giáp nước của nhiều nguồn ảnh hưởng từ phía sông Sài G̣n, sông Vàm Cỏ Đông và triều biển Đông.

2) Quy hoạch tổng thể thoát nước TPHCM đến năm 2020 đă chia khu vực nghiên cứu (phần thuộc TPHCM) thành 4 vùng thoát nước mưa bao gồm vùng trung tâm, vùng Bắc, vùng Tây, và vùng Nam.
Vùng Trung tâm (C): với diện tích 106,41 km² gồm các quận 1, 3, 4, 5, 6, 10, 11 và một phần các quận G̣ Vấp, Tân B́nh, B́nh Tân, B́nh Thạnh.

Vùng Bắc (N): với diện tích 13,620 km² của các quận G̣ Vấp, 12, B́nh Chánh, Tân B́nh, B́nh Thạnh và huyện Hóc Môn.

Vùng Tây (W): với diện tích 7,991 km² gồm một phần các quận 6, 8, B́nh Tân, B́nh Chánh. Phần lớn diện tích của vùng này thuộc vùng trũng ảnh hưởng lớn của giáp nước của các con sông nên nguồn nước mặt ô nhiễm trầm trọng.

Vùng Nam (S): có diện tích lên tới 81,74 km² gồm các quận 7, 8, một phần huyện B́nh Chánh và Nhà Bè (phần lớn diện tích của huyện Nhà Bè chưa nằm trong vùng này).

Bảng 3

* Bang3.jpg (25.62 KB. 600x253 - xem 747 lần.)

3) Các dự án chính đang được xây dựng theo quy hoạch tổng thể có thể kể ra gồm:

(1) Dự án Vệ sinh môi trường lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè.
(2) Dự án Nâng cấp đô thị và vệ sinh kênh Tân Hóa - Ḷ Gốm.
(3) Dự án Nâng cấp đô thị và vệ sinh kênh Tàu Hũ - Bến Nghé – kênh Đôi, kênh Tẻ.
(4) Dự án Kiểm soát triều B́nh Triệu - B́nh Lợi - Rạch Lăng - Cầu Bông và Dự án Kiểm soát triều rạch Văn Thánh.
(5) Dự án Thủy lợi bờ Hữu, bờ Tả sông Sài G̣n.

4.4.2 Quy hoạch hệ thống công tŕnh Kiểm soát mực nước để chống ngập và tiêu thoát nước cho khu vực:

1) Hệ thống công tŕnh kiểm soát nước bờ hữu:

(1) Nhiệm vụ hệ thống:
- Sử dụng hệ thống cống kiểm soát triều hạ thấp mức nước triều cao để tăng cường năng lực tiêu thoát của hệ thống cống nội thành (quận 6, 7, 8), hệ thống Tân Hóa – Ḷ Gốm, Tham Lương – Bến Cát, kênh Đôi – kênh Tẻ, Tàu Hủ - Bến Nghé;

- Phân lũ lớn cho sông Sài G̣n (qua cống Rạch Tra, Bến Mương, Láng The);
- Thu gom và tiêu thoát lũ từ phía Tây;
- Tiêu thoát nước mưa cho các vùng đất cao (Củ Chi, Hóc Môn, G̣ Vấp, B́nh Chánh, Nam TP);
- Lấy nước sông Sài G̣n, sông Vàm Cỏ Đông (qua phối hợp các cống thượng lưu – hạ lưu) để cải tạo vùng trũng phèn Lê Minh Xuân, Láng Le, cấp nước cho nông nghiệp, cải tạo ô nhiễm toàn vùng;
- Ngăn mặn xâm nhập vào toàn vùng;
- Giữ chân triều cao phục vụ giao thông thủy.

(2) Quy mô công tŕnh:

Các cống chính: là các cống có tác dụng quyết định đến khả năng kiểm soát mức nước và cải thiện môi trường nước trong khu vực nghiên cứu. Quy mô các cống chính được tŕnh bày trong bảng 2.

Ngoài các cống lớn như đă thống kê ở bảng trên, các cống nhỏ hơn nằm trên tuyến đê bao phải được xây dựng nhằm khép kín toàn bộ khu vực nghiên cứu bảo đảm chắc chắn cho việc kiểm soát mực nước. Các cống này hoạt động theo chế độ tự động hai chiều có bề rộng cửa từ 10m đến 5m với số lượng 40 và một số cống qua đường loại nhỏ khác.

(3) Quy mô hệ thống đê bao:

Hệ thống đê bao được kết hợp trên các tuyến đường giao thông hiện hữu và quy hoạch nên quy mô tuyến đê bao phụ thuộc quy mô các tuyến giao thông. Tuy nhiên, cao tŕnh các tuyến đê không thấp hơn +2,50m và có dự pḥng nâng cấp khi có xét đến khả năng nước biển dâng lên trong tương lai. Chiều dài các tuyến đê được thống kê trong bảng 3.

(4) Quy mô hệ thống kênh trục chính.

Để bảo đảm tiêu thoát nước và cải thiện môi trường nước khu vực nghiên cứu cần cải tạo các tuyến kênh trục thoát nước chính với quy mô sơ bộ như sau:
Tuyến Vàm Thuật – Tham Lương - Bến Cát - Rạch Nước Lên đang được xây dựng giai đoạn I theo dự án đă được TP phê duyệt.

4.4.3 Lộ tŕnh thực hiện:

1) Bước 1:
- Xây dựng 6 cống lớn tại các vị trí: Phú Xuân, Mương Chuối, sông Kinh, Kinh Lộ, Kinh Hàng, Thủ Bộ và các cống nhỏ tại các rạch khác; xây dựng tuyến đê bao nối các cống (tận dụng đường giao thông có sẵn).
- Nạo vét các kênh trục thoát nước trung tâm Sài G̣n về phía Nam.
- Dự tính tổng mức đầu tư cho bước 1: 4.000 tỷ đồng.
Sau khi hoàn thành giai đoạn 1, hệ thống có thể làm giảm mực nước cao nhất trên các kênh rạch trong khu vực dưới cao độ +1,00m, đảm bảo khu trung tâm và nam TP không c̣n bị ngập do thủy triều khi triều cường vào mùa khô và do triều cùng với mưa vào mùa mưa.

2) Bước 2:
- Xây dựng các 2 cống lớn tại Rạch Tra, Vàm Thuật và các cống nhỏ tại các rạch khác nối liền các tiểu dự án hệ thống thủy lợi bờ hữu sông Sài G̣n.
- Nạo vét tuyến trục Bắc-Nam (Rạch Tra - An Hạ - Nam Sài G̣n; Vàm Thuật -Tham Lương – Bến Cát - Rạch Nước Lên).
- Dự tính tổng mức đầu tư cho giai đoạn 2: 2.000 tỷ đồng.

3) Bước 3:
- Xây dựng 4 cống tại Bến Nghé, Tân Thuận, Bến Lức, kênh Xáng Lớn, mở thông cống An Hạ hiện hữu (có thể tháo trụ giữa mở khẩu diện 2x5m=1 cửa 10m phục vụ cho giao thông thủy).
- Xây dựng hoàn chỉnh tuyến “đê bao”.
- Dự tính tổng mức đầu tư cho giai đoạn 1: 1.200 tỷ đồng.

