By using this site, you agree to the Privacy Policy and Terms of Use.
Accept
Ashui.comAshui.comAshui.com
  • Home
    • Bookmarks
    • English
      • News
      • Projects
      • Products
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
    Tin tức / Sự kiệnĐọc tiếp
    Bảo đảm an ninh nguồn nước: Quản trị theo lưu vực sông, vận hành hiệu quả hồ chứa
    VnEconomy 20/10/2026
    Hạ tầng đồng bộ mở rộng không gian phát triển TP. Hồ Chí Minh
    VnEconomy 19/10/2026
    Bộ Xây dựng đẩy mạnh chuyển đổi số, từng bước làm chủ công nghệ chiến lược
    Báo Xây dựng 18/10/2026
    Hà Nội ký hợp đồng triển khai 5 tuyến đường sắt đô thị, mục tiêu hoàn thành năm 2030
    Báo Xây dựng 16/10/2026
    Bộ Xây dựng đẩy mạnh công tác quy hoạch và phát triển đô thị
    Tạp chí Xây dựng 15/10/2026
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Font ResizerAa
Ashui.comAshui.com
Font ResizerAa
  • Home
  • Tin tức / Sự kiện
  • Chuyên mục
  • Công nghệ
  • Vật liệu / Thiết bị
  • Dự án
  • Tương tác
  • Cộng đồng
  • Home
    • Bookmarks
    • English
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Các kênh mạng xã hội
  • Advertise
© 2000-2025 Ashui.com. All Rights Reserved.
Đối thoại

Bài toán về nước và câu chuyện vận hành đô thị

Khoa học bắt đầu từ những câu hỏi, nhưng giá trị của khoa học được nhìn thấy rõ nhất khi lời giải đi vào cuộc sống. BTV Tạp chí Xây dựng đã có cuộc trò chuyện với GS.TS Trần Thị Việt Nga, Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt - Nhật, Giảng viên cao cấp Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, về hành trình nghiên cứu và những bài toán mới ngành nước.

Tạp chí Xây dựng 20/10/2026
40 phút đọc
SHARE

Dòng chảy khoa học về nước và những giá trị cốt lõi

Thưa GS.TS Trần Thị Việt Nga, ngành nước thường được nhìn nhận là một lĩnh vực kỹ thuật khá đặc thù, nhiều công việc thầm lặng và không ít vất vả. Cơ duyên nào đã đưa bà đến với lĩnh vực này và điều gì khiến bà gắn bó với ngành nước cho đến hôm nay?

GS.TS Trần Thị Việt Nga

– Có lẽ với tôi, đến với ngành nước trước hết là một cái “duyên”. Tôi sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa học, và bố tôi – GS.TSKH Trần Hữu Uyển, một chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật cấp thoát nước, là người có ảnh hưởng sâu sắc đến lựa chọn nghề nghiệp của tôi. Từ nhỏ, qua những câu chuyện bố kể về nước, về các công trình và những bài toán kỹ thuật mà ông theo đuổi, tình yêu khoa học được hun đúc dần trong tôi.

Bởi vậy, khi thi vào Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, tôi lựa chọn ngành cấp thoát nước như một điều tự nhiên: Vừa để theo đuổi niềm yêu thích của mình, vừa với mong muốn tiếp bước bố, tiếp nối truyền thống khoa học của gia đình. Và càng học, tôi càng nhận ra đây không chỉ là một ngành kỹ thuật với những con số hay công thức. Đằng sau mỗi bài toán về nước là những vấn đề rất cụ thể của đời sống: Sức khỏe cộng đồng, môi trường, tổ chức đô thị và khả năng phát triển bền vững của một xã hội.

Có phải câu chuyện của ngành nước cũng là câu chuyện của cả một đô thị, thưa bà?

– Đúng vậy! Ban đầu, tôi nhìn ngành nước chủ yếu dưới góc độ kỹ thuật, nhưng càng nghiên cứu, tôi càng thấy bài toán rộng hơn rất nhiều. Chúng ta không thể chỉ quan tâm đến việc xử lý một nguồn nước hay đưa nước “đạt chuẩn”, mà phải nhìn cả quá trình: Nguồn nước được lấy từ đâu, được sử dụng như thế nào, sau sử dụng sẽ đi đâu và liệu có thể tiếp tục khai thác giá trị của nguồn nước đó hay không?

