Lời đề tựa

Với hình thức như hiện tại thì công cuộc xây dựng theo mô hình Xanh ở Châu Á cần được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và đó là một nhu cầu cấp thiết. Ở vị trí tâm điểm của vấn đề cần làm rõ, quá trình Xanh hóa là sự phân đoạn của tư duy – các ý tưởng tốt cùng tồn tại với các ý tưởng chưa tốt – điều này dẫn đến các kết quả mâu thuẫn, đôi khi chẳng mang ý nghĩa gì. Một công trình được phép công bố là Xanh nếu công trình đó có một hệ thống làm mát có hiệu quả về mặt năng lượng, cho dù công trình đó được bọc kính và lớp vỏ bọc bằng kính đó làm tăng đáng kể công suất làm mát. Đó là điều làm một công trình không có gì nổi bật trong hiệu năng thể hiện hàng ngày, tuy vậy vẫn được coi là Xanh bởi vì yếu tố Xanh được chứng thực trên bản vẽ thiết kế. Có một số điểm trong tư duy của giới kỹ nghệ tạo điều kiện cho việc chấp nhận các kết quả này. Khi Châu Á đón nhận xây dựng Xanh – sử dụng các thuật ngữ bền vững Xanh thay thế cho nhau – xu thế này đang ngày càng trở nên rắc rối.

Cuốn sách Xanh hóa Châu Á bắt đầu bằng việc xem xét tác dụng mang tính trấn an của thuật ngữ Xanh, sự chấp nhận rộng rãi những quy ước Xanh hóa. Cuốn sách này hướng sự quan tâm đến một số dự án phát triển mới mang tính khích lệ xu hướng nói trên và từ đó rút ra các nguyên tắc cho sự tiếp cận ngày một rõ nét đến thiết kế bền vững.

Những vấn đề xuất hiện trước xu thế Xanh hóa ở Châu Á – trường phái sinh khí hậu, tính chất nhiệt đới, chủ nghĩa vùng miền – đã xuất hiện đâu đó trong những thập niên 1960, 1970 và 1980, phần nào là sự phản ứng lại các ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa tràn qua khu vực này.1 Thập niên 1990 đem đến sự cải cách về thị trường và quá trình tư nhân hóa, những điều này đã làm tăng tốc sự đổi thay tại nhiều nước Châu Á, nhất là ở các nền kinh tế đã từng bị nhà nước kiểm soát như Trung Quốc và Ấn Độ. Những tác động tiêu cực về xã hội và môi trường của sự chuyển hóa này khiến người ta phải xem xét lại vai trò mà các công trình xây dựng và các đô thị cần phải thể hiện. Những nền kinh tế quốc gia và quốc tế dễ bị tác động do sự lên xuống của giá dầu mỏ và các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Thực tế này đã đặt lại vấn đề rằng những công trình xây dựng – với vai trò là các nguồn tiêu thụ và nguồn phát thải – sẽ phải hiệu quả hơn và tỏ ra có trách nhiệm hơn. Sự quy tụ trong cách thức nhìn nhận các yếu tố tạo nên một công trình Xanh đã và đang lan truyền nhanh chóng và rộng khắp; tại Châu Á, tiến độ thông qua mô hình phát triển Xanh đã tăng lên kể từ năm 2005. Lần thống kê sau cùng cho thấy có tới 13 công cụ đánh giá công trình Xanh, trợ giúp cho các hoạt động kiểm toán của bên thứ ba và sự cấp giấy chứng nhận. Hiện còn khá nhiều sự trùng lặp trong cách thức mà các công cụ nói trên được thiết lập và quản lý. Mỗi công cụ có những hạng mục đánh giá gần giống nhau – năng lượng, nước, địa điểm, môi trường trong nhà – qua đó cho thấy các cơ hội làm giảm nhẹ tác động. Các hạng mục đạt được do tuân thủ các tiêu chuẩn được tính vào điểm số mà những điểm số sau này sẽ là cơ sở cho công tác đánh giá một dự án.

Gần như toàn bộ các công cụ đánh giá ở Châu Á đã được điều chỉnh từ một số bộ công cụ gốc được thiết lập cho khu vực Bắc Mỹ và Vương Quốc Anh với những điều kiện riêng tương ứng.2 Khi các công cụ đã được điều chỉnh cho phù hợp với một bối cảnh đặc thù nào đó, các điểm số được tính cho mỗi hạng mục được tuân thủ sẽ phải thay đổi để phản ánh những đặc trưng của khu vực ấy xếp theo thứ tự ưu tiên. Người ta đã ghi nhận những nỗ lực khác nhằm thích ứng hóa một công cụ (ví dụ như lồng ghép với các bộ luật sở tại), tuy nhiên mục tiêu tổng thể thì về bản chất là giống nhau: giảm sự tiêu thụ tài nguyên và tác động bất lợi đến môi trường, cải thiện sức khỏe và sự tiện nghi cho người sử dụng công trình. Trường hợp của thuật ngữ Xanh gần như luôn được chỉ ra trong ngôn từ về số lượng – được thể hiện qua các hệ số, các nồng độ, sự hiệu quả, lợi nhuận đem lại – được bàn bạc, tranh luận như là sự tối ưu hóa trên bản vẽ thiết kế.

Vấn đề mà ít công cụ đòi hỏi – điều đặc biệt quan trọng đối với điều kiện của Châu Á – là cần phải làm gì để các cộng đồng tiêu thụ ít nguồn lực có thể bắt đầu. Điều gì sẽ xảy ra nếu vấn đề cấp bách chưa phải là việc tiêu thụ, mà thực sự là chất lượng cuộc sống? Ở đây có những sự chỉ trích rằng việc tiếp cận vấn đề Xanh hóa công trình dựa trên các công cụ không đề cập đầy đủ những đặc điểm nổi bật của mỗi khu vực và sự khác biệt về mặt văn hóa, rằng các công cụ đó phần nhiều là “một sự tiếp cận mang tính máy móc của giới kỹ trị, theo chiều từ trên xuống dưới, thiếu tính cụ thể và thiếu sự cam kết ràng buộc về xã hội và sinh thái”.3 Liệu yếu tố Xanh, với trọng tâm về công nghệ và tối ưu hóa, có cho chúng ta thấy một viễn cảnh về cái gọi là “bền vững” ở Châu Á?

Cần phải nói rằng về mặt định nghĩa thì Xanh không hoàn toàn giống với bền vững. Xanh là một thước đo có tính tương đối, một luận điểm mang nghĩa ít gây hại hơn. Một công trình được cho là Xanh nếu công trình đó tiêu thụ hoặc phát thải ít hơn một mức chuẩn nào đó được ấn định từ trước. Tính bền vững thì khó đo đạc hơn.

Vẫn chưa có một phép đo lường đơn giản nào gói gọn tính bền vững trong công trình. Bền vững có nghĩa là sinh sống được trong khả năng cung cấp của hành tinh chúng ta, tốc độ tiêu thụ hoặc phát thải không nhanh hơn so với những gì có thể được thay thế hoặc sửa chữa một cách tự nhiên. Nói cách khác, đó là không gây tổn hại. Thiết kế bền vững bắt đầu bằng sự hiểu biết về mối liên hệ qua lại giữa công trình và môi trường theo nghĩa rộng. Bền vững đòi hỏi phải có tầm nhìn quốc tế, mang tính chính luận và có mối liên hệ qua lại, trong đó những vấn đề sinh thái được quan tâm cùng với nhu cầu về xã hội và kinh tế của các cộng đồng dân cư.

Sự khác biệt căn bản giữa Xanh và Bền vững là ranh giới hệ thống mà trong đó một công trình được xem như là đang vận hành. Một hệ thống được định nghĩa bởi các giới hạn mà trong đó các yếu tố của hệ thống tương tác với nhau. Nếu mục đích của Xanh hóa là làm cân bằng sự tiện nghi và sự tiêu thụ trên năm năm (thời gian ở đây như là ranh giới cho sự trao đổi) thì nỗ lực có được trang thiết bị điều hòa không khí hiệu quả về mặt năng lượng là một sự lựa chọn, bởi vì hệ thống này cho phép tính toán được cụ thể việc giảm năng lượng tiêu thụ và các chi phí vận hành. Nếu ngưỡng cân bằng tăng lên đến 20 năm thì sẽ kém chắc chắn hơn, nhiều rủi ro hơn, bởi vì chúng ta không thể giữ cố định nguồn cung ứng năng lượng hoặc giá thành năng lượng. Khi đó việc thiết kế dự phòng những tình huống bất ngờ có thể xảy ra và yêu cầu làm cách nào để duy trì được tiện nghi bên trong công trình nếu hệ thống làm mát cơ khí không đạt được độ tin cậy sẽ trở nên cấp thiết. Hệ thống được lắp đặt có thể vẫn là hệ thống điều hòa không khí, hiện tại sẽ chỉ được hỗ trợ bởi cách đặt ở chế độ hỗn hợp ít tiêu thụ năng lượng hoặc bằng cách thông gió tự nhiên, biện pháp cho phép công trình tiếp tục vận hành mà không phải lắp đặt thêm thiết bị hoặc không phải xây dựng lại. Giá trị đề xuất ra ở đây – với ranh giới về thời gian được kéo dài – không chỉ đơn thuần là khoản tiền tiết kiệm được từ năng lượng, mà còn là sự mềm dẻosự thích ứng. Thay đổi về ranh giới sẽ thay đổi hẳn cách thức mà chúng ta đánh giá mức độ thành công và tiến trình hành động.

Về mặt tri thức, cuốn sách này có được là nhờ Peter Buchanan. Mười sắc thái của Xanh là một triển lãm được phụ trách bởi Buchanan năm 2000, và sau này là một cuốn sách cùng tên. Hệ thống ký hiệu mô tả khác thường và có phần chất phác của ông về Xanh đã được xuất bản vài năm trước khi các công cụ đánh giá trở nên gắn bó chặt chẽ với chủ đề. Buchanan đã chọn ra mười công trình có hiệu năng cao ở Châu Âu và Bắc Mỹ để từ đó ông đã rút ra mười đặc điểm của Xanh. Một vài đặc điểm trong số đó mang tính báo trước những gì ngày nay được đặt vào tâm điểm của chương trình nghị sự Xanh: tiêu thụ ít năng lượng, hiệu năng cao, tái chế, sức khỏe. Một vài đặc điểm thời đó chưa được biết tới: sự gắn kết hay lồng ghép đúng chỗ, niềm hạnh phúc, cuộc sống dài lâu / sự khớp lỏng. Điều hấp dẫn khiến ông đi sâu vào chủ đề này là sự liên kết của các ý tưởng nhằm phục vụ cho một ý tưởng tổng thể lớn hơn. Ví dụ như Cuộc sống dài lâu / Sự khớp lỏng nói về công trình như là một tập hợp các điều kiện thay đổi thường xuyên trong suốt thời gian công trình đó tồn tại. Ở đây có một sự khước từ ngầm định nhằm giới hạn tiến trình ở mức độ các phép đo đạc định lượng. Trạng thái mà người ở cảm thấy khỏe khoắn hàm nghĩa rộng hơn là chỉ đơn thuần tạo ra một mức nhiệt độ phòng phù hợp, điều đó còn đề cập đến vị trí của mỗi cá nhân trong một cộng đồng. Mười sắc thái Xanh, xét trên nghĩa này, tỏ ra chân thực đối với đường biểu diễn bộ ba phía dưới cùng của sự bền vững (Con người – Hành tinh – Lợi nhuận) hơn hầu hết các hệ cấu trúc khung ngày nay. Trong thập kỷ qua kể từ sau cuộc triển lãm được tổ chức và cuốn sách được ra mắt công chúng, chúng ta đã quên cách thức liên kết. Xanh hóa đã trở thành một hành vi phân tách các yếu tố để nghiên cứu riêng bản chất mà thiếu một kịch bản lắp ráp các thành phần trở lại như trước khi phân tách. Có một số lời chỉ trích cách thức tiếp cận của Buchanan và những lời phê phán đó cũng có thể nhắm đến cuốn sách này. Sẽ là đáng giá khi bắt đầu với một vài nhân tố đáp ứng đầy đủ các điều kiện đặt ra trên lộ trình dự kiến sẽ phải đi.

Thứ nhất, thảo luận về chủ đề bền vững ở cấp độ công trình sẽ gặp nhiều bất cập. Nhiều vấn đề diễn ra trên cấp độ khu ở hoặc cấp độ đô thị cho thấy tầm quan trọng, và những gì mà các cấp chính quyền thực hiện cũng vậy. Nhiều viện nghiên cứu và hiệp hội chuyên môn chú tâm đến vấn đề có quy mô rộng lớn hơn cho đô thị ở Châu Á. Họ mô hình hóa tương lai theo cách thức liên kết hình thái đô thị và hình thái kiến trúc với vấn đề tiêu thụ và chất lượng cuộc sống. Điều này có nghĩa là rất ít các dự án được triển khai xây dựng ngày nay có được chỗ đứng trong một đô thị sinh thái được lý tưởng hóa. Các nhóm dự án vẫn nhận thiết kế mỗi lần một công trình, thông thường đặt trong một bối cảnh được thiết kế hết sức nghèo nàn và không có tầm nhìn dài hạn. Công trình đứng đơn lẻ – một mảng dành để thảo luận trong cuốn sách này – có khả năng đặt ra những hạn định đối với lý thuyết về các đô thị tương lai, tuy nhiên điều này tiếp tục là một thực tế của cuộc sống thể hiện trên bản vẽ thiết kế. Cuốn sách sẽ bổ ích nhất đối với những người làm công tác thiết kế và các cá nhân hay các bên thuộc giới kỹ nghệ có liên quan tới việc kinh doanh xây dựng các công trình, và cho cả những người làm công tác giáo dục, những người phải giảng dạy các vấn đề tương tự.

Thứ hai, cuốn sách này tự đặt mình vào trong một sự thay đổi phức tạp và nhanh chóng tràn qua khu vực Châu Á. Những động lực của sự thay đổi này, như chúng ta đã biết, là yêu cầu đặt ra cho sự phát triển – sự gia tăng theo từng năm tổng sản lượng quốc gia (GDP) và sự kỳ vọng tiếp theo là về cải thiện phúc lợi. Cuộc đối thoại này, hầu hết giữa thị trường và chính quyền, trở nên mâu thuẫn giữa giá trị ngắn hạn của các công trình với vai trò là cỗ máy thu hút vốn đầu tư và tác động lâu dài của các công trình đó, cùng với chi phí về cơ hội cho cộng đồng và dân tộc. Cuốn sách này đưa ra một lời phản biện của phép tu từ, của thứ ngôn ngữ được sử dụng, và khuynh hướng nghiêng về lợi ích của một số đối tượng tham gia. Một vốn từ vựng mới thực sự cần thiết, sẽ làm cho các bên khác có liên quan được lắng nghe.

Thứ ba, sẽ là mạo hiểm khi giới thiệu một danh sách tuyển chọn vào vòng trong các dự án đến từ một khu vực thực sự rộng lớn và năng động. Tôi thừa nhận là đối với mỗi một dự án được thảo luận ở đây, còn nhiều ví dụ đáng chú ý chưa được kể tới. Sẽ khá là khó khăn khi đi sâu vào thông tin chi tiết và trình bày ở phạm vi rộng, nhất là ở các dự án có ít dữ liệu được thu thập. Sự xen kẽ các ví dụ được trình bày ở đây cho thấy sự đa dạng của Châu Á với phương châm càng nhiều càng tốt. Năm trong số 13 dự án ở phần sau của cuốn sách này là những công trình có chi phí thấp, không dùng đến các công nghệ hay dụng cụ trang bị đắt tiền. Tám trong số 13 dự án không được chứng thực bởi một công cụ đánh giá nào. Kỳ thực các công trình đó nằm dưới phạm vi phủ sóng của xu thế Xanh hóa ngày nay. Niềm hy vọng của tôi là dù tình hình thực tế có là như vậy, bất kể ở đô thị hay ở nông thôn, không phân biệt công nghệ cao hay công nghệ thấp, được chứng nhận hay chưa được chứng nhận, các nguyên tắc và sự thực hiện các nguyên tắc đó luôn tỏa sáng. Chẳng hạn như việc quy hoạch địa điểm theo hướng sinh thái của trung tâm Vanke có thể được áp dụng cho các dự án khác, ngay cả khi vấn đề tài chính eo hẹp. Sự thích ứng của các giải pháp bản địa trong trường hợp Học viện Thời trang Trân Châu (Pearl) là một bài học cho các dự án phát triển khác, thậm chí là những dự án có mức ngân sách đầu tư lớn hơn.

Sự chia sẻ vốn hiểu biết về công trình Xanh đã và sẽ còn tiếp tục quan trọng. Đó là điều mà cuốn sách thực sự muốn phản ánh. Các công cụ đánh giá, với một bộ công cụ khung như vậy đưa ra để minh họa, cho thấy chúng có vẻ mang tính mệnh lệnh trong thời đại ngày nay. Trong thập kỷ 90, tiến trình Xanh hóa đã từng chứa đựng những ngôn từ gây nhầm lẫn và các chương trình nghị sự mâu thuẫn với nhau. Các công cụ như LEED và các công cụ khác theo sau được xem như là sự gạn lọc dần dần để lấy ra những gì cốt yếu và tinh túy nhất. Các công cụ này chuyển hóa những ý tưởng phức tạp thành những cấu trúc đơn giản, làm cho việc đối thoại giữa các bên có liên quan trong lĩnh vực xây dựng trở thành hiện thực. Đến đây thì chúng ta đang đối mặt với một vấn đề là làm thế nào để bật dậy sự nhận thức của thị trường và sự chấp nhận xu thế Xanh hóa thiên về các vấn đề ít tính xác thực hơn và mang tính tìm tòi thử nghiệm nhiều hơn về tính bền vững. Đã đến lúc phải một lần nữa bước ra ngoài vùng mà chúng ta vốn dĩ cảm thấy yên tâm để xem liệu các chuẩn mực hay quy ước về Xanh có thực sự đầy đủ hay không.

Vai trò của tôi là người thực hành thiết kế và chuyên gia tư vấn về môi trường tại khu vực Đông Nam Á, song hành với việc giảng dạy và biên tập, khiến tôi cũng gắn bó với các khu vực khác của Châu Á. Các công việc mà tôi đảm nhận có ảnh hưởng đến những gì đang được bàn bạc trao đổi ở đây. Sáu nguyên tắc được đề xuất trình bày sự thay đổi cơ bản trong tư tưởng và cũng cho thấy cả những mối quan tâm thường trực đến quá trình thiết kế – xây lắp. Phần nằm giữa mảng lý thuyết và mảng thực hành không mấy dễ chịu đối với nhiều người. Một số người nghĩ rằng cuốn sách Xanh hóa Châu Á đã đi quá xa trong việc tạo ra sự thay đổi mà cuốn sách công khai ủng hộ, trong khi những người khác lại cho rằng những gì mà cuốn sách đã làm vẫn chưa đủ.

Dù phản hồi lại có như thế nào đi nữa, cuốn sách này vẫn được xem như thành công nếu khơi gợi được sự tranh luận về đề tài bền vững tại Châu Á. Đây vẫn chưa phải là lời cuối, tôi tràn đầy mong đợi những người khác cùng tham gia với những ý tưởng và tầm nhìn của riêng mình.

Nirmal Kishnani 

__________

  1. Steele, J. (2005)
  2. Fowler, K.M. & Rauch, E.M. (2006)
  3. Cole, R.J. (2012a), p. 3