Bảng 4

* Bang4.jpg (46.71 KB. 520x600 - xem 770 lần.)

Sau khi hoàn thành giai đoạn 3, Hệ thống “khép kín” đảm bảo kiểm soát tuyệt đối mực nước trên kênh rạch trong khu vực, ngăn chặn ảnh hưởng của hiện tượng nước biển dâng đối với khu vực dự án. Sẵn sàng kết nối với các hệ thống lân cận trong chương tŕnh thích nghi với biến đổi khí hậu.

4.5 Kiểm soát nước cho vùng ngă ba sông Đồng Nai – Sài G̣n.

4.5.1 Đặc điểm khu vực:
Là một vùng đất thấp – bồi tích của 2 sông Đồng Nai – Sài G̣n, chịu ảnh hưởng của ḍng triều, lũ từ cả 2 phía.
Cao tŕnh mặt đất khoảng từ 0,5 – 2,0m.
Đất đai là phù sa sông trên nền đất phèn.
Kênh rạch khá dày, phần lớn là các rạch, lạch triều có chức năng tiêu thoát nước từ vùng cao: Thủ Đức, quận 2, quận 9 và nước mưa rơi nội đồng ra sông Đồng Nai – Sài G̣n.
Đây là vùng thường xuyên ngập triều.
Trên vùng đất thấp này lác đác có những g̣ đất cao: G̣ B́nh Trưng, giồng Ông Tố là những khu dân cư tập trung, phần c̣n lại là đất nhà vườn, đất nông nghiệp.
Đây là khu vực dự trữ phát triển cho các đô thị hiện đại: Thủ Thiêm, trung tâm quận 2, các khu nhà vườn, du lịch sinh thái.
Có thể chia vùng này thành 2 vùng nhỏ:
- Vùng ven sông Sài G̣n (quận Thủ Đức);
- Vùng ven sông Đồng Nai (quận 2, quận 9).

4.5.2 Nhiệm vụ kiểm soát triều:
Để chống ngập nước và tiêu thoát cho vùng này lâu dài phải sử dụng 2 biện pháp:
- Đối với khu đô thị cần tôn nền vượt lũ với cao tŕnh 2,5m;
- Đối với khu nhà vườn, du lịch phải bao đê khép kín với các cống dưới đê. Có 2 cách bao được xem xét:
1) Bao theo tiểu vùng khống chế gồm các rạch lớn – không cần cống lớn;
2) Bao theo vùng lớn (vùng bưng 6 xă), cần có cống lớn ở cửa rạch (8 cống).
Các nhiệm vụ khác:
- Cải tạo sông rạch để thu gom và tiêu thoát nước cho vùng cao quận Thủ Đức, quận 9;
- Cải tạo sông rạch phục vụ giao thông (nhỏ), làm giảm áp lực nước sông Đồng Nai đối với các khu đô thị mới ven sông Sài G̣n;
- Sử dụng nước sông Đồng Nai vào cải tạo đất, môi trường.

4.5.3 Các công tŕnh cụ thể:
1) Đê bao:
- Đê bao ven sông Sài G̣n (bờ tả từ rạch Ông Dầu đến rạch Vĩnh B́nh – kết hợp đường giao thông:
Tổng chiều dài 6.000m;
Cao tŕnh đê: 2,8m;
Chiều rộng đê: 8,5m.
- Đê bao ven sông Đồng Nai, kết hợp với giao thông từ Long Phước, Long Trường, Trường Thạnh đến Phú Hữu:
Tổng chiều dài 13.500m;
Cao tŕnh đê: 3,0 – 3,2m;
Chiều rộng đê: 12m.
Các đê bao ven các rạch (bao nhỏ) hiện được các chủ nhà vườn tự xây dựng, song các đê thường xuyên bị phá vỡ bởi triều cao, phải thường xuyên gia cố.
Trong trường hợp bao nhỏ Nhà nước nên đầu tư cho đê dọc sông lớn, kết hợp với giao thông liên vùng (cần có 8 cầu giao thông nông thôn).

2) Các cầu giao thông qua kênh rạch:
Trong trường hợp bao lớn cần thiết xây dựng 8 cống kiểm soát ở các cửa rạch lớn dưới đây:
- Qua rạch Kỳ Hà: L = 50m;
- Qua rạch Giồng Ông Tố: L = 65m;
- Qua rạch G̣ Dưa : L = 65m;
- Qua rạch Ông Dầu: L = 65m;
- Qua rạch Cầu Đập: L = 35m;
- Qua rạch Bà Cua: L = 65m;
- Qua rạch Ông Nhiêu: L = 80m;

3) Cải tạo kênh rạch:
- Hoàn thành hệ thống rạch G̣ Dưa;
- Nạo vét các tuyến sông rạch thoát nước và phục vụ giao thông thủy:
Tổng chiều dài 125.000m;
Chiều rộng trung b́nh: 6 – 15m;
Chiều sâu trung b́nh: - 2.0 ÷ - 4.0m.
Các tuyến kênh cần cải tạo xem trong bảng 5.

Bảng 5

* Bang5.jpg (30.02 KB. 600x319 - xem 755 lần.)

4.5.4 Khái toán đầu tư:
Đê bao ven sông: 89 tỷ;
Cầu: 350 tỷ (để tham khảo);
Nạo vét cải tạo kênh mương: 400 tỷ.

4.6 Vấn đề kiểm soát lũ từ thượng lưu.

4.6.1 Như đă nói trên, lũ ở thượng lưu đă được kiểm soát một phần, song lưu lượng xả ứng với tần suất P = 0,5% vẫn c̣n rất lớn, vượt quá khả năng chịu đựng của một TP lớn ở hạ lưu. Do đó, về lâu dài việc xem xét vận hành công tŕnh thượng lưu có xét đến điều kiện ngập lụt của hạ lưu là rất cần thiết và khả năng thực hiện như đă được phân tích là hoàn toàn có thể.

Trên cơ sở những điều đă phân tích ở trên, chúng tôi đề xuất 5 nhiệm vụ dưới đây:

(1) Bổ sung thêm nhiệm vụ điều tiết lũ của các hồ thượng lưu. Xác định dung tích kết hợp (Vkh) để cắt lũ. Vận hành công tŕnh để kiểm soát lũ bảo đảm an toàn công tŕnh và chống ngập cho hạ du;
(2) Phối hợp vận hành xả lũ các hồ Dầu Tiếng, Trị An, Phước Ḥa và các hồ khác ở thượng lưu có xét đến chế độ ngập ở hạ du (theo triều), giảm nhẹ áp lực lũ trên sông chính;
(3) Phân lũ sông Đồng Nai sang sông Thị Vải qua sông Đồng Môn. Kết hợp phân lũ với cải tạo môi trường (vùng II);
(4) Phân lũ sông Sài G̣n qua ngă rạch Tra. Kết hợp phân lũ với cải tạo đất, môi trường (vùng I), giảm áp lực lũ cho vùng trung tâm TP;
(5) Thu gom và tiêu thoát lũ tràn từ phía Tây vào địa bàn TP qua hệ thống công tŕnh vùng I.