Đến hôm nay, những câu hỏi ấy càng trở nên cấp thiết khi biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, đô thị hóa và nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn, tạo ra nhiều áp lực mới. Vì vậy, hướng nghiên cứu của tôi cũng dần mở rộng từ công nghệ xử lý nước và nước thải sang quản lý nước bền vững, đặc biệt cần nhìn toàn diện ở phạm vi hệ thống, ví dụ quản lý hệ thống nước đô thị cân bằng và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Có những bài toán rất cụ thể của đô thị khiến tôi càng thấy rõ điều đó. Chẳng hạn, khi nghiên cứu phục hồi các dòng sông nội đô Hà Nội, không thể chỉ nhìn vào nước mặt hay một giải pháp kỹ thuật xử lý riêng lẻ, mà phải xem xét cả nguồn nước ngầm, nước mưa, và cả nước thải sau xử lý và mối quan hệ động học giữa chúng trong toàn bộ lưu vực. Khi nhìn vấn đề theo cách đó, ngành nước không còn là câu chuyện của một công trình đơn lẻ, mà trở thành câu chuyện về cách chúng ta tổ chức và vận hành cả một đô thị.

Và cũng từ thực tế nghiên cứu đó, tôi nhận ra một vấn đề khác: Một công nghệ có kết quả tốt trong phòng thí nghiệm chưa chắc đã có thể vận hành ổn định ngoài thực tế. Khi đưa công nghệ vào một đô thị cụ thể, còn rất nhiều yếu tố phải tính đến, từ sự biến động của nguồn nước, tải lượng ô nhiễm đến điều kiện vận hành và khả năng duy trì hệ thống trong thời gian dài. Đây cũng là một trong những vấn đề tôi đặc biệt quan tâm trong quá trình nghiên cứu của mình.

Thưa bà, vậy đâu là những vấn đề cấp thiết nhất để bảo đảm nước sạch, an toàn cho các đô thị hiện nay?

– Tôi nghĩ một bài toán cấp thiết của cấp nước đô thị hiện nay là bảo đảm cấp nước an toàn và ổn định một cách chủ động. Nếu trước đây chúng ta tập trung nhiều vào mở rộng hệ thống để người dân được tiếp cận nước sạch, thì hôm nay, yêu cầu còn là duy trì chất lượng nước và khả năng cấp nước liên tục trước những biến động ngày càng khó dự báo.

Trong bài toán ấy, bảo vệ nguồn nước phải là nền tảng. Nguồn nước đang chịu sức ép từ nước thải sinh hoạt, sản xuất, nông nghiệp, cùng với hạn hán, mưa cực đoan và xâm nhập mặn. Công nghệ xử lý dù tiên tiến đến đâu cũng có giới hạn; không thể kỳ vọng một giải pháp công nghệ sẽ luôn bảo đảm hiệu quả nếu nguồn nước tiếp tục suy thoái, ô nhiễm và tích tụ các chất độc hại. Vì vậy, đầu tư cho xử lý nước cần đi cùng với kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước ngay từ lưu vực. Đây là điều kiện căn bản để duy trì an toàn cấp nước lâu dài.

Cùng với bảo vệ nguồn nước, quan trắc và cảnh báo sớm giúp chúng ta chuyển từ ứng phó bị động sang phòng ngừa chủ động. Dữ liệu đủ tin cậy và kịp thời cho phép nhận diện những thay đổi về chất lượng nước, dự báo nguy cơ và đưa ra quyết định phù hợp: Điều chỉnh chế độ khai thác, lựa chọn nguồn nước dự phòng hoặc thay đổi quy trình xử lý trước khi sự cố ảnh hưởng đến người dân. Giá trị của quan trắc vì thế không chỉ nằm ở việc đo được bao nhiêu thông số, mà ở khả năng biến dữ liệu thành những hành động bảo vệ an toàn cấp nước.

Trên nền tảng đó, công nghệ tiên tiến giữ vai trò cốt lõi trong xử lý các chất ô nhiễm và nâng cao khả năng thích ứng của nhà máy. Tuy nhiên, nước đạt yêu cầu sau xử lý vẫn có thể bị tái nhiễm bẩn khi đi vận chuyển trên mạng lưới đường ống và ở công trình lưu trữ. Do đó, quản lý rủi ro về chất lượng nước phải bao quát toàn bộ hệ thống: nhận diện nguy cơ, thiết lập các biện pháp kiểm soát, giám sát hiệu quả và chuẩn bị phương án ứng phó khi có bất thường.

