By using this site, you agree to the Privacy Policy and Terms of Use.
Accept
Ashui.comAshui.comAshui.com
  • Home
    • Bookmarks
    • English
      • News
      • Projects
      • Products
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
    Tin tức / Sự kiệnĐọc tiếp
    TPHCM tiếp cận hơn 50 đối tác mong muốn tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế
    KTSG Online 07/01/2026
    Phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo tồn di tích Tháp Nhạn tại Đắk Lắk
    Báo Xây dựng 06/01/2026
    Daikin Air Tower – công trình đầu tiên ở Việt Nam đạt 3 chứng nhận công trình xanh cấp độ cao nhất
    Báo Xây dựng 31/12/2025
    Công bố kết quả Ashui Awards 2025 (lần thứ 14)
    Ashui.com 31/12/2025
    Hà Nội công bố 2 đồ án quy hoạch chi tiết hai bên sông Tô Lịch: Định hình trục cảnh quan xanh nội đô
    Kinh tế & Đô thị 30/12/2025
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Font ResizerAa
Ashui.comAshui.com
Font ResizerAa
  • Home
  • Tin tức / Sự kiện
  • Chuyên mục
  • Công nghệ
  • Vật liệu / Thiết bị
  • Dự án
  • Tương tác
  • Cộng đồng
  • Home
    • Bookmarks
    • English
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Các kênh mạng xã hội
  • Advertise
© 2000-2025 Ashui.com. All Rights Reserved.
Quy hoạch đô thị

Hướng tới những thành phố đáng sống, hiệu quả và bao trùm

Để các đô thị thực sự trở thành “đầu tàu dẫn dắt quốc gia”, Việt Nam cần một cách tiếp cận đột phá: Phát triển đô thị bền vững dựa trên quản trị hiệu quả - quy hoạch tích hợp - hạ tầng thông minh - không gian bao trùm - kinh tế sáng tạo.

Tạp chí Xây dựng 08/01/2026
36 phút đọc
SHARE
Nội dung
1. Tổng quan2. Thực trạng đô thị Việt Nam3. Đô thị hóa – Công nghiệp hóa: Quy luật phát triển và bài học cho Việt Nam3.1. Đô thị hóa thúc đẩy công nghiệp hóa3.2. Công nghiệp hóa dẫn dắt đô thị hóa3.3. Vì sao phải gắn kết đô thị hóa với công nghiệp hóa?4. Quy hoạch tích hợp – nền tảng của đô thị bền vững5. Quản trị đô thị: Hiện trạng, hạn chế và giải pháp6. ESG – Khung tiếp cận mới cho phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam7. Không gian công cộng, môi trường, hạ tầng và khả năng chống chịu7.1. Định hướng phát triển đô thị bền vững7.2. Khung đánh giá phát triển đô thị bền vững8. Nhà ở và nâng cấp đô thị – Nền tảng của sự bao trùmKhung giải pháp phát triển nhà ở và nâng cấp đô thị9. Kinh tế sáng tạo và Chuyển đổi số – động lực mới cho đô thị Việt Nam9.1. Khung phát triển đô thị dựa trên kinh tế tri thức9.2. Kinh tế tri thức – động cơ tăng trưởng mới của đô thị Việt Nam10. Sáu trụ cột chiến lược hướng tới mô hình đô thị bền vững ở Việt Nam (đến năm 2030 tầm nhìn 2045)10.1. Quy hoạch tích hợp và quản trị thông minh10.2. Hạ tầng hiện đại và giao thông công cộng10.3. Phát triển không gian xanh – mặt nước – chống chịu khí hậu10.4. Nhà ở và nâng cấp đô thị bao trùm10.5. Năng lực địa phương và tài chính đô thị10.6. Kinh tế sáng tạo – đổi mới – tri thức11. Bài học quốc tế có thể áp dụngBài học 1: Mô hình “đô thị nén – giao thông công cộng – công nghiệp công nghệ cao” (Nhật Bản, Hàn Quốc)Bài học 2: “Đô thị hóa dựa trên năng suất” (Trung Quốc)Bài học 3: “Nâng cấp đô thị dựa vào cộng đồng” (Medellín, Colombia)Bài học 4: “Hành lang kinh tế liên kết đa đô thị” (Hà Lan, Đức, Nhật Bản)Bài học 5: “Kinh tế sáng tạo làm động cơ đô thị” (London, Seoul, Singapore)
(Ảnh minh họa)

