
Mở rộng phạm vi điều chỉnh khu vực lập quy hoạch phân khu
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định 34/2026/NĐ-CP là việc sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định 178/2025/NĐ-CP về các trường hợp lập quy hoạch chung đô thị theo hướng mở rộng căn cứ pháp lý và nới điều kiện.
Cụ thể, Nghị định giảm ngưỡng mật độ dân số tối thiểu xuống 300 người/km² (so với quy định trước đó là 500 người/km²), bỏ quy định diện tích tối thiểu đối với đô thị mới, đồng thời tăng tính linh hoạt trong xác định phạm vi quy hoạch.
Theo quy định sửa đổi, phạm vi lập quy hoạch chung đô thị được xác định theo nhiều trường hợp, từ thành phố, tỉnh dự kiến thành lập thành phố, đến đặc khu là đô thị, hoặc tổ hợp nhiều phường liền kề, phường độc lập; trường hợp gồm phường và xã liền kề thì kèm các điều kiện diện tích tối thiểu 50 km² và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu 30%.
Đối với đô thị mới, quy định nhấn mạnh phạm vi tối thiểu theo địa giới đơn vị hành chính cấp xã, gắn với định hướng trong quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn hoặc quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch chung thành phố.
Việc điều chỉnh sẽ tạo dư địa cho các địa bàn đang trong quá trình đô thị hóa, các khu vực mở rộng đô thị và các cực tăng trưởng mới mà trước đây gặp khó khăn do tiêu chí “ngưỡng cứng” về mật độ dân số hoặc diện tích.
Đồng thời, quy định cũng khẳng định phạm vi quy hoạch trong nội dung quy hoạch chung đô thị được phê duyệt là căn cứ quản lý phát triển đô thị, qua đó tăng tính ổn định của công tác quản lý nhà nước dựa trên đồ án quy hoạch.
Nghị định sửa đổi, bổ sung các trường hợp lập quy hoạch phân khu theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh, bao quát nhiều loại hình khu vực, đồng thời không quy định cứng về quy mô diện tích.
Theo đó, đối với khu vực thuộc quy hoạch chung thành phố hoặc quy hoạch chung đô thị mới dự kiến thành lập thành phố; hoặc khu vực thuộc quy hoạch chung đô thị còn lại, quy hoạch chung khu kinh tế, quy hoạch chung khu du lịch quốc gia… việc lập quy hoạch phân khu được thực hiện khi đã được xác định trong kế hoạch thực hiện quy hoạch chung, còn quy mô diện tích được xác định trên cơ sở cấu trúc không gian của quy hoạch chung và do UBND cấp tỉnh quyết định.
Đáng chú ý, đối với khu chức năng, Nghị định giao UBND cấp tỉnh xác định quy mô diện tích theo yêu cầu quản lý phát triển hoặc theo mục tiêu, yêu cầu đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật theo pháp luật về xây dựng. Bên cạnh đó, Nghị định bổ sung trường hợp khu vực được xác định dựa trên quy hoạch chung hoặc quy hoạch tỉnh (đối với đặc khu thuộc tỉnh, không định hướng là đô thị) để triển khai dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật.
Cách tiếp cận mới cho phép địa phương chủ động hơn trong quy hoạch phân khu theo nhu cầu quản lý và yêu cầu triển khai hạ tầng, thay vì áp theo những khung diện tích mang tính cơ học, qua đó góp phần rút ngắn thời gian chuẩn bị quy hoạch, tăng khả năng đáp ứng yêu cầu đầu tư, phát triển trong thực tiễn.
Cùng với điều chỉnh đối với quy hoạch chung và phân khu, Nghị định cũng sửa đổi theo hướng không quy định ngưỡng diện tích cụ thể đối với khu chức năng (quy định cũ là dưới 200 ha), mà căn cứ theo phê duyệt quy hoạch chi tiết để triển khai dự án đầu tư xây dựng theo pháp luật về xây dựng.
Thay đổi có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt trong việc đồng bộ quy hoạch chi tiết với quá trình chuẩn bị và triển khai dự án, giảm nguy cơ phát sinh thủ tục, đồng thời tạo sự linh hoạt cho địa phương trong tổ chức không gian phát triển.
Bổ sung yêu cầu gửi hồ sơ quy hoạch qua cơ sở dữ liệu quốc gia
Một điểm mới quan trọng khác là việc sửa đổi, bổ sung về trách nhiệm của cơ quan tổ chức lập quy hoạch, theo hướng bổ sung yêu cầu gửi hồ sơ quy hoạch đô thị và nông thôn qua hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng đến cơ quan thẩm định để thẩm định.
Đồng thời, Nghị định quy định rõ trường hợp chuyển tiếp: hồ sơ chưa gửi thẩm định theo quy định này trước ngày 01/01/2026 thì sau khi được phê duyệt, cơ quan tổ chức lập quy hoạch vẫn phải gửi hồ sơ đã thẩm định và phê duyệt qua hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia.
Việc bổ sung yêu cầu này phản ánh xu hướng quản trị hiện đại: Quy hoạch không chỉ là bộ hồ sơ giấy phục vụ thẩm định, mà là dữ liệu nền tảng để quản lý phát triển, kiểm tra – giám sát và liên thông với các hoạt động đầu tư, xây dựng, đất đai, hạ tầng. Khi được chuẩn hóa và tập trung trên hệ thống dữ liệu quốc gia, hồ sơ quy hoạch sẽ thuận lợi hơn cho công tác rà soát, cập nhật, hậu kiểm và nâng cao tính minh bạch.
Nghị định 34/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung về trách nhiệm của UBND cấp tỉnh và cấp phê duyệt quy hoạch trong quản lý kinh phí hoạt động quy hoạch đô thị và nông thôn.
Theo đó, UBND cấp tỉnh (đối với quy hoạch thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ) và cấp phê duyệt quy hoạch có trách nhiệm ban hành kế hoạch kinh phí hằng năm, phê duyệt dự toán chi phí cho hoạt động quy hoạch; đồng thời được phân cấp, ủy quyền cho cơ quan trực thuộc phê duyệt dự toán phù hợp quy định về tổ chức chính quyền địa phương.
Nghị định cũng quy định rõ: trường hợp nhiệm vụ quy hoạch, quy hoạch đô thị và nông thôn do nhà đầu tư là cơ quan tổ chức lập quy hoạch, thì chính cơ quan tổ chức lập quy hoạch đó có trách nhiệm phê duyệt dự toán chi phí lập nhiệm vụ và đồ án quy hoạch.
Đây là điểm nhằm tăng tính chủ động về nguồn lực, đồng thời làm rõ trách nhiệm và quy trình quản lý chi phí, góp phần hạn chế tình trạng kéo dài do vướng phê duyệt dự toán, nhất là trong bối cảnh nhu cầu lập, điều chỉnh quy hoạch gia tăng tại nhiều địa phương.
Theo Bộ Xây dựng, Nghị định 34/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa các nội dung được quy định tại Luật số 144/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn năm 2025; phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và các quy định về phân quyền, phân cấp trong hoạt động quy hoạch đô thị và nông thôn.
Đồng thời, Nghị định góp phần hoàn thiện pháp luật để khắc phục khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn; hướng tới đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh; đáp ứng yêu cầu phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Huỳnh Anh