Điều tôi muốn nhấn mạnh là nước sạch không chỉ là một dịch vụ hạ tầng, mà còn gắn trực tiếp với sức khỏe cộng đồng và an ninh nguồn nước. Đích đến của ngành nước, vì thế không chỉ là những nhà máy hiện đại, mà là một hệ thống có nguồn nước được bảo vệ, công nghệ xử lý phù hợp, nguy cơ được phát hiện sớm, và rủi ro được kiểm soát tốt – để người dân có thể yên tâm với nguồn nước mình sử dụng mỗi ngày.

Dòng chảy quy hoạch – đầu tư – vận hành

Ở những đô thị lớn như Hà Nội và TP.HCM, ngập úng, ô nhiễm nguồn nước hay áp lực bảo đảm nước sạch đang đặt ra ngày càng rõ. Từ góc nhìn của bà, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất trong quy hoạch và phát triển đồng bộ hạ tầng ngành nước hiện nay?

– Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất là hạ tầng ngành nước vẫn chưa được quy hoạch và phát triển như một hệ thống thống nhất. Cấp nước, thoát nước mưa, thu gom và xử lý nước thải, bảo vệ sông hồ có quan hệ rất chặt chẽ, nhưng trong quy hoạch và đầu tư vẫn thường được giải quyết theo từng lĩnh vực, từng dự án hoặc từng địa bàn. Trong khi đó, nước vận động theo lưu vực, không theo ranh giới hành chính; giải quyết vấn đề ở một nơi cần tính đến tác động đối với những nơi khác.

Điểm nghẽn thứ hai là sự thiếu đồng bộ giữa phát triển đô thị và năng lực của hạ tầng nước. Khi dân số, mật độ xây dựng và diện tích bề mặt bê tông hóa tăng lên, nhu cầu cấp nước và lượng nước cần tiêu thoát cũng thay đổi. Nếu hạ tầng không được chuẩn bị tương ứng, hoặc không gian trữ nước và khả năng thoát nước tự nhiên bị thu hẹp, thì chỉ nâng công suất nhà máy hay mở rộng một số tuyến cống sẽ khó giải quyết căn bản vấn đề. Quy hoạch cần dành chỗ cho nước ngay từ đầu: từ hành lang sông, hồ điều hòa đến những không gian có khả năng thấm và giữ nước.

Một điểm nghẽn khác nằm ở cách tổ chức đầu tư. Nhà máy, đường ống, mạng lưới thu gom và các công trình điều tiết phải được phát triển như những phần của cùng một hệ thống. Nếu xây nhà máy xử lý nước thải mà mạng lưới thu gom chưa hoàn chỉnh, hiệu quả đầu tư sẽ bị hạn chế. Tương tự, tăng năng lực cấp nước nhưng chưa bảo vệ được nguồn nước hoặc chưa cải thiện mạng lưới phân phối thì vẫn khó bảo đảm cấp nước an toàn, ổn định. Bên cạnh vốn xây dựng, cần bố trí đủ nguồn lực cho vận hành, bảo trì và nâng cấp trong suốt vòng đời công trình. Bên cạnh đó là những hạn chế về dữ liệu và cơ chế phối hợp. Quy hoạch cần dựa trên quan trắc và dự báo đáng tin cậy; trách nhiệm giữa các đơn vị và địa phương phải rõ ràng.

Vì vậy, theo tôi, cần cách tiếp cận tổng thể và hệ thống, đặt hạ tầng nước trong mối quan hệ động học (dynamic system) với lưu vực và sự phát triển của đô thị. Từ quy hoạch đến đầu tư và vận hành, bảo vệ nguồn nước, gìn giữ không gian cho nước và kiểm soát rủi ro cần được gắn kết xuyên suốt. Trên nền tảng ấy, công nghệ tiên tiến cùng cơ chế quản lý và phối hợp hiệu quả mới có thể tạo nên một hệ thống nước đô thị an toàn, có khả năng chống chịu và đáp ứng nhu cầu phát triển lâu dài.

Các dự án hạ tầng cấp thoát nước và xử lý nước thải thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn, trong khi thời gian thu hồi vốn dài và hiệu quả tài chính trực tiếp không cao. Việt Nam cần thay đổi cơ chế, chính sách như thế nào để thu hút mạnh hơn nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này?

– Bài toán lớn nhất, theo tôi, không chỉ là làm thế nào để thu hút được vốn, mà quan trọng hơn là làm sao để nguồn vốn đó tạo ra một dịch vụ nước có thể duy trì ổn định và lâu dài. Nhà đầu tư cần nhìn thấy một phương án cung cấp dịch vụ với trách nhiệm rõ ràng, những rủi ro chính được nhận diện và có cách kiểm soát phù hợp. Trong khi đó, hạ tầng nước phục vụ lợi ích cộng đồng, nên cơ chế thu hút vốn cũng cần đi cùng với việc bảo đảm người dân có thể tiếp cận dịch vụ với chi phí hợp lý.

Muốn làm được điều đó, trước hết cần giải quyết hài hòa bài toán chi phí và giá dịch vụ. Các khoản chi hợp lý trong suốt vòng đời công trình, từ đầu tư, vận hành, bảo trì đến thay thế thiết bị, cần được tính toán và minh bạch. Giá nước, giá dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải cũng cần có lộ trình điều chỉnh phù hợp, gắn với chất lượng dịch vụ. Với những nhóm người dân còn khó khăn, có thể thiết kế cơ chế hỗ trợ phù hợp, minh bạch, để vừa bảo đảm an sinh, vừa không làm thiếu hụt nguồn lực cần thiết cho vận hành hệ thống. 

Một vấn đề khác là phân bổ rủi ro trong các dự án hợp tác công tư. Theo tôi, nguyên tắc nên là, rủi ro nào, bên nào có khả năng kiểm soát tốt hơn thì bên đó chịu trách nhiệm chính. Nhà nước có vai trò quan trọng trong quy hoạch, mặt bằng và bảo vệ nguồn nước; doanh nghiệp tập trung vào thiết kế, tổ chức vận hành và bảo đảm các chỉ tiêu dịch vụ đã cam kết. Các cơ chế chia sẻ rủi ro, thanh toán hay hỗ trợ đầu tư cũng cần được thiết kế rõ ràng, phù hợp với pháp luật và khả năng ngân sách.

Khi lựa chọn dự án, chúng ta cũng không nên chỉ nhìn vào chi phí xây dựng ban đầu. Điều quan trọng hơn là phải tính đến toàn bộ vòng đời công trình, từ chi phí vận hành, mức tiêu thụ năng lượng, tài nguyên đến độ tin cậy và khả năng đáp ứng các yêu cầu về môi trường.

Tái tạo tài nguyên nước thải

Bà có nhiều nghiên cứu về các công nghệ xử lý nước tiên tiến, trong đó có màng lọc sinh học kỵ khí (AnMBR) và các giải pháp xử lý nước thải tại chỗ. Từ thực tế nghiên cứu và triển khai, bà nhìn nhận đâu là những ưu thế khiến các công nghệ này phù hợp với điều kiện Việt Nam? 

– AnMBR là một công nghệ tiên tiến ứng dụng quá trình sinh học trong điều kiện kỵ khí để xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ, kết hợp màng vi lọc đóng vai trò phân tách sinh khối và nước, và màng lọc cũng đóng vai trò duy trì được mật độ sinh khối lớn để hỗ trợ nâng cao hiệu quả của quá trình sinh học. Công nghệ này có hiệu quả xử lý cao, lợi thế về năng lượng, cho phép thu hồi vật chất có ích từ dòng nước thải như khí sinh học có thể dùng làm nguồn năng lượng tái tạo hay tái sử dụng nước sau xử lý. Cách tiếp cận này làm thay đổi quan niệm trước đây, khi công trình xử lý nước thải chỉ được nhìn nhận như một công trình “xử lý ô nhiễm”. Theo hướng mới, mục tiêu được nâng lên thành “công trình tái tạo – thu hồi tài nguyên”, mang lại nhiều giá trị hơn cho xã hội và môi trường.

Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm và bước đầu triển khai ứng dụng AnMBR tại một số trạm xử lý nước thải sinh hoạt, cơ sở chế biến gia súc và trang trại chăn nuôi lợn. Hiện nay, chúng tôi tiếp tục quan tâm đến việc nội địa hóa thiết bị, giảm chi phí và nâng khả năng ứng dụng trong thực tế.

Tất nhiên, tôi không nghĩ có một công nghệ nào phù hợp với mọi loại nước thải. Với từng nguồn thải và yêu cầu đầu ra khác nhau, công nghệ có thể cần được kết hợp với những công đoạn khác để xử lý nitơ, phốt pho hoặc kiểm soát vi sinh. Những vấn đề như tắc nghẽn màng, khả năng vận hành ổn định hay hiệu quả thu hồi khí sinh học cần được nghiên cứu kỹ càng. 

Có thể nói AnMBR kết hợp xử lý sinh học kỵ khí với lọc màng là công nghệ có hiệu quả xử lý cao, tiết kiệm diện tích, có tiềm năng thu hồi năng lượng và các chất có ích từ dòng thải, cũng như tái sử dụng nước sau xử lý. Những ưu điểm này mở ra cơ hội ứng dụng tại các đô thị nơi có quỹ đất hạn chế và yêu cầu xả thải cao, góp phần phát triển và quản lý hệ thống nước đô thị theo hướng tuần hoàn.

Nhưng từ một kết quả nghiên cứu đến một công nghệ có thể vận hành ổn định ngoài thực tế vẫn còn một khoảng cách khá lớn, thưa bà? 

– Đúng vậy! Từ một kết quả nghiên cứu tốt trong phòng thí nghiệm đến một công nghệ có thể vận hành ổn định ngoài thực tế vẫn là một chặng đường dài.

Khi ra thực tế, công nghệ phải thích ứng với biến động của các điều kiện môi trường như sự thay đổi theo mùa của nguồn nước, tải lượng ô nhiễm và điều kiện vận hành. Vì thế, thử nghiệm ở quy mô pilot và tại hiện trường là bước cần thiết để kiểm chứng cả hiệu quả, độ bền và chi phí.

Một bước rất quan trọng nữa là chuẩn hóa công nghệ sau quá trình thử nghiệm. Từ kết quả thực tế cần xây dựng được quy trình thiết kế, vận hành, bảo trì, nghiệm thu và đánh giá hiệu quả phù hợp. Khi những yêu cầu này được chuẩn hóa, doanh nghiệp và đơn vị sử dụng mới có cơ sở để tiếp nhận công nghệ, còn cơ quan quản lý cũng có căn cứ để đánh giá và nhân rộng.

Đây không chỉ là câu chuyện của riêng của nhà khoa học. Để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng, cần có sự tham gia của nhà khoa học, doanh nghiệp, đơn vị quản lý và cơ sở sử dụng công nghệ ngay từ quá trình thử nghiệm. Mỗi bên cùng tham gia từ sớm thì công nghệ sẽ có nhiều cơ hội được hoàn thiện theo đúng nhu cầu thực tế.

Trong tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực quan trọng cho phát triển, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, thường được gọi là sandbox, là một hướng đáng quan tâm. Với những công nghệ mới trong lĩnh vực nước và môi trường, đây có thể là không gian để kiểm chứng đồng thời hiệu quả kỹ thuật, chi phí, khả năng vận hành và những yêu cầu quản lý trước khi xem xét nhân rộng.

Khái niệm “kinh tế tuần hoàn ngành nước” đang ngày càng được quan tâm. Từ góc nhìn của bà, nước thải có thể được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên thế nào, thông qua tái sử dụng nước, thu hồi năng lượng hay các nguồn tài nguyên khác? 

– Có thể hiểu, kinh tế tuần hoàn trong ngành nước là sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên trong suốt quá trình khai thác, sử dụng, xử lý và tái sử dụng. Với cách nhìn này, nước thải không chỉ là thứ cần xử lý để đảm bảo an toàn cho môi trường và con người, mà còn chứa những nguồn tài nguyên có thể thu hồi nếu được tiếp cận bằng công nghệ và phương thức quản lý phù hợp.

Trước hết, một hướng có tính thực tiễn là tái sử dụng nước sau xử lý cho các nhu cầu phi sinh hoạt, như tưới cây xanh, rửa đường, xả bồn cầu hoặc phục vụ một số công đoạn sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, mỗi mục đích đều có yêu cầu riêng về chất lượng nước và kiểm soát rủi ro. Nước đạt yêu cầu xả thải chưa chắc đã phù hợp để tái sử dụng, vì vậy, cần xác định rõ nhu cầu và kiểm soát chất lượng trong suốt quá trình từ xử lý đến sử dụng lại.

Nước thải còn chứa năng lượng và những thành phần vật chất có giá trị. Chẳng hạn, với các dòng thải giàu chất hữu cơ, công nghệ xử lý kỵ khí có thể tạo ra khí sinh học để phát điện hoặc cung cấp nhiệt. Nitơ, phốt pho và một số hợp chất hữu cơ cũng có thể được nghiên cứu thu hồi để làm nguyên liệu cho các mục đích khác. Dù vậy, thu hồi được về mặt kỹ thuật chưa có nghĩa là đã hiệu quả về kinh tế. Chúng ta còn phải tính đến độ tinh sạch, mức độ an toàn, nhu cầu thị trường và chi phí vận hành của toàn bộ quá trình.

Với các khu đô thị mới, tôi cho rằng có thể chủ động hơn bằng cách tính toán mô hình tuần hoàn ngay từ khâu quy hoạch. Chẳng hạn, thiết kế mạng cấp nước tái sử dụng riêng cho những nhu cầu phù hợp hoặc tổ chức thu gom riêng nước xám và nước đen ngay từ đầu. Đây là những phương án khác nhau, có yêu cầu kỹ thuật và quản lý riêng, nên cần được lựa chọn dựa trên điều kiện thực tế của từng khu đô thị. 

Theo tôi, lộ trình triển khai nên bắt đầu từ nhu cầu thực tế, quy mô phù hợp và phân định rõ trách nhiệm vận hành. Việc ưu tiên các mục đích đơn giản, dễ kiểm soát như tưới cảnh quan sẽ tạo tiền đề để mở rộng khi tích lũy đủ dữ liệu và kinh nghiệm. Khi nước thải được tái sử dụng, năng lượng được thu hồi và vật chất có ích được đưa trở lại chu trình sản xuất, nhà máy xử lý nước thải sẽ chuyển mình từ đơn vị xử lý chất thải thành trung tâm cung cấp tài nguyên đô thị. Đây chính là chìa khóa hiện thực hóa kinh tế tuần hoàn ngành nước, giúp tiết kiệm tài nguyên và giảm tải áp lực môi trường.

Hạ tầng nước thích ứng và phục hồi

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và biến đổi khí hậu ngày càng tác động rõ rệt đến các đô thị, theo bà, chúng ta cần thay đổi cách quy hoạch và đầu tư hạ tầng nước như thế nào để các đô thị Việt Nam có khả năng thích ứng tốt hơn với những kịch bản trong tương lai?

– Theo tôi, trước hết chúng ta cần thay đổi cách nhìn về hạ tầng nước. Thay vì chỉ tìm cách “chống lại” thiên nhiên bằng những công trình cứng, cần hướng tới cách tiếp cận linh hoạt hơn, đó là “sống chung, thích ứng và chủ động” trước những biến động ngày càng khó dự báo.

Điều này cần được tính đến ngay từ khâu quy hoạch và quyết định đầu tư. Hạ tầng nước thường có tuổi thọ hàng chục năm, trong khi khí hậu, sử dụng đất và nhu cầu của đô thị có thể thay đổi rất nhanh. Nếu chỉ thiết kế dựa trên điều kiện hiện tại, công trình có thể không còn phù hợp khi những điều kiện đó thay đổi.

Dữ liệu lịch sử rất cần thiết, nhưng có lẽ không nên chỉ nhìn vào những gì đã xảy ra để hình dung tương lai. Chúng ta cần kết hợp dữ liệu hiện có với các kịch bản về mưa lớn, triều, hạn hán, xâm nhập mặn và quá trình phát triển đô thị. 

Thực tế cũng cho thấy, các vấn đề về nước trong đô thị ngày càng gắn với nhau và khó có thể giải quyết bằng từng công trình riêng lẻ. Cách tiếp cận đó cho thấy quy hoạch hạ tầng nước cần được nhìn ở quy mô toàn hệ thống, trong đó, các giải pháp phải hỗ trợ và bổ sung cho nhau.

Từ những kịch bản và mối liên hệ đó, chúng ta mới có thể nhận diện rõ đâu là điểm dễ tổn thương, đâu là dịch vụ thiết yếu cần được ưu tiên bảo vệ và đầu tư ở mức nào. Tôi nghĩ, đây cũng là bước chuyển quan trọng từ tư duy “xây công trình để chống ngập” sang tư duy xây dựng một hệ thống hạ tầng nước có khả năng thích ứng và phục hồi trước những thay đổi của tương lai.

Vậy khi đã nhận diện được những rủi ro đó, cách tiếp cận về giải pháp hạ tầng nên thay đổi như thế nào?

– Tôi cho rằng không nên đặt công trình kỹ thuật và các giải pháp dựa vào tự nhiên ở hai phía đối lập. Cống, trạm bơm, hồ điều hòa vẫn rất cần thiết, nhưng cần kết hợp với việc giữ không gian cho nước thông qua mặt thấm, cây xanh, vùng trữ nước tạm thời và bảo vệ các hành lang thoát nước. Mỗi giải pháp phải được lựa chọn trên cơ sở điều kiện cụ thể về địa chất, nước ngầm, chất lượng nước và khả năng vận hành, bảo trì.

Một điểm nữa là đầu tư hạ tầng cần có độ mở cho tương lai. Thay vì cố dự báo chính xác mọi nhu cầu trong vài chục năm tới, có thể dành quỹ đất cho khả năng mở rộng hoặc sử dụng các mô-đun có thể bổ sung theo từng giai đoạn. Với hệ thống cấp nước cũng vậy, cần tính đến nguồn dự phòng, khả năng kết nối giữa các khu vực và phương án ứng phó khi chất lượng nước nguồn biến động.

Công nghệ số sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan trắc, dự báo và điều hành. Nhưng công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi đi cùng dữ liệu đủ tin cậy và năng lực của người vận hành. Một hệ thống cảnh báo sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu cảnh báo không dẫn tới một hành động cụ thể.

Vì vậy, với tôi, một hệ thống hạ tầng có khả năng thích ứng không nhất thiết là hệ thống không bao giờ xảy ra sự cố. Điều quan trọng là khi sự cố xảy ra, hệ thống vẫn duy trì được những dịch vụ thiết yếu, hạn chế thiệt hại và có khả năng phục hồi trong thời gian hợp lý. Đó mới là thước đo thực chất của một hạ tầng nước có khả năng chống chịu trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đô thị hóa ngày càng nhanh.

Nhân ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, xin được chúc mừng bà về Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 – một dấu mốc đáng nhớ trong hành trình nghiên cứu của bà. Nhìn lại chặng đường đã qua, bà muốn chia sẻ điều gì với những phụ nữ đang theo đuổi khoa học, kỹ thuật, đặc biệt là các nữ trí thức trẻ đang bắt đầu hành trình của mình?

– Tôi xin cảm ơn lời chúc mừng và tình cảm của các bạn. Giải thưởng Kovalevskaia là một sự ghi nhận rất đáng quý đối với tôi, nhưng hơn cả một giải thưởng, đó còn là dịp để tôi nhìn lại hành trình mình đã đi qua và nhớ đến những người đã âm thầm đồng hành trong suốt chặng đường ấy. Đó là sự dìu dắt của thầy cô, sự đồng nghiệp, cộng sự và đặc biệt là sự sẻ chia của gia đình. Tôi luôn trân trọng và biết ơn điều đó.

Với các bạn trẻ, đặc biệt là các bạn nữ đang lựa chọn con đường khoa học, tôi chỉ muốn nói rằng nếu thực sự yêu thích và tin vào điều mình theo đuổi, hãy cho bản thân cơ hội được thử sức, được đi xa và cả được thất bại. Khoa học là một hành trình dài hạn, nơi sự kiên trì đôi khi còn quyết định chiến thắng nhiều hơn tài năng. Và để một người phụ nữ có thể vững bước đi trọn chặng đường ấy, nội lực thôi là chưa đủ – cô ấy cần một mái ấm biết sẻ chia, những đồng nghiệp biết nâng đỡ và một môi trường làm việc trân trọng sự khác biệt.

Tôi vẫn nghĩ, làm khoa học cũng giống như quản trị một dòng sông. Có những đoạn dòng chảy mạnh mẽ, có những đoạn quanh co, có lúc tưởng như bị chặn lại bởi những ghềnh đá. Nhưng dòng sông vẫn tìm cách đi về phía trước. Khoa học cũng vậy, có thể có những lúc chúng ta mệt mỏi, hoài nghi hoặc chưa nhìn thấy kết quả, nhưng nếu còn giữ được sự tò mò, lòng kiên nhẫn và tình yêu với công việc, chúng ta còn lý do để tiếp tục.

Tôi mong những người phụ nữ làm khoa học hôm nay không phải lựa chọn giữa đam mê và gia đình, giữa sự nghiệp và những giá trị riêng của mình, mà có thể tìm được cách để những điều ấy cùng nâng đỡ nhau. Và tôi mong thế hệ trẻ, dù đi trên con đường nào, cũng giữ cho mình một niềm tin rằng những đóng góp nhỏ bé, nếu được làm bằng sự tử tế, bền bỉ và trách nhiệm, rồi sẽ tạo nên một dòng chảy lớn.

Bởi cuối cùng, điều đẹp nhất của khoa học, có lẽ không chỉ là một giải thưởng hay một công trình được ghi tên, mà là những gì chúng ta để lại cho người đi sau: Một con đường rộng hơn, một niềm tin lớn hơn và thêm một lý do để họ dám bước tiếp.

Trân trọng cảm ơn bà về cuộc trò chuyện đầy thú vị này!

GS.TS Trần Thị Việt Nga sinh năm 1974, quê quán Nghệ An. Bà là nữ Giáo sư được trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025.

Tốt nghiệp ngành Cấp thoát nước – Môi trường nước tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội năm 1996; Thạc sĩ Kỹ thuật nước thải tại Viện Công nghệ Châu Á (AIT), Thái Lan năm 1999; Tiến sĩ Kỹ thuật Môi trường đô thị tại Đại học Tokyo, Nhật Bản năm 2002; Nghiên cứu sau tiến sĩ (Postdoc) về Môi trường và Phát triển bền vững tại Trường Đại học Liên Hợp Quốc, Nhật Bản (2003 – 2005).

Sau khi tốt nghiệp đại học, bà công tác tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, là giảng viên Bộ môn Cấp thoát nước, Khoa Kỹ thuật môi trường. Năm 2015, bà được công nhận chức danh PGS và năm 2024 được công nhận chức danh GS liên ngành Xây dựng – Kiến trúc. Bà là Trưởng khoa Kỹ thuật Môi trường (2015-2025) và hiện là Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt – Nhật, giảng viên cao cấp Khoa Kỹ thuật Môi trường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội.

Một trong những hướng nghiên cứu nổi bật của bà là phát triển công nghệ Màng lọc sinh học kỵ khí (AnMBR) xử lý nước thải. Hiện bà chủ trì dự án quốc tế SATREPS về hệ thống cấp nước thích ứng với nguồn nước ô nhiễm tại Việt Nam (2023-2028) do JICA-JST (Nhật Bản) tài trợ.

Nguyên Hạnh – Thu Thủy (thực hiện)

Có thể bạn cũng quan tâm

Quy định về Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu cấp nước sạch và thoát nước đô thị

Phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu xây dựng cơ sở dữ liệu cấp, thoát nước đô thị

Cần hoàn thiện sớm luật riêng cho hạ tầng cấp, thoát nước

Ngành nước trước áp lực đô thị hóa: Cần đổi mới đào tạo nhân lực

Sớm xây dựng, ban hành Luật cấp, thoát nước đầu tiên tại Việt Nam

TỪ KHÓA:AnMBRcấp thoát nướccoverGS Trần Thị Việt Ngaxử lý nước
NGUỒN:Tạp chí Xây dựng
Bài trước Bảo đảm an ninh nguồn nước: Quản trị theo lưu vực sông, vận hành hiệu quả hồ chứa
Ad imageAd image

Mới cập nhật

Bảo đảm an ninh nguồn nước: Quản trị theo lưu vực sông, vận hành hiệu quả hồ chứa
Sự kiện 20/10/2026
Muốn giảm giá nhà, phải bắt đầu từ quỹ đất và chi phí phát triển dự án
Bất động sản 20/10/2026
Hà Nội vướng xác định tầng cao, khoảng lùi khi xây nhà trong ngõ
Kinh tế / Pháp luật 19/10/2026
Hà Nội cần gần 20.000 căn hộ tái định cư trong 5 năm tới
Kinh tế / Pháp luật 19/10/2026
Hạ tầng đồng bộ mở rộng không gian phát triển TP. Hồ Chí Minh
Sự kiện 19/10/2026
House Q / thiết kế: HGAA Architects
Tư vấn thiết kế 18/10/2026
HCMC hits 95% public investment disbursement with 49 new projects in 9 months
News 18/10/2026
Bộ Xây dựng đẩy mạnh chuyển đổi số, từng bước làm chủ công nghệ chiến lược
Tin trong nước 18/10/2026
[VTV4] Môi trường – Góc nhìn quốc tế: “Giao thông đô thị xanh”
Góc nhìn 17/10/2026
Chống ngập TP.HCM: Cần đồng bộ hạ tầng và dành không gian cho nước
Phản biện 17/10/2026
- Advertisement -
Ad imageAd image

Xem thêm

Phản biện

Đầu tư hệ thống xử lý nước thải đô thị, cách nào?

Báo Xây dựng 05/12/2025
Tin trong nước

Nhiều hạn chế trong thực thi pháp luật về cấp, thoát nước và xử lý nước thải

Ashui.com 11/01/2025
Năng lượng - Môi trường

Nhà đầu tư khí hậu nhìn thấy cơ hội lớn từ công nghệ xử lý nước

Ashui.com 23/03/2024
Năng lượng - Môi trường

Công ty xử lý rác Hàn Quốc tự tin chinh phục thị trường phía Nam

Ashui.com 25/05/2017
© 2000-2026 Ashui.com. All Rights Reserved.
Welcome back!

Sign in to your account

Username hoặc Email của bạn
Mật khẩu

Quên mật khẩu?