1. Tổng quan

Trong gần bốn thập niên đổi mới, Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ thành một quốc gia đô thị hóa nhanh, năng động và đầy khát vọng. Từ một hệ thống đô thị nhỏ bé, đất nước hôm nay đã có hơn 870 đô thị (theo phân loại đô thị cũ), đóng góp 60 – 70% GDP quốc gia. Những đại đô thị như Hà Nội và TP.HCM trở thành động lực tăng trưởng, cửa ngõ hội nhập, trung tâm của sáng tạo, đổi mới và văn hóa.

Song hành với thành công, các thành phố Việt Nam phải đối mặt với những thách thức ngày càng phức tạp: Phát triển lan tỏa và thiếu kiểm soát, áp lực hạ tầng, biến đổi khí hậu, bất bình đẳng đô thị, ô nhiễm môi trường, hạn chế về quản trị và phân cấp. Để các đô thị thực sự trở thành “đầu tàu dẫn dắt quốc gia”, Việt Nam cần một cách tiếp cận đột phá: Phát triển đô thị bền vững dựa trên quản trị hiệu quả – quy hoạch tích hợp – hạ tầng thông minh – không gian bao trùm – kinh tế sáng tạo.

Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi mô hình phát triển với trọng tâm là quá trình đô thị hóa nhanh, công nghiệp hóa theo chiều sâu, và chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức – số – carbon thấp. Đô thị không chỉ là nơi tập trung dân cư mà là không gian kinh tế – chính trị – văn hóa quan trọng, nơi định hình năng lực cạnh tranh quốc gia mà còn cung cấp dịch vụ công, bảo vệ môi trường và khả năng chống chịu.

Tính đến 2024, tỷ lệ dân số đô thị đạt 40,19% (40,6 triệu người), dự kiến tăng lên 45% năm 2025 và 50% năm 2030. Quá trình này đặt ra những yêu cầu mới về quy hoạch, quản trị đô thị, Bài viết dưới đây hệ thống hóa các luận điểm chính, làm rõ hướng đi và gợi mở mô hình phát triển đô thị bền vững cho Việt Nam, với những minh chứng sinh động từ Hà Nội và TP.HCM – hai thành phố đang đi đầu trong hành trình chuyển đổi.

2. Thực trạng đô thị Việt Nam

Đô thị hóa Việt Nam diễn ra nhanh chóng với tốc độ trung bình 0,53% mỗi năm. Mỗi thành phố là một cực tăng trưởng, nơi hội tụ lao động, tri thức, vốn, sản xuất và sáng tạo. Tuy nhiên, mặt trái cũng đi kèm: Phát triển phi chính thức và lan tỏa tự phát; Thiếu cơ sở hạ tầng và dịch vụ cơ bản; Nhà ở không đáp ứng được nhu cầu và khả năng chi trả; Ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ngập lụt đô thị; Tắc nghẽn giao thông và quá tải dịch vụ công; Chênh lệch phát triển giữa trung tâm – ngoại vi; Thiếu phối hợp liên ngành và liên cấp trong quản trị đô thị. Rõ ràng, đô thị hóa không thể chỉ là mở rộng ranh giới hay xây dựng các khu đô thị mới rời rạc. Nó phải là quá trình chuyển đổi chất lượng sống, năng suất và tính bền vững, đặt con người ở vị trí trung tâm. (Bảng 1)

3. Đô thị hóa – Công nghiệp hóa: Quy luật phát triển và bài học cho Việt Nam

Việt Nam đã bước vào giai đoạn đô thị hóa nhanh cùng lúc với công nghiệp hóa, tạo nên sự cộng hưởng mạnh mẽ trong tăng trưởng kinh tế. Trên thế giới, không một quốc gia nào trở thành nước công nghiệp mà không có hệ thống đô thị mạnh. Việt Nam cũng đang đi theo quy luật này.

3.1. Đô thị hóa thúc đẩy công nghiệp hóa

Đô thị là nơi tập trung hạ tầng, lao động và dịch vụ công cộng – những yếu tố thiết yếu cho sản xuất quy mô lớn và công nghiệp hiện đại. Khi đô thị mở rộng: Hạ tầng giao thông – logistics được đầu tư, giúp doanh nghiệp giảm chi phí và tăng năng suất. Nguồn lao động dồi dào từ nông thôn đổ về thành phố, tạo điều kiện hình thành ngành sản xuất mới. Dịch vụ hỗ trợ phát triển như tài chính, thương mại, giáo dục, logistics, công nghệ thông tin… trở thành “hậu cần mềm” cho công nghiệp.

Chính Hà Nội và TP.HCM là minh chứng rõ rệt khi 80 – 85% doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp dịch vụ chất lượng cao tập trung ở hai đại đô thị này. Minh chứng sự phát triển của Khu công nghệ cao Hòa Lạc và Khu công nghệ cao TP.HCM (SHTP) cho thấy, đô thị hóa chất lượng cao tác động trực tiếp đến khả năng thu hút FDI và hình thành chuỗi sản xuất công nghệ.

3.2. Công nghiệp hóa dẫn dắt đô thị hóa

Ở chiều ngược lại, công nghiệp hóa tạo động lực công ăn việc làm, thu hút dân cư, thúc đẩy hình thành các khu đô thị mới, khu công nghiệp – đô thị – dịch vụ. Ví dụ: Bình Dương (cũ), Đồng Nai, Bắc Ninh và Hải Phòng là những tỉnh thành “tăng tốc đô thị” nhờ dòng vốn FDI và các khu công nghiệp quy mô lớn. Tại Hà Nội, sự phát triển của các cụm công nghiệp như Đông Anh, Long Biên, Gia Lâm kéo theo các khu đô thị mới, dịch vụ xã hội, thương mại và nhà ở. TP.HCM với vai trò trung tâm công nghiệp – dịch vụ quốc gia tạo động lực phát triển cho cả vùng Đông Nam Bộ.

Đây chính là mô hình “đô thị – công nghiệp – dịch vụ” đang chứng minh hiệu quả ở nhiều quốc gia châu Á và có thể trở thành cấu trúc bền vững của Việt Nam đến năm 2045.

3.3. Vì sao phải gắn kết đô thị hóa với công nghiệp hóa?

Một quốc gia chỉ đạt hiệu quả tối đa khi quy hoạch đô thị – quy hoạch công nghiệp – quy hoạch giao thông – quy hoạch đất đai được tích hợp đồng bộ. Nếu không, sẽ xuất hiện: Đô thị phát triển nhưng thiếu nền tảng kinh tế; Khu công nghiệp phát triển nhưng không có nhà ở, dịch vụ cho công nhân; Kẹt xe, thiếu dịch vụ công cộng, phát triển nóng thiếu kiểm soát; Phân mảnh không gian, chi phí đầu tư công tăng cao.

Việt Nam hiện đang gặp nhiều bất cập do hai quá trình này chưa thực sự liên kết chặt chẽ. Do đó, giai đoạn tới phải coi liên kết đô thị – công nghiệp là chiến lược trung tâm của phát triển quốc gia.

4. Quy hoạch tích hợp – nền tảng của đô thị bền vững

Luật Quy hoạch 2017 đã tạo bước tiến quan trọng, nhưng còn nhiều vướng mắc khi triển khai. Nhìn từ Hà Nội và TP.HCM, những hạn chế trong quy hoạch cho thấy rõ: Mô hình quy hoạch tổng thể cứng nhắc; Thiếu khung kiểm soát phát triển; Quy hoạch không theