By using this site, you agree to the Privacy Policy and Terms of Use.
Accept
Ashui.comAshui.comAshui.com
  • Home
    • Bookmarks
    • English
      • News
      • Projects
      • Products
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
    Tin tức / Sự kiệnĐọc tiếp
    TP. Hồ Chí Minh sẽ công bố quy hoạch tổng thể, khởi công 3 tuyến metro mới
    VnEconomy 22/09/2026
    Hà Nội phân cấp mạnh nhiều nhiệm vụ trong lĩnh vực xây dựng, giao thông
    Báo Xây dựng 22/09/2026
    UN-Habitat: Đô thị bền vững cần được thiết kế để giảm chất thải
    Ashui.com 20/09/2026
    TP.HCM: Dự án ngăn triều dự kiến hoàn thành trong tháng 11
    TTXVN 19/09/2026
    [Cà phê Net Zero] Điện mặt trời & DPPA: Từ nhu cầu điện xanh đến dự án khả thi
    Ashui.com 18/09/2026
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Font ResizerAa
Ashui.comAshui.com
Font ResizerAa
  • Home
  • Tin tức / Sự kiện
  • Chuyên mục
  • Công nghệ
  • Vật liệu / Thiết bị
  • Dự án
  • Tương tác
  • Cộng đồng
  • Home
    • Bookmarks
    • English
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Các kênh mạng xã hội
  • Advertise
© 2000-2025 Ashui.com. All Rights Reserved.
Quy hoạch đô thị

Cấu trúc nước đô thị Cần Thơ trong định hướng quy hoạch đô thị thích ứng biến đổi khí hậu

Bài báo sử dụng phương pháp phân tích hình thái học dưới góc độ lịch sử - địa lý, và lý thuyết thành phố bọt biển nhằm nhận diện cấu trúc nền tảng thủy văn từ thuở khẩn hoang đến nay và đề xuất định hướng phát triển không gian thuận thiên, vị nhân sinh và ứng phó với BĐKH trong định hướng quy hoạch chung TP Cần Thơ.

Tạp chí Xây dựng 23/09/2026
32 phút đọc
SHARE
Nội dung
1. Đặt vấn đề2. Cơ sở lý luận và khung phân tích cấu trúc nước đô thị Cần Thơ2.1. Hình thái học đô thị và vai trò của cấu trúc nước đô thị châu thổ2.2. Lý thuyết quy hoạch châu thổ, đô thị nước và thành phố bọt biển2.3. Kinh nghiệm thực tiễn và bài học vận dụng cho nhận diện cấu trúc nước đô thị Cần Thơ3. Quá trình hình thành, biến đổi và định hướng quy hoạch cấu trúc nước đô thị Cần Thơ3.1. Giai đoạn sơ khởi hình thành nền tảng đô thị sông nước (1739 – 1876)3.2. Giai đoạn định hình cấu trúc nước thời thuộc địa (1876 – 1954)3.3. Giai đoạn biến đổi của cấu trúc nước trong đô thị và những hệ luỵ (1954 – 2025)3.4. Giai đoạn tái cấu trúc không gian đô thị Cần Thơ mới (từ năm 2025 đến nay)3.5. Định hướng quy hoạch đô thị châu thổ Cần Thơ thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở cấu trúc nước4. Kết luận 
(Ảnh minh họa)

1. Đặt vấn đề

Cần Thơ là đô thị trung tâm vùng ĐBSCL, được hình thành trên hạ lưu sông Mê Kông trong quan hệ trực tiếp với dòng Bassac, mạng rạch xẻo, các dải bờ cao, giồng, cồn và vùng trũng. Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức gọi Bassac là một trong hai nhánh sông lớn ở hạ lưu sông Mekong; dòng nước ấy cùng chế độ nước lớn-ròng tạo nên điều kiện mở đất, lập vườn, tụ cư và trao đổi hàng hóa [1].

Nhà nghiên cứu Nam Bộ – Nhà văn Sơn Nam, khi mô tả lịch sử khẩn hoang Nam Bộ, nhấn mạnh cảnh quan “trăm nhánh rạch xẻo nhỏ đổ về bờ sông cái hướng ra mặt tiền, nơi đô thị bắt đầu từ con sông và nương theo tiếng sóng ” [2]. Cách ghi nhận này cho thấy cấu trúc nước không phải phông nền tự nhiên, mà là nền tảng tạo lập nơi chốn của đô thị châu thổ Cần Thơ.

Các điểm định cư ban đầu thường bám theo bờ sông, rạch, giồng và cồn. Theo đó, nhà ở, vườn, bến và chợ hình thành theo thủy lộ trước khi được chồng thêm lớp quản trị hành chính và mạng đường bộ. Ở giai đoạn phát triển kế tiếp, lớp nền ấy được phân hóa thành ba miền địa mạo liên kết. Đó là hành lang sông Hậu với các bờ cao và rạch ven sông; vùng trũng – kênh đào Hậu Giang và không gian giồng cát, cửa sông-biển của Sóc Trăng. 

Từ cuối thế kỷ XX, việc xây dựng và mở rộng các hành lang đường bộ với nền đắp cao đã làm thu hẹp các rạch nhánh, gia tăng diện tích bề mặt không thấm và làm suy giảm tính liên thông của dòng chảy cũng như không gian trữ nước.

Tình trạng ngập, sụt lún và xói lở không chỉ bắt nguồn từ các vấn đề kỹ thuật hạ tầng mà sâu xa hơn còn là biểu hiện của sự đứt gãy với nền địa mạo – thủy văn. Các nghiên cứu về Cần Thơ đã chỉ ra những thách thức trong thích ứng của đô thị châu thổ [10, 22], trong đó có tác động cộng hưởng của quá trình đô thị hóa và biến đổi khí hậu [9].

Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính đã xác lập TP Cần Thơ mới trên cơ sở hợp nhất thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng [6]. Nhiệm vụ Quy hoạch chung TP Cần Thơ đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 tiếp tục xác định bản sắc “đô thị sông – nước gắn với các hạ tầng tự nhiên” [7].

Trong bối cảnh đó, bài báo tập trung nhận diện nền tảng cấu trúc nước, quá trình biến đổi hình thái và các đứt gãy chủ yếu của đô thị Cần Thơ, từ đó đề xuất các định hướng tổ chức không gian thích ứng với biến đổi khí hậu. Phương pháp nghiên cứu là phân tích hình thái học đô thị dưới góc độ lịch sử – không gian, kết hợp đối chiếu các tư liệu lịch sử, bản đồ và các nghiên cứu khoa học liên quan.

Hình 1: Vị trí TP Cần Thơ trong mối liên hệ vùng ĐBSCL. Nguồn: [8]

2. Cơ sở lý luận và khung phân tích cấu trúc nước đô thị Cần Thơ

2.1. Hình thái học đô thị và vai trò của cấu trúc nước đô thị châu thổ

Hình thái học đô thị xem đô thị là kết quả của sự tích lũy và biến đổi các lớp không gian theo thời gian. Trong nghiên cứu kinh điển về phân tích bình đồ đô thị, M.R.G. Conzen nhận diện hình thái qua quan hệ giữa mạng đường, thửa đất và cấu trúc xây dựng [12]. Theo đó, việc đọc và hiểu cấu trúc các lớp tự nhiên, cư trú, kinh tế – xã hội và hạ tầng là cơ sở để nhận diện tính liên tục của cấu trúc đô thị và định hướng phát triển phù hợp [11].

Đối với đô thị châu thổ, nước không chỉ đơn thuần thuộc hệ thống cấp, thoát nước. Hệ thống nước Cần Thơ bao gồm các sông, rạch, kênh, với chế độ thuỷ triều thất thường, gắn liền với bờ cao, giồng, cồn và vùng trũng. Tất cả  tạo thành nền địa mạo – thủy văn đặc trưng chi phối vị trí định cư, vườn tược, chợ – bến, giao thông, sản xuất và phân bố các cực phát triển.

Vì vậy, có thể nhận diện vai trò quan trọng của cấu trúc nước Cần Thơ thông qua 5 mối quan hệ thiết yếu: (i) sông chính, rạch nhánh, kênh và vùng trữ nước; (ii) bờ cao, giồng, cồn; (iii) định cư – vườn – bến – chợ; (iv) giao thông thủy, đường bộ và công trình kiểm soát nước; (v) hệ thống trung tâm, hành lang phát triển và logistics sông – biển.

Hình 2. Cấu trúc đô thị Cần Thơ sau sáp nhập đơn vị hành chính. Nguồn: [8]

2.2. Lý thuyết quy hoạch châu thổ, đô thị nước và thành phố bọt biển

Meyer và Nijhuis, trong nghiên cứu “Delta urbanism: planning and design in urbanized deltas” (2013), đặt quy hoạch châu thổ trong tương tác động giữa quá trình tự nhiên, khai thác đất đai và tổ chức không gian đô thị [13]. Theo cách tiếp cận này, nước, phù sa, triều, lũ và sự thay đổi đường bờ không phải các điều kiện bên ngoài cần khắc phục sau quy hoạch, mà là dữ liệu gốc của quy hoạch và thiết kế.

Trong Water Urbanisms East (2013), De Meulder và Shannon tiếp cận nước như tác nhân kiến tạo hình thái. Theo đó mạng nước tham gia trực tiếp vào tổ chức đất đai, giao thông, không gian công cộng và đời sống đô thị [14]. Khái niệm này đặc biệt phù hợp với Cần Thơ, nơi quan hệ sông – rạch – bến – chợ từng là cấu trúc vận hành của đô thị, trước khi đường bộ trở thành hạ tầng chi phối.

Khái niệm “thành phố bọt biển” được Yu, Li, Yuan và cộng sự trình bày trong “Sponge City: Theory and Practice” (2015) như cách quản lý nước mưa dựa vào hấp thụ, thấm, trữ, làm sạch, điều tiết và tái sử dụng [15].

Hướng dẫn của Quốc vụ viện Trung Quốc năm 2015 cụ thể hóa nguyên tắc này bằng việc ưu tiên duy trì đặc điểm tự nhiên của sông, hồ, vùng trũng và mạng thoát nước tại chỗ [16]. Ba tiếp cận trên cùng xác lập quan điểm là: Hạ tầng, sử dụng đất và các trung tâm phát triển phải tôn trọng năng lực điều tiết của từng lưu vực, thay vì làm gián đoạn dòng chảy rồi xử lý hệ quả bằng công trình kỹ thuật đơn tuyến.

Hình 3. Mô hình đô thị bọt biển Sponge City. Nguồn: [23]

2.3. Kinh nghiệm thực tiễn và bài học vận dụng cho nhận diện cấu trúc nước đô thị Cần Thơ

Các nghiên cứu về cấu trúc Nước Hà Nội cho thấy sông, hồ và làng – chợ là lớp cấu trúc gốc, có trước và tiếp tục chi phối “đô” là lớp cấu trúc thứ hai.  Chính vì vậy, việc nghiên cứu nhận diện, bảo tồn và tái lập liên kết sông – hồ – không gian công cộng Hà nội trong phát triển hiện đại [17] là rất quan trọng. 

Trường hợp TP.HCM cho thấy, việc nghiên cứu  sự biến đổi của cấu trúc sông Đồng Nai – Sài Gòn – Vàm Cỏ và kênh rạch dưới tác động thuộc địa hóa, công nghiệp hóa và đô thị hóa vùng là bài học cốt lõi của việc không tách rời hành lang nước, vùng ngập và mạng giao thông thủy [18] trong phát triển.

Ở Rotterdam, quảng trường nước Benthemplein và các không gian trữ nước đa chức năng cho thấy, nước mưa có thể được tiếp nhận trong không gian công cộng thay vì chỉ đưa vào cống ngầm [19]. Tại Thượng Hải, các chương trình thành phố bọt biển gắn giải pháp thấm – trữ – lọc – điều tiết với kiểm soát sử dụng đất theo lưu vực và theo loại hình khu vực [20].

Những kinh nghiệm này không phải mô hình để sao chép, mà cung cấp cách vận dụng thích ứng cho Cần Thơ nhằm bảo toàn tính liên tục của cấu trúc nước, chuyển không gian trữ nước thành hạ tầng công cộng đa chức năng và tổ chức trung tâm, giao thông, logistics trên nền mạng xanh – lam.

Các lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn trên cho thấy, đô thị châu thổ chỉ có thể phát triển bền vững khi cấu trúc nước được xem là nền tảng tổ chức không gian, thay vì là đối tượng xử lý kỹ thuật sau đô thị hóa.

Đối với Cần Thơ, việc nhận diện hình thái cần đặt trong mối quan hệ giữa sông Hậu và mạng rạch nhánh, địa mạo giồng – cồn – vùng trũng, cấu trúc cư trú – vườn – bến – chợ, cùng sự chuyển đổi của hạ tầng giao thông và các trung tâm phát triển. Các thành phần này không tồn tại riêng lẻ mà chồng lớp, tác động qua lại trong tiến trình lịch sử.

3. Quá trình hình thành, biến đổi và định hướng quy hoạch cấu trúc nước đô thị Cần Thơ

3.1. Giai đoạn sơ khởi hình thành nền tảng đô thị sông nước (1739 – 1876)

Tư liệu về địa danh ghi nhận Trấn Giang- tiền thân của Cần Thơ, đã hình thành từ năm 1739 gắn với vị trí thủy lộ trên dòng Bassac [5] và các hoạt động khai phá của cư dân ở hạ lưu sông Mê Kông. Đây là con sông chính có mặt tiền giao thương với các rạch nhánh dẫn nước cho phép người và hàng ra vào nội đồng tấp nập. Các dải bờ cao, giồng và cồn là các điểm tựa thuận lợi cho không gian cư trú, trong khi các vùng trũng chỉ đảm nhận chức năng điều tiết nước và sản xuất.

Không theo một sơ đồ đường phố áp đặt, các không gian nhà – vườn – bến – chợ phát triển theo mạng thủy lộ. Có thể nhận thấy sự khác biệt của hình thái các con sông tại Cần Thơ. Nếu hành lang sông Hậu có các dải bờ cao ven sông thì Hậu Giang gắn với vùng trũng và hệ kênh nội đồng, trong khi Sóc Trăng lại bao gồm các giồng cát, cồn và không gian cửa sông – biển. Sự khác biệt ấy là cơ sở của phân công chức năng tự nhiên giữa các cực, không phải trở ngại cần phải san bằng cưỡng bức.

3.2. Giai đoạn định hình cấu trúc nước thời thuộc địa (1876 – 1954)

Ngày 23/2/1876, chính quyền Pháp lập hạt Cần Thơ. Tới đầu thế kỷ XX, hạt trở thành tỉnh [5]. Quan điểm của người Pháp khi lập khu trung tâm hành chính – thương mại ven sông là chuyển tiếp từ cấu trúc nước chi phối sang cấu trúc nước kết hợp, nhằm nhấn mạnh vai trò trung tâm Cần Thơ trong vùng.

Theo Nghiên cứu chuyên khảo về TP Cần Thơ (Monographie de la province de Cần-Thơ, 1904) thì giao thông nước được phân thành sông rạch, kênh đào và đường bộ – đồng thời ghi nhận dòng Bassac tại khu vực Cần Thơ có bề rộng dài gần 5 km [4]. Tư liệu này cho thấy trung tâm thuộc địa với bến – chợ – kho vẫn luôn gắn liền với sông, kênh đào và tuyến đường bộ.

Hình 4. Bản đồ Cần Thơ 1890 của Bertaux. (Nguồn: gallica.bnf.fr)

3.3. Giai đoạn biến đổi của cấu trúc nước trong đô thị và những hệ luỵ (1954 – 2025)

Giai đoạn 1954 – 1975 duy trì vai trò giao thương vùng của Cần Thơ, trong đó giao thông thủy còn quan trọng đối với trao đổi nội đồng. Từ sau năm 1975, nhất là khi Cần Thơ trở thành thành phố trực thuộc Trung ương năm 2004, hạ tầng đường bộ, công nghiệp và đất xây dựng mở rộng nhanh. Đô thị phát triển mạnh theo các trục đường và các khu nền đắp, trong khi nhiều rạch nhánh bị thu hẹp, bị ngăn cắt hoặc tách khỏi quan hệ thủy văn ban đầu.

Sự biến đổi này tạo động lực kinh tế nhưng cũng gây đứt gãy hình thái: đường đắp cao cản trở hướng thoát nước, bề mặt không thấm gia tăng, còn vùng trũng và ao hồ bị thu hẹp. Trong điều kiện nền đất yếu, triều và tác động khí hậu, việc mất liên thông giữa sông chính, rạch nhánh và tiểu lưu vực làm giảm năng lực tự điều tiết của đô thị. Vì vậy, ngập, sụt lún và xói lở cần được nhận thức như hệ quả của một mô hình phát triển chưa tương thích đầy đủ với nền châu thổ [9, 22].

3.4. Giai đoạn tái cấu trúc không gian đô thị Cần Thơ mới (từ năm 2025 đến nay)

Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, Cần Thơ mới trở thành khu vực đô thị liên kết sông Hậu, vùng trũng nội đồng – giồng cát và cửa sông – biển [6]. Quy hoạch phát triển gắn liền với cấu trúc nước Cần Thơ. Hành lang sông Hậu quy tụ các cực Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn và Thốt Nốt. Hậu Giang bao gồm Vị Thanh – Ngã Bảy – Phụng Hiệp gắn với kênh đào và sản xuất. Sóc Trăng, Kế Sách và Trần Đề kết nối vùng giồng cát, cửa sông, biển và logistics. Đây không phải sự cộng gộp ba đơn vị hành chính, mà là ba thành phần hình thái bổ sung trong một hệ thống châu thổ.

Quy hoạch chung cần tổ chức các cực này theo quan hệ sông – đồng bằng – biển, phù hợp định hướng “đô thị sông – nước gắn với các hạ tầng tự nhiên” đã được xác lập trong nhiệm vụ quy hoạch [7]. Điều đó đòi hỏi chuyển từ tư duy mở rộng đơn cực theo nền đường sang tổ chức đa cực, trong đó hạ tầng xanh – lam là khung liên kết và kiểm soát phát triển.

3.5. Định hướng quy hoạch đô thị châu thổ Cần Thơ thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở cấu trúc nước

3.5.1. Nguyên tắc chung 

Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, tầm nhìn chiến lược cho Định hướng quy hoạch đô thị châu thổ Cần Thơ thích ứng biến đổi khí hậu là cần tái lập mối quan hệ cộng sinh giữa cấu trúc nước, hệ thống trung tâm và động lực phát triển vùng. Việc xác định trung tâm hành chính mới, nếu được đặt ra, không nên bắt đầu từ một vị trí đơn lẻ. Điều quan trọng trước hết phải đặt nó trong một cấu trúc bảo đảm an toàn nước – đất. Cấu trúc này cho phép tiếp cận vùng, phát huy năng lực lan tỏa mà không làm suy giảm không gian xanh – lam.

Hình 5. Cấu trúc xanh – nước đô thị Cần Thơ

3.5.2. Các nguyên tắc cụ thể

– Thiết lập lộ giới xanh xương cá để phục hồi tính liên tục của cấu trúc nước:

Lộ giới xanh xương cá được hiểu là mạng không gian mở liên tục với nền tảng sông Hậu và các sông chính là trục xương sống, các rạch nhánh, kênh, hành lang cây xanh và đường đi chậm là các nhánh ngang kết nối nước, cây xanh và không gian công cộng vào khu dân cư.

Lộ giới không chỉ là khoảng lùi ven sông, nó còn là không gian nới các rạch bị nghẽn cần được mở thông. Nguyên tắc này vừa bảo vệ hành lang thoát nước, vừa khôi phục quan hệ bến – vườn – khu ở vốn có của đô thị châu thổ.

– Kiến tạo hệ thống trữ nước phân tán theo tiểu lưu vực:

Thay vì dựa chủ yếu vào cống, kè và trạm bơm, mỗi tiểu lưu vực cần xác định nơi tiếp nhận nước mưa, nơi trữ tạm, hướng thoát và khả năng thấm. Hệ thống trữ nước bao gồm: Hồ điều tiết, ao hồ, vùng trũng, công viên ngập nước và sân bãi đa năng. Chúng cần được tổ chức thành chuỗi dự trữ – điều tiết phân tán.

Trong điều kiện bình thường, đó là không gian công cộng, sinh thái và cảnh quan. Khi mưa lớn hoặc triều cao, chúng chuyển hóa thành nơi tiếp nhận nước và giảm áp lực lên hệ thống thoát nước. Giải pháp này vận dụng nguyên lý thành phố bọt biển nhưng phải phù hợp địa mạo và chế độ triều của từng tiểu vùng.

– Hệ thống trung tâm đa cực và logistics xanh sông – biển:được hình thành bao gồm:

  • Ninh Kiều với vai trò tiếp tục là trung tâm lịch sử, văn hóa, thương mại và dịch vụ công cộng cấp vùng. 
  • Cái Răng, Ô Môn – Thốt Nốt tăng cường chức năng công nghiệp, dịch vụ và giao thương ven sông; 
  • Vị Thanh – Ngã Bảy – Phụng Hiệp gắn với nông nghiệp, chế biến và mạng kênh nội đồng; 
  • Sóc Trăng – Kế Sách – Trần Đề gắn với cửa sông, biển và logistics. 

Các trung tâm đa cực trên phải đi kèm giao thông đa phương thức, bảo vệ hành lang nước và hạn chế nền đắp chia cắt lưu vực.

– Đối với trung tâm hành chính mới, việc lựa chọn địa điểm cần được kiểm chứng trong các bước quy hoạch tiếp theo gồm:

  • An toàn địa mạo – thủy văn, không nằm trong vùng trữ nước, xói lở hoặc ngập sâu; 
  • Tiếp cận vùng bằng đường bộ và đường thủy;
  • Khả năng thừa hưởng hạ tầng công cộng; 
  • Năng lực tạo lan tỏa mà không hút áp lực vào một lõi đơn cực;
  • Bảo toàn cấu trúc xanh – lam, hạn chế san lấp và nền đắp lớn;
  • Tính khả thi đầu tư, thực hiện và đồng thuận xã hội. 

Các quan niệm truyền thống về đất cao, hướng nước và không gian thoáng chỉ có giá trị khi được chuyển hóa thành các chỉ tiêu địa mạo, thủy văn, tiếp cận và không gian công cộng có thể kiểm chứng. Hành lang logistics xanh sông Hậu – Trần Đề cần được xem là một cấu phần của hệ thống này: tăng vận tải thủy, liên kết sản xuất – chế biến – cửa biển và giảm sự phụ thuộc tuyệt đối vào đường bộ nền đắp. Như vậy, định hướng phát triển không bắt đầu từ một công trình hành chính đơn lẻ mà từ việc phục hồi cấu trúc nước như nền tảng tổ chức đô thị.

4. Kết luận 

Thông qua nghiên cứu cấu trúc nước Cần Thơ qua từng giai đoạn phát triển, có thể nhận thấy: (1) Từ giai đoạn mới hình thành, hệ thống kênh đào, giồng – cồn và vùng trũng đã là khung cấu trúc nền tảng của Cần Thơ; (2) Công cuộc đô thị hóa với việc san lấp, thu hẹp thủy hệ để phát triển giao thông đường bộ là nguyên nhân làm giảm liên thông dòng chảy và không gian trữ nước; (3) Cần Thơ mới cần được tổ chức như hệ thống đa cực xanh – lam, không phải một lõi Ninh Kiều mở rộng, trong đó mỗi cực cần phát triển theo lợi thế địa mạo, thủy văn và khả năng kết nối vùng.

Trong định hướng phát triển Cần Thơ, cần gắn cấu trúc quy hoạch dựa trên cấu trúc nước đa dạng của Cần Thơ theo hướng giảm phụ thuộc vào giao thông đường bộ, mở rộng hệ thống giao thông thuỷ. Quy hoạch Cần Thơ theo hướng đa cực, đa trung tâm, tạo kết nối giao thông thuỷ với các thành phần cấu thành không gian đô thị.

Việc xác định trung tâm hành chính mới cần tuân thủ các tiêu chí địa mạo – thủy văn, tiếp cận vùng, hạ tầng công cộng, năng lực lan tỏa và bảo toàn cấu trúc xanh – lam. Đây là căn cứ hình thái – thủy văn để quy hoạch chung Cần Thơ phát triển thuận thiên, thích ứng biến đổi khí hậu và giữ được bản sắc đô thị châu thổ.

GS.TS.KTS Doãn Minh Khôi – Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
KTS Cao Thành Nghiệp – Trường Đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí. NXB. Giáo dục, Hà Nội, 1998.
[2] Sơn Nam. Lịch sử khẩn hoang miền Nam. NXB. Đông Phố, Sài Gòn, 1973.
[3] Vương Hồng Sển. Hậu Giang – Ba Thắc, Sài Gòn, 1967.
[4] Anonyme Géographie physique, économique et historique de la Cochinchine: Xe fascicule – Monographie de la province de Cần-Thơ. Saigon: Imprimerie L. Ménard, 1904.
[5] Đào Ngọc Cảnh. Bàn về nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh “Cần Thơ”. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, vol, 57, no. 3C, pp. 229-235. 2021, https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2021.105
[6] Quốc hội. Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, 2025.
[7] Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 909/QĐ-TTg ngày 21/5/2026 phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chung thành phố Cần Thơ đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075, 2026.
[8] VIUP. Báo cáo ý tưởng Quy hoạch chung TP Cần Thơ đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075. Tài liệu báo cáo,2026.
[9] Huong, H.T.L., & Pathirana, A. Urbanization and climate change impacts on future urban flooding in Can Tho City, Vietnam. Hydrology and Earth System Sciences, vol. 17, pp. 379-394. 2013, https://doi.org/10.5194/hess-17-379-2013.
[10] Shannon, K., De Meulder, B., & D’Auria, V. From above/from below: The case of Can Tho, Vietnam. New Geographies, vol. 4, pp. 73-84. 2011.
[11] Doãn Minh Khôi. Hình thái học đô thị. NXB. Xây dựng, Hà Nội, 2016.
[12] Conzen, M.R.G. Alnwick. Northumberland: A Study in Town-Plan Analysis, London: Institute of British Geographers, 1960.
[13] Meyer, H., & Nijhuis, S. Delta urbanism: Planning and design in urbanized deltas – Comparing the Dutch Delta with the Mississippi River Delta. Journal of Urbanism, vol. 6 no. 2, pp. 160-191. 2013, https://doi.org/10.1080/17549175.2013.820209.
[14] De Meulder, B. & Shannon, K. Water urbanisms East: Emerging practices and age-old traditions, in B. De Meulder & K. Shannon (Eds.), Water Urbanisms East, pp. 4-17, Zürich: Park Books, 2013.
[15] Yu, K., Li, D., Yuan, H., Fu, W., Qiao, Q., & Wang, S. “Sponge City”: Theory and practice. City Planning Review, vol. 39, no. 6, pp. 26-36. 2015.
[16] General Office of the State Council of the People’s Republic of China Guiding Opinions on Promoting the Construction of Sponge Cities. 2015.
[17] Doãn Minh Khôi, & Cao Thành Nghiệp. Nhận diện cấu trúc nền tảng cho định hướng phát triển không gian đô thị Hà Nội. Tạp chí Xây dựng, số 05, pp. 54-59. 2026.
[18] Doãn Minh Khôi, Trương Thái Hoài An, & Cao Thành Nghiệp. Biến đổi khung cấu trúc đô thị TP.HCM dưới góc nhìn hình thái học đô thị. Kỷ yếu hội thảo trường Đại học Kiến trúc TP.HCM “Định hình cấu trúc siêu đô thị TP.HCM trong bối cảnh mới”, 2026.
[19] Ilgen, S., Sengers, F., & Wardekker, A. The case of water squares in Rotterdam and Mexico City. Water, vol. 11, no. 5, p. 983, 2019, https://doi.org/10.3390/w11050983.
[20] Feng, S., & Yamamoto, T. Preliminary research on sponge city concept for urban flood reduction: A case study on ten sponge city pilot projects in Shanghai, China. Disaster Prevention and Management, vol. 29, no. 6, pp. 961-985, 2020,  https://doi.org/10.1108/DPM-01-2020-0019.
[21] Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/2/2022 phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. 2022.
[22] World Bank. Can Tho, Vietnam: Enhancing Urban Resilience. Washington, DC: World Bank, 2015.
[23] Phạm Ngọc Tuấn & Cao Thành Nghiệp. Định hình cấu trúc không gian đô thị Nhà Bè trong bối cảnh mới. Kỷ yếu hội thảo ”Quy hoạch và định hướng phát triển Nhà Bè trong giai đoạn mới”, 2025.
TỪ KHÓA:coverquy hoạch đô thị Cần Thơ
NGUỒN:Tạp chí Xây dựng
Bài trước TP. Hồ Chí Minh sẽ công bố quy hoạch tổng thể, khởi công 3 tuyến metro mới
Ad imageAd image

Mới cập nhật

TP. Hồ Chí Minh sẽ công bố quy hoạch tổng thể, khởi công 3 tuyến metro mới
Tin trong nước 22/09/2026
Hà Nội phân cấp mạnh nhiều nhiệm vụ trong lĩnh vực xây dựng, giao thông
Tin trong nước 22/09/2026
Kiểm soát khí thải tại TP.HCM – Bài cuối: Mục tiêu giữ vững, lộ trình tiếp tục hoàn thiện
Góc nhìn 22/09/2026
Làm rõ quyền lựa chọn của chủ sở hữu nhà chung cư
Kinh tế / Pháp luật 21/09/2026
Tiếp cận ký ức trong bảo tồn công trình công cộng giai đoạn 1954-1986 ở Hà Nội
Kiến trúc 21/09/2026
Kiểm soát khí thải tại TP.HCM – Bài 3: Cần lộ trình chuyển đổi linh hoạt
Phản biện 21/09/2026
UN-Habitat: Đô thị bền vững cần được thiết kế để giảm chất thải
Tin thế giới 20/09/2026
World Cleanup Day launched, calling for food waste reduction
News 20/09/2026
Kiểm soát khí thải tại TP.HCM – Bài 2: Chuyển đổi phương tiện xanh, người dân và doanh nghiệp lo gì?
Phản biện 20/09/2026
Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng định hướng phát triển theo 3 thềm địa hình
Phản biện 19/09/2026
- Advertisement -
Ad imageAd image
© 2000-2026 Ashui.com. All Rights Reserved.
Welcome back!

Sign in to your account

Username hoặc Email của bạn
Mật khẩu

Quên mật khẩu?