4.6.2 Thảo luận về cách thực hiện:

Trong nội dung kiểm soát lũ chúng tôi có đề xuất 5 nhiệm vụ, trong đó 2 nhiệm vụ đầu thuộc phạm vi giải quyết của các cơ quan quản lư công tŕnh, (các cơ quan chức năng cần nghiên cứu đề xuất chủ trương về quản lư công tŕnh hồ chứa). Riêng đối với hồ Dầu Tiếng (do Bộ NN-PTNT quản lư) chúng tôi đă có những phân tích khả năng sử dụng Vkh để kiểm soát lũ có xét thêm dự báo mưa lũ trên thượng lưu (Báo cáo: Đánh giá hiệu quả và khả năng hồ Dầu Tiếng sau khi có hồ Phước Ḥa – tháng 10-2003).

Trong trường hợp có dùng Vkh lượng nước xả tràn xuống hạ lưu có thể giảm đi 130 triệu m3 (so với thiết kế), tương ứng với mức nước trước lũ 22,3m (30 tháng 9) so với 24m (không có dung tích kết hợp). Điều đó cho thấy, việc sử dụng dung tích kết hợp để kiểm soát lũ cho hạ du sẽ làm cho mức độ an toàn của hạ du tăng lên đáng kể.

Các công tŕnh phân lũ qua sông Thị Vải; Công tŕnh phân lũ rạch Tra; Hệ thống thu gom và thoát lũ từ sông Vàm Cỏ Đông và ĐBSCL sẽ được phân tích trong bài toán thủy lực.

Kết quả của việc làm giảm nhỏ lưu lượng xả lũ xuống hạ du sẽ tạo điều kiện xem xét việc xây dựng cống kiểm soát triều trên sông lớn khi nước biển dâng cao trong tương lai.


* Bang3.jpg (25.62 KB, 600x253 - xem 747 lần.)

* Bang4.jpg (46.71 KB, 520x600 - xem 770 lần.)

* Bang5.jpg (30.02 KB, 600x319 - xem 755 lần.)
Địa chỉ IP đã được lưu lại
admin
Bạn là khách
« Trả lời #5 vào: 11/03/2008, 22:32 »

Trích dẫn

Giới thiệu nội dung báo cáo
“QUY HOẠCH THỦY LỢI PHỤC VỤ T̀M KIẾM GIẢI PHÁP CHỐNG NGẬP LỤT CHO TP HỒ CHÍ MINH”
NGUYỄN TRUNG TÍN, UVBTV Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND TPHCM


CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HIỆN TRẠNG NGẬP LỤT TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM
(PHỤC VỤ VIỆC T̀M KIẾM GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT NƯỚC HỢP LƯ)

2.1 Nguyên nhân gây ngập và đặc điểm.

1) Úng ngập ở TPHCM do các nguyên nhân: triều, lũ, mưa, các tổ hợp của chúng. Các nguyên nhân đó có những đặc điểm khác nhau, cần được phân tích làm cơ sở cho t́m kiếm giải pháp.

Phân tích nguyên nhân gây ngập lụt ta thấy thủy triều cao trong điều kiện nước biển dâng là yếu tố nền bất lợi thường gặp nhất, trên nền cơ bản đó xuất hiện mưa lớn, lũ lớn.

Lũ và triều vận động ngược chiều nhau. Triều là trở ngại chính cho việc thoát lũ, làm gia tăng ngập lụt. Do đó vấn đề kiểm soát triều phải đặt lên hàng đầu để giải quyết những vấn đề bức xúc cho TP trong hiện tại và trong tương lai khi nước biển dâng.

2) Nên đặt vấn đề kiểm soát lũ như thế nào?

Trên bảng 1 tŕnh bày lưu lượng xả lũ theo tiến độ xây dựng công tŕnh (dự kiến đến 2010 sẽ có: hồ Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Cần Đơn, Phước Ḥa; Đến năm 2020 sẽ có thêm Đồng Nai 5, Đồng Nai 6).

Từ số liệu có thể rút ra các nhận xét:

(1) Năm 2000 hồ Dầu Tiếng đă xả 600m3/s, hai hồ c̣n lại có Qxả 4.411m3/s.

Trong điều kiện đó ngập lụt đă xảy ra gây thiệt hại nghiêm trọng cho TP: làm ngập 22.344 căn nhà, di dời 2.221 hộ, phải cứu trợ 1.466 hộ.
Lũ phá hủy: 40,20 km bờ bao;
31 km kênh mương;
254 km đường nông thôn;
Mất trắng 1.472 ha lúa;
Làm ngập 4.264 ha cây ăn trái;
2.509 ha cây công nghiệp.

Nếu so sánh lũ năm 2000 với lũ thiết kế P = 0,5% ta thấy lũ thiết kế lớn gấp 5,5 lần lũ năm 2000. V́ thế, nếu lũ thiết kế xảy ra th́ vùng hạ du c̣n phải chịu những thiệt hại lớn hơn rất nhiều, nhất là trong điều kiện cơ sở hạ tầng của TP đă phát triển nhiều hơn so với năm 2000.

(2) Năm 2000 có thể thấy nước lũ từ Trị An đổ về là mối đe dọa lớn nhất.

(3) Càng làm nhiều công tŕnh thượng lưu Qxả xuống hạ lưu càng giảm. So sánh Qxả(1%) trong điều kiện hiện trạng công tŕnh với Qxả 0,5% vào năm 2020, ta thấy đến năm 2020 các công tŕnh sẽ làm giảm 20% Qcho phép xả xuống hạ du (12.369m3/s). Tuy vậy, lưu lượng lũ này vẫn c̣n lớn hơn khả năng thoát lũ của 2 sông Đồng Nai, Sài G̣n.

V́ vậy, phải t́m mọi cách để làm giảm nhỏ lưu lượng xả xuống hạ lưu (cắt lũ, hạ lưu băng biện pháp cắt lũ, điều tiết lũ, phân lũ ra các hướng để tránh ngập lụt cho vùng dân cư tập trung. Điều này có thể chứng minh hoàn toàn là khả thi).

(Xem Bảng 2)

3) Nên đặt vấn đề kiểm soát triều như thế nào?

(1) So sánh mức nước và lưu lượng dọc các sông Sài G̣n, Nhà Bè, Đồng Nai, Soài Rạp, Ḷng Tàu trong điều kiện xảy ra lũ lớn (100 năm 1 lần, 50 năm 1 lần) trong điều kiện hiện trạng và tương lai khi các công tŕnh thượng lưu được xây dựng và trong trường hợp mức nước biển dâng khoảng 0,5m có thể rút ra các nhận định sau đây: Trong điều kiện hiện tại và tương lai khi có các công tŕnh thượng lưu nước trên sông Ḷng Tàu, Soài Rạp chảy xuôi một chiều do đó công tŕnh thoát lũ phải rất lớn (lưu lượng tháo từ 20.000 đến 25.000m3/s). Do đó hiện tại chưa nên nghĩ đến việc xây dựng các công tŕnh lớn trên sông Ḷng Tàu, Soài Rạp.

(2) Trong tương lai khi nước biển dâng cao 0,5 cho đến 1 so với hiện nay nước trong sông sẽ chảy hai chiều do thủy triều mạnh lên và mức nước cao thêm và việc giảm nhỏ lưu lượng lũ bên trong đă được giải quyết, lúc đó có thể phải nghĩ đến giải pháp ngăn triều trên sông lớn ở ṿng ngoài.

(3) Như vậy trong điều kiện hiện tại nên tiến hành kiểm soát triều ở ṿng trong, nội đồng.

(4) Các khuyến cáo khác: Để chống với ngập triều cao, ngập lũ phải đắp đê bao dọc sông Đồng Nai – Sài G̣n để bảo vệ các khu đô thị, nông nghiệp nhà vườn.

Hệ thống đê phải khép kín, với các cống dưới thân đê và âu thuyền cho giao thông thủy. Đê bao khép kín cho từng vùng tùy theo cách phân vùng kiểm soát.

(5) Để chống ngập triều, ngập lũ, mốc cốt xây dựng ở các khu đô thị ven sông nên chọn Zn = + 2,5m. Độ dốc cống thoát J > 0.002 – Đô thị có cống thoát bao quanh.


* Bang2.jpg (51.12 KB, 600x507 - xem 769 lần.)
Địa chỉ IP đã được lưu lại
admin
Bạn là khách
« Trả lời #4 vào: 11/03/2008, 22:28 »

Trích dẫn

Giới thiệu nội dung báo cáo
“QUY HOẠCH THỦY LỢI PHỤC VỤ T̀M KIẾM GIẢI PHÁP CHỐNG NGẬP LỤT CHO TP HỒ CHÍ MINH”
NGUYỄN TRUNG TÍN, UVBTV Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND TPHCM


CHƯƠNG I
TỔNG QUAN

1.1 Tính bức thiết của việc nghiên cứu quy hoạch thủy lợi phục vụ việc t́m kiếm giải pháp chống ngập úng trên địa bàn TPHCM.

1.1.1 TPHCM là một trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học lớn nhất nước với dân số cũng đông nhất nước (6.424.519 người – 2006).

Thành phố có diện tích tự nhiên là 2.095.01 km2. Khu vực nội thành (với 11 quận đă đô thị hóa hoàn toàn) chỉ chiếm 106.4 km2 (5,8% tổng diện tích tự nhiên).

Dự kiến đến năm 2020 TP sẽ mở rộng lên diện tích 650 km2, chiếm 31% tổng diện tích tự nhiên, với tổng dân số 10 triệu người.

Theo quy hoạch tổng thể từ nay đến năm 2010 và định hướng đến 2020 (Chỉ thị 32/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết 20/NQ-TƯ của Bộ Chính trị) TP phải tiến hành dịch chuyển các hoạt động kinh tế từ nội thành ra ngoại thành. Quá tŕnh đô thị hóa hiện đang diễn ra khắp nơi, phần lớn theo quy hoạch tổng thể đă được phê duyệt, song do quá tŕnh diễn ra nhanh chóng, trong điều kiện tự nhiên phức tạp, nhất là trước những diễn biến bất lợi: nước biển dâng do khí hậu ấm dần lên trên toàn cầu, TP phải xem xét rà soát lại quy hoạch đă có, để đưa ra các biện pháp xử lư, ứng phó với những diễn biến bất lợi do ngập nước gây nên.

Những đặc điểm tự nhiên của TPHCM gắn với hiểm họa đó có thể nêu như sau:

1) Thành phố có gần 60% diện tích là vùng đất thấp (120.000 ha), với mạng lưới sông rạch chằng chịt (7.880 km kênh rạch chính) khoảng 33.500 ha diện tích mặt nước. Trên khu vực vùng đất thấp này có khoảng gần 1,5 triệu người dân đang sinh sống, chủ yếu bằng nông nghiệp. Đó cũng là những vùng đất dự trữ phát triển dân cư, du lịch, đô thị quan trọng... Không phải chỉ riêng vùng đất thấp ngoại thành bị ngập, mà hiện tại các vùng nội thành (quận B́nh Thạnh, quận 6, 7, 8) cũng bị ngập triều, ngập lũ nặng nề do địa h́nh thấp và có đến hàng trăm cửa cống thoát nước mưa nằm dưới mức triều cao.

2) TPHCM nằm trên vùng cửa các con sông lớn: Ḷng Tàu, Soài Rạp là các cửa thoát nước của cả hệ thống sông Đồng Nai, nên một mặt chịu áp lực của nước nguồn từ trên đổ xuống trong mùa mưa lũ, mặt khác là áp lực của biển từ dưới lên quanh năm: triều cao, xâm nhập mặn, gió băo và hiện tại là nước biển dâng do khí hậu trái đất ấm dần lên. Phần lớn phía Nam TP là vùng đất thấp – khu vực chịu áp lực thống trị của biển với chiều dài tiếp xúc với biển khoảng 75 – 80 km.

3) Lượng mưa rơi trực tiếp trên vùng đô thị cũng là nguyên nhân quan trọng gây ngập nước cho những vùng đất cao, nơi hệ thống tiêu thoát không đủ, không hợp lư hoặc xuống cấp... thuộc nội dung của các dự án khác mà TP đang triển khai.

4) Những diễn biến của ḍng chảy các sông trong vùng cho thấy lũ lụt đă xảy ra liên tục: 1978, 1984, 1991, 1996, 1999, 2000. Triều cao bất thường, nước dâng do gió băo cũng xảy ra liên tục (1997, 1999, 2000, 2002, 2003, 2004, 2006, 2007). Năm 2007 là năm có mức nước triều cường cao nhất trong 50 năm trở lại đây.

Những trận lũ năm 1996, 2000, những đợt triều cường năm 2006 và nhất là gần đây năm 2007 đă gây nên những khó khăn và thiệt hại đáng kể cho người dân TP.

1.1.2 Nếu việc kiểm soát lũ đă được đặt ra song song với việc khai thác lợi ích nguồn nước và bảo vệ an toàn công tŕnh (Trị An, Dầu Tiếng, Thác Mơ, Phước Ḥa...), th́ việc kiểm soát triều chống ngập chưa được quan tâm.

Trong những năm gần đây Liên hiệp quốc đă báo động về hiện tượng khí hậu ấm dần lên, dẫn đến hiện tượng tan băng ở 2 cực và sự dâng cao mực nước biển, dẫn đến ngập các vùng đất ở các quốc gia nằm ven biển.

Trong Tờ tŕnh của Bộ NN-PTNT gửi Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển thủy lợi trong giai đoạn đến năm 2020 cũng nhấn mạnh những biến đổi toàn diện về khí hậu, nguồn nước, trong đó nói rơ: Đến năm 2070 mức nước biển có thể nâng cao 0,90m so với hiện nay: 0,5 triệu ha đất của đồng bằng sông Hồng và 1,5 – 2,6 triệu ha đất đai của đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập bởi thủy triều nếu không có đê bảo vệ.

Như vậy, việc thực hiện các biện pháp để ngăn chặn những ảnh hưởng nước dâng, kiểm soát triều cường đă trở thành chủ trương rơ ràng cần được thực hiện. Đó là cơ sở quan trọng cho việc quy hoạch các công tŕnh kiểm soát triều, kiểm soát lũ trên địa bàn TPHCM dưới đây.

1.1.3 Việc kiểm soát triều trong điều kiện nước biển dâng, thực tế đối với chúng ta c̣n là vấn đề mới mẻ.

1) Triều biển cũng tương tự như lũ nguồn – thuộc loại có nguồn gốc ngoại lai, theo nguyên tắc nên tiến hành việc kiểm soát từ xa - ở các ṿng ngoài là hiệu quả nhất. Đối với thủy triều là kiểm soát ngay từ cửa các sông lớn (sông cấp I). Lợi ích đầu tiên là không gian khống chế rộng. Việc kiểm soát triều ṿng ngoài luôn phải đặt song song với vấn đề thoát lũ.

2) Lượng lũ thiết kế hiện nay từ thượng nguồn có khả năng tháo xuống từ 20.000 đến 30.000m3/s là một lưu lượng rất lớn do đó phải có công tŕnh thoát lũ rất lớn mới đảm bảo tháo lượng lũ thiết kế.

Trong trường hợp kiểm soát ṿng ngoài phải gắn vấn đề kiểm soát triều với phát triển kinh tế biển (Theo Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X: Đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta thành một quốc gia mạnh về biển, kinh tế biển đến năm 2020 phải đạt 53 – 55% tổng GDP).

Càng vào các ṿng trong việc kiểm soát càng dễ hơn về mặt kỹ thuật, song công tŕnh kiểm soát phân tán hơn, không gian khống chế bé hơn và đáng lưu ư là những mâu thuẫn nảy sinh giữa vùng được kiểm soát và vùng không kiểm soát.

Theo cấp sông vùng này, chúng ta có thể có 3 ṿng kiểm soát, có thể lựa chọn:

- Ṿng ngoài: Trên các cửa sông lớn (Ḷng Tàu, Soài Rạp);

- Ṿng giữa: Trên các cửa sông Sài G̣n, Vàm Cỏ;

- Ṿng trong: Các vùng nội đồng (khống chế các sông rạch cấp dưới).

Nhiệm vụ quan trọng của quy hoạch này là phân tích lựa chọn ṿng kiểm soát nước cho các giai đoạn trước mắt và lâu dài, quy hoạch các công tŕnh kiểm soát, quy mô, kích thước, nhiệm vụ.

3) Công tŕnh kiểm soát triều, ít ra ở ṿng trong (cấp III) cũng đă là một hệ thống công tŕnh lớn, cần được xem xét theo các mục tiêu lợi dụng tổng hợp: thoát lũ, chống ngập úng, cấp nước, cải tạo đất, cải tạo môi trường.

Việc quy hoạch hệ thống công tŕnh đó phải gắn với giao thông, thủy lợi, dân cư, khai thác tài nguyên và nói chung, phải phù hợp với quy hoạch phát triển tổng thể theo không gian, đặc biệt trong điều kiện TP chúng ta đang hướng ra phía biển để khai thác những tài nguyên to lớn của biển.

Cần phải nói thêm là: Quy hoạch kiểm soát triều cũng như quy hoạch kiểm soát lũ phải được tiến hành theo nguyên tắc quy hoạch lưu vực mới đảm bảo được tính bền vững lâu dài, song song với việc bảo đảm những lợi ích chung của TP và các vùng lân cận.


1.2 Bối cảnh Dự án:

Bản Quy hoạch các giải pháp chống ngập úng cho TPHCM do Tổ Công tác Nghiên cứu đề xuất giải pháp chống ngập úng cho TPHCM thực hiện (theo Quyết định số 3608/QĐBNN-KHCN do Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát kư ngày 15 tháng 11 năm 2007), gồm các thành viên: Viện Nghiên cứu khoa học Thủy lợi Nam bộ; Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng thủy lợi 2; Viện Quy hoạch thủy lợi Nam bộ; Cơ sở 2 Đại học thủy lợi; Hội Khoa học và kỹ thuật Thủy lợi TPHCM.

Thực tế bản Quy hoạch là kết quả tổng hợp nhận thức và suy nghĩ của các chuyên gia thủy lợi Bộ NN-PTNT đă nhiều năm hoạt động trên địa bàn TP về vấn đề ngập nước vùng này.

Trong kết quả nghiên cứu có sự ủng hộ và đóng góp ư kiến của đồng chí Nguyễn Giới - nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, Sở NN-PTNT TPHCM, của TS Nguyễn Hồng Bỉnh – nguyên Giám đốc Sở Thủy lợi và các chuyên gia thủy lợi TPHCM.


1.3 Những căn cứ lập quy hoạch và tài liệu cơ bản sử dụng trong nghiên cứu.

1.3.1 Những căn cứ lập quy hoạch:

1. Báo cáo tổng hợp điều chỉnh quy hoạch kinh tế xă hội TPHCM đến 2010 – UBND TPHCM 2001;
2. Nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung TPHCM đến 2020 – UBND TPHCM 2003;
3. Quy hoạch tổng thể tiêu thoát nước TPHCM đến 2020;
4. Quy hoạch sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp đến năm 2010 – Sở NN-PTNT – 2003;
5. Quy hoạch mạng lưới đường thủy và cảng TPHCM – 2003;
6. Quy hoạch xây dựng vùng TPHCM – Bộ Xây dựng 12-2007;
7. Quy hoạch thủy lợi và tiêu thoát nước TPHCM – Sở NN-PTNT tháng 11-2007.

1.3.2 Tài liệu cơ bản sử dụng trong nghiên cứu:

1. Toàn bộ các tài liệu địa h́nh, địa chất, thủy văn, khí tượng, quy hoạch nguồn nước, diễn biến ḷng sông hiện có ở các cơ quan: Viện KSQHTL Nam bộ, Viện NCKHTL miền Nam, Cơ sở 2 Trường Đại học Thủy lợi, Công ty Tư vấn HEC II được huy động phục vụ công tác nghiên cứu;

2. Các tài liệu sử dụng đất, hiện trạng và quy hoạch công tŕnh thủy lợi, t́nh h́nh ngập lụt ở TPHCM do Sở NN-PTNT TP cung cấp;

3. Trong khuôn khổ dự án này chúng tôi cũng đă tiến hành một số cuộc điều tra, khảo sát: Hiện trạng công tŕnh thủy lợi, sử dụng đất, đo đạc địa h́nh – kênh rạch cần thiết, đo đạc thủy văn một số tuyến chính.

Báo cáo tổng hợp (báo cáo đầy đủ) của quy hoạch này được xây dựng theo những quy định về nội dung báo cáo quy hoạch của Bộ NN-PTNT.

Nội dung báo cáo tóm tắt này được rút ra từ báo cáo tổng hợp với mục đích tŕnh bày những ư tưởng chính, phương pháp luận và tổng hợp kết quả nghiên cứu.


* Bang1.jpg (33.28 KB, 600x319 - xem 761 lần.)
Địa chỉ IP đã được lưu lại
admin
Bạn là khách
« Trả lời #3 vào: 11/03/2008, 22:26 »

Giới thiệu nội dung báo cáo
“QUY HOẠCH THỦY LỢI PHỤC VỤ T̀M KIẾM GIẢI PHÁP CHỐNG NGẬP LỤT CHO TP HỒ CHÍ MINH”
NGUYỄN TRUNG TÍN, UVBTV Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND TPHCM


Trong những năm gần đây Liên hiệp quốc đă báo động về hiện tượng khí hậu ấm dần lên, dẫn đến hiện tượng tan băng ở 2 cực và sự dâng cao mực nước biển, dẫn đến ngập các vùng đất ở các quốc gia nằm ven biển. Trong tờ tŕnh của Bộ NN-PTNT gửi Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển thủy lợi trong giai đoạn đến năm 2020 cũng nhấn mạnh những biến đổi toàn diện về khí hậu, nguồn nước, trong đó nói rơ: Đến năm 2070 mức nước biển có thể nâng cao 0,90m so với hiện nay: 0,5 triệu ha đất của đồng bằng sông Hồng và 1,5 – 2,6 triệu ha đất đai của đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập bởi thủy triều nếu không có đê bảo vệ.

TPHCM có diện tích tự nhiên là 2.095.01 km2 có gần 60% diện tích là vùng đất thấp (120.000 ha), với mạng lưới sông rạch chằng chịt (7.880 km kênh rạch chính) khoảng 33.500 ha diện tích mặt nước. Trên khu vực vùng đất thấp này có khoảng gần 1,5 triệu người dân đang sinh sống, chủ yếu bằng nông nghiệp, đó cũng là những vùng đất sẽ tiếp tục phát triển kinh tế, xă hội trong tương lai... Không phải chỉ riêng vùng đất thấp ngoại thành bị ngập, mà hiện tại các vùng nội thành (quận B́nh Thạnh, quận 6, 7, 8) cũng bị ngập triều, ngập lũ nặng nề do địa h́nh thấp và có đến hàng trăm cửa cống thoát nước mưa nằm dưới mức triều cao.

TPHCM nằm trên vùng cửa các con sông lớn: Ḷng Tàu, Soài Rạp là các cửa thoát nước của cả hệ thống sông Đồng Nai, nên một mặt chịu áp lực của nước nguồn từ trên đổ xuống trong mùa mưa lũ, mặt khác là áp lực của biển từ dưới lên quanh năm: triều cao, xâm nhập mặn, gió băo và hiện tại là nước biển dâng do khí hậu trái đất ấm dần lên. Phần lớn phía Nam thành phố là vùng đất thấp – khu vực chịu áp lực thống trị của biển với chiều dài tiếp xúc với biển khoảng 75 – 80 km.

Những trận lũ năm 1996, 2000, những đợt triều cường năm 2006 và nhất là năm 2007 diễn biến ngày càng phức tạp làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xă hội và đă gây nên những khó khăn, thiệt hại đáng kể cho người dân TP.

Thủ tướng Chính phủ đă chỉ đạo Bộ NN-PTNT lập tổ nghiên cứu để khẩn trương đưa ra các giải pháp chống ngập cho thành phố trước mắt và lâu dài. Qua ba tháng thực hiện, Bộ NN-PTNT đă hoàn chỉnh báo cáo: “Quy hoạch thủy lợi phục vụ việc t́m kiếm giải pháp chống ngập lụt cho TPHCM” trong đó đặt nhiệm vụ hàng đầu là phân tích lựa chọn giải pháp kiểm soát triều và lũ… cho các giai đoạn trước mắt và lâu dài. Xây dựng các công tŕnh kiểm soát này phù hợp với quy hoạch phát triển tổng thể TPHCM trên nguyên tắc Quy hoạch lưu vực để đảm bảo được tính ổn định và bền vững.

Qua hội thảo tại TPHCM vào ngày 6-3-2008 báo cáo đă được sự đồng thuận, đánh giá cao và cho rằng phải nhanh chóng tŕnh Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để sớm triển khai. Do tính chất quan trọng, cấp thiết và quy mô công tŕnh lớn, đồng chí Lê Thanh Hải UVBCT, Bí thư Thành ủy, đă chỉ đạo phải công bố rộng răi quy hoạch này trong nhân dân để lắng nghe thêm ư kiến đóng góp.

Mọi góp ư xin gởi về Trung tâm Điều hành Chương tŕnh chống ngập nước TPHCM. Địa chỉ số 176 Hai Bà Trưng, quận 1, TPHCM.

Dưới đây là toàn văn báo cáo Quy hoạch thủy lợi phục vụ việc t́m kiếm giải pháp chống ngập lụt cho TPHCM. Kính mong nhận được ư kiến đóng góp.
Địa chỉ IP đã được lưu lại
admin
Bạn là khách
« Trả lời #2 vào: 09/12/2007, 21:06 »

KS PHAN PHÙNG SANH (Phó Chủ tịch Thường trực Hội KHKT Xây dựng TPHCM):

Ứng dụng công nghệ mới làm đê, kè chống ngập úng

1/- Ứng dụng công nghệ mới “Cọc ván bê-tông cốt thép dự ứng lực dạng sóng” để làm đê bao và kè kênh, rạch. Đây là sản phẩm do Tập đoàn PS Nhật Bản phát minh cách đây 50 năm, được ứng dụng rất có hiệu quả ở Nhật. Cách đây 9 năm, Nhật đă dùng công nghệ này làm kênh dẫn nước cho Nhà máy Điện Phú Mỹ 1, với chiều dài 1.000m, rộng 45m, sâu 8,7m, đến nay công tŕnh này vẫn bền vững và bạn đă chuyển giao công nghệ cho Việt Nam (Công ty cổ phần Bê tông 620 Châu Thới, Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Vật tư).

Cách làm bờ bao như hiện nay tại TP là quá tạm bợ. Nền đất TP yếu nhưng lại đắp bờ bao bằng các loại đất nhăo nhoét, lắm hữu cơ… nên dù có gia cố bằng cừ tràm vẫn dễ dẫn đến hiện tượng xói ṃn, vỡ bờ khi thủy triều lên. Nhà nước phải chi hàng trăm tỷ đồng hàng năm để gia cố, sửa chữa (167 tỷ)… mà vẫn không bền vững, mất nhiều đất (mỗi bờ bao rộng từ 2 – 3m), thiệt hại cây trái, hoa màu, đ́nh trệ công việc làm ăn, ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, dịch sốt xuất huyết phát sinh…

Vậy tại sao không dùng cọc ván bêtông dự ứng lực dạng sóng để làm đê bao? Chỉ cần mất 1m đất chiều ngang, lại vô cùng bền vững v́ sản phẩm này làm bằng thép cường độ cao, bêtông mác cao (M700), nhờ cấu tạo “dạng sóng” nên có khả năng chịu lực tốt hơn rất nhiều so với dạng phẳng, lại dễ thi công, ít ảnh hưởng đến các công tŕnh lân cận. Tùy từng vị trí sức ép của triều cường mà chọn độ dày cọc ván khác nhau (60 – 80 – 100 – 110 – 120 – 160 – 200mm) để có giá thành hợp lư, chỉ cần một lớp ván cọc cùng dầm mũ là đă trở thành con đê xinh xắn. Cao tŕnh của đê phải đảm bảo an toàn sau 50 năm nữa. Nhà nước đầu tư xây dựng toàn bộ công tŕnh, khi hoàn thành sẽ thu hồi vốn qua “phí chống ngập úng”. Ưu điểm của cọc ván này là dễ thay thế, nơi nào không cần nữa th́ có thể nhổ lên để sử dụng ở nơi khác.

Những nơi cần kết hợp đê bao với đường giao thông th́ dùng cọc ván bê tông đóng về 2 phía rồi đổ đất, cát, đá, tráng nhựa th́ sẽ thành đường, tất nhiên phải có dầm dằng và dầm mũ.

Dùng cọc ván bêtông để làm “đập” ở các cửa kênh, rạch… có cửa đóng, mở cơ học cũng rất thuận tiện. Đóng lại khi triều cường lên quá cao, mở ra khi triều cường xuống để thay nước. Ở các cửa đập cần có “trạm bơm dự pḥng công suất lớn”, trạm bơm này chỉ vận hành khi “cần thoát nước cưỡng bức”, tức những lúc mưa to và triều cường dâng cao. V́ vậy, có thể ví triều cường là một máy bơm khổng lồ để thoát nước khi triều cường xuống nhưng không cần sử dụng năng lượng, nên ta cần khai thác triệt để cơ chế này.

Diện tích toàn thành phố ta khá rộng (khoảng 2.095km2), lại lắm kênh, rạch, nên làm đê bao cho toàn thành phố th́ rất khó. Theo chúng tôi, nên nghiên cứu làm đê bao cho “từng khu vực”, chọn các khu vực thường xuyên bị ngập do triều cường làm thí điểm trước, khi có kinh nghiệm mới mở rộng thực hiện tiếp theo.

2/- Với hơn 1.000km kênh, rạch là nơi thoát nước tốt nhất, song hiện nay lại bị lấn chiếm, san lấp vô tội vạ, lại không được nạo vét định kỳ, bao nhiêu rác, nước thải độc hại đổ hết xuống, trở thành những con “kênh nước đen”… Cần phải cương quyết giải tỏa, chỉnh trang và định kỳ nạo vét.

- Cần công khai công bố quy hoạch tất cả các kênh, rạch ở thành phố, công bố lộ tŕnh giải tỏa, khuyến khích những ai tự nguyện giải tỏa sớm (như cấp đất, đền bù thỏa đáng…), cương quyết cưỡng chế những ai đi ngược lại lợi ích của đông đảo nhân dân thành phố.

- Dùng cọc ván bê tông tiền áp để làm kè hai bờ kênh, rạch là tốt nhất, nhanh nhất… so với làm kè đá dễ bị lún nứt do làm móng ở hai bờ kênh, rạch rất khó khăn.

3/- Nếu thành phố chấp nhận dùng “cọc ván bêtông cốt thép dự ứng lực dạng sóng” để làm đê bao, kè bờ kênh, rạch… th́ nhanh chóng đầu tư cơ sở sản xuất sản phẩm này. Nếu sử dụng sản phẩm này làm kè lấn biển… th́ ít ra phải làm hàng chục ngàn kilômét chiều dài bờ biển th́ lo ǵ đầu ra cho sản phẩm.

Doanh nghiệp này vừa sản xuất vừa thi công dưới h́nh thức tổng nhận thầu xây dựng ch́a khóa trao tay, không lo thiếu việc làm v́ không những ở thành phố mà c̣n nhiều tỉnh lân cận cũng có nhu cầu. Giá thành sản phẩm lúc đó chắc chắn sẽ giảm hơn nhiều so với việc làm thí điểm (như ở thượng nguồn kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, TPHCM).

Trường hợp không muốn h́nh thành doanh nghiệp mới th́ có thể liên doanh với hai doanh nghiệp đang sản xuất các sản phẩm trên là Công ty cổ phần Bê tông 620 Châu Thới và Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Vật tư, họ đă có kinh nghiệm nhờ thi công chống sạt lở, lấn biển… ở nhiều tỉnh phía Nam.

4/- Cần có “Ban chỉ đạo hỗn hợp chống ngập, úng”, bởi chỉ một ḿnh Sở Giao thông Công chính sẽ gặp rất nhiều khó khăn v́ việc giải quyết ngập, úng liên quan nhiều ngành, nhiều quận – huyện… Ban chỉ đạo này do một đồng chí có “đủ quyền lực”, có quyết tâm cao chỉ huy, biết lắng nghe và tiếp thu những ư kiến xây dựng, đồng thời phải “quyết đoán”, không nên để “lắm thầy rầy ma”, “lắm cha con khó lấy chồng”… khiến việc giải quyết hiểm họa ngập, úng kéo dài, thiệt hại ngày càng lớn… Khối lượng công việc nhiều, đầu tư lớn nên phải có thời gian cần thiết chừng 7 – 10 năm mới hoàn thành.

5/- Khi thành phố không c̣n ngập úng th́ ngoài việc thu phí thoát nước, c̣n phải có thêm “phí chống ngập úng” để thu hồi dần vốn đầu tư, cũng như để trang trải phí vận hành cho cả hệ thống.

http://ashui.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1838&Itemid=115
Địa chỉ IP đã được lưu lại
admin
Bạn là khách
« Trả lời #1 vào: 09/12/2007, 21:05 »

Đâu là giải pháp toàn cục cho việc chống ngập úng ở TP.HCM?

Kiểm soát nước gần

Nhiều giải pháp xoá úng ngập cho TP.HCM đă được lựa chọn: tôn nền, cải tạo kênh rạch, các công tŕnh kiểm soát nước.

Với giải pháp tôn nền, toàn bộ phần thấp của thành phố sẽ được đắp đất, cát đến cao độ an toàn được chọn khoảng +2.00 m (hệ cao độ quốc gia Ḥn Dấu) đồng đều toàn thành phố là khó có thể được chấp nhận. Ngoài việc không có đủ đất san nền, hàng triệu công tŕnh hiện hữu có cao độ thấp hơn +2.00 m sẽ bị úng ngập khi tôn nền các công tŕnh dự án mới. Thêm vào đó, địa chất vùng thấp trũng thường mềm yếu sẽ phải chịu thêm gia tải việc lún theo thời gian và sạt, trượt, trồi đất hai bờ sông, kênh, rạch. Do vậy, đây chỉ là một phương án cục bộ, phối hợp cho một số công tŕnh, dự án hay vùng dự án có diện tích không lớn.

Giai đoạn 1975 - 1995, TP.HCM đă đào mới, nạo vét hàng trăm kênh, rạch. Hiện thành phố đang xúc tiến cải tạo các kênh rạch lớn ở trung tâm và vùng phát triển  như: kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, kênh Tàu Hũ - Bến Nghé, kênh Đôi - kênh Tẻ, kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên, kênh Tân Hoá - Ḷ Gốm, Suối Nhum v.v... Các dự án này đầu tư rất lớn nhưng hầu như không xoá được úng ngập v́ khi kênh rạch lớn hơn, thuỷ triều biển Đông chảy ngược vào cũng lớn hơn.

Ông Nguyễn Đăng Nhiệm, nguyên thường trực ban chỉ đạo thực hiện Quyết định 99-TTg (chương tŕnh sống chung với lũ vùng ĐBSCL) nhấn mạnh giải pháp dùng biện pháp công tŕnh để chủ động về lưu lượng, tổng lượng, mực nước, thời gian, kể cả chất lượng nước v.v... giữa trong và ngoài vùng dự án. Nước cần được kiểm soát từ tất cả các nguồn, trong đó nước triều và nước lũ là mục tiêu chính.

Thực tế  TP.HCM đă và đang xây dựng một số dự án kiểm soát nước, tiêu biểu như dự án thuỷ lợi Hóc Môn - Bắc B́nh Chánh phục vụ đa mục tiêu cho 20.000 ha, xây dựng từ đầu thập kỷ 90 với nguồn vốn của Ngân hàng Thế giới (WB). Năm 2001 - 2003 thành phố cho xây dựng cống Thầy Cai kiểm soát lũ từ sông Vàm Cỏ Đông. Để đồng bộ khép kín vùng dự án cần xây dựng công tŕnh kiểm soát nước Rạch Tra. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đang triển khai 3 dự án kiểm soát nước bên bờ hữu sông Sài G̣n và dự án Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên. Sở Giao thông công chính đang triển khai 3 dự án nhỏ cho mục tiêu kiểm soát nước ở B́nh Triệu, B́nh Lợi, Rạch Lăng và đang chuẩn bị cho dự án kiểm soát nước Cầu Bông  (trên rạch Bùi Hữu Nghĩa thuộc dự án Nhiêu Lộc - Thị Nghè). Các dự án kiểm soát nước được xây dựng đều có hiệu quả rơ rệt đối với mục tiêu giảm úng ngập.

Các công tŕnh kiểm soát nước quan trọng như Kênh Đôi - Tàu Hũ (phường 16 và 17, quận 8 ), Cây Khô, Mương Chuối, Phú Xuân, Khánh Hội, Tân Thuận... cũng cần được ưu tiên đầu tư. Riêng hai công tŕnh kiểm soát nước Tân Thuận và Khánh Hội có khả năng đầu tư sau các công tŕnh trên tuỳ thuộc kết quả tính toán thuỷ lực.

Và kiểm soát nước từ xa...

T́nh trạng úng ngập ở TP.HCM có liên quan đến các nguồn nước nên cần có các công tŕnh kiểm soát nước từ xa. Việc kiểm soát lũ ở các hồ chứa trên hệ thống sông Đồng Nai đă được phối hợp cùng các ban quản lư công tŕnh triển khai. Nhưng các công tŕnh kiểm soát nước từ phía tây thành phố gần như vẫn c̣n để ngỏ. Từ Đồng Tháp Mười nơi hàng năm có từ 2.100 đến 4.000 m3/s lũ đổ vào sông Vàm Cỏ nhưng hiện chưa có công tŕnh kiểm soát lũ nào được xây dựng. Trên sông Vàm Cỏ, TP.HCM mới xây dựng một số tuyến đê ven sông Cần Giuộc, Chợ Đệm, cống Thầy Cai v.v... Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đang cho lập nghiên cứu tiền khả thi công tŕnh thuỷ lợi sông Vàm Cỏ (dưới hợp lưu sông Vàm Cỏ Tây và Vàm Cỏ Đông) để kiểm soát triều, lũ, ngọt, môi trường, giao thông thuỷ bộ.v.v... phục vụ đa mục tiêu cho thành phố và tỉnh Long An.
Địa chỉ IP đã được lưu lại
admin
Bạn là khách
« vào: 09/12/2007, 21:04 »

Hồi thập niên 50, báo chí Sài G̣n từng có vài phóng sự hấp dẫn về mẹo của những người nghèo muốn kiếm nguồn thực phẩm bổ dưỡng ngay giữa trung tâm đô thị. Họ đợi lúc triều xuống, lén chui vào một cửa ống cống, đi luồn trong các đường ống để câu, bắt cá, tôm rồi leo lên tại một miệng hầm khác...

Ngày đó Sài G̣n được quy hoạch với quy mô khoảng 140 km2 cho mức số dân sẽ có khoảng 1 triệu người. Đô thị chỉ mới đông dân ở các khu vực quận 1, 3 và vùng Chợ Lớn thuộc các quận 5, 6, 11. Hệ thống thoát nước trước 1954 chỉ mới xây dựng khoảng 113 km. Các cống ṿm xây bằng gạch làm nơi chứa nước mưa, nước thải để đường ống dẫn ra các cửa xả nơi các ngơ sông, rạch chằng chịt chảy ra các vùng bưng biền, đầm hồ. Mưa đổ xuống vào cống theo luồng triều rút nhanh nên ḷng cống vẫn c̣n sạch, cá tôm lạc loài vẫn làm nơi ẩn náu...

Qua những năm chiến tranh, dân số Sài G̣n dần tăng cao. Nhà cḥi, nhà ổ chuột bắt đầu mọc lên ven kênh rạch, dựng trên cả các cửa ṿm miệng cống. Sau 1975, dân số lại tăng đột biến, đô thị phát triển nhanh ra các quận ven (Tân B́nh, G̣ Vấp, quận 8, B́nh Thạnh), mật độ xây dựng trở nên dày đặc. Tiếp đó, từ 1997, đô thị hoá h́nh thành thêm các quận mới (quận 7, 2, 9, 12, Thủ Đức), rồi B́nh Tân, Tân Phú... Bây giờ việc t́m kiếm cá, tôm trong ống cống vào mùa mưa là việc bất khả thi.

Thành phố nay có hơn 7 triệu dân, quy hoạch thoát nước đô thị (cả hệ thống cống và kênh rạch thoát nước tự nhiên) được tính cho quy mô 60.000 ha nhưng tổng chiều dài các cống thoát nước cấp 2, cấp 3 đến nay chỉ mới xây dựng ra khoảng 944 km, đáp ứng khoảng 30% yêu cầu. Nhiều tuyến đường, khu dân cư ra đời mà không có cống thoát nước nên mưa xuống, lụt lội đă đành mà mùa khô lúc triều lên cũng gây ngập. Tính đến cuối 2006, toàn thành phố có 124 điểm ngập nặng, trong đó 105 điểm được đưa vào chương tŕnh chống ngập.

>> http://ashui.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1407&Itemid=115
Địa chỉ IP đã được lưu lại
Trang: [1]   Chuyển lên
  In ấn  
 
Chuyển tới:  

Liên hệ Ban quản trị diễn đàn: ASEAN TIMES ONLINE
+84 9 8888 7890 | E-mail: admin@ashui.com
URLs: vnarchitects.ashui.com, vnarchitects.com
© 2008 VNArchitects | Ashui® Corporation
Hỗ trợ bởi MySQL Hỗ trợ bởi PHP Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Powered by SMF 1.1.4 | SMF © 2005, Simple Machines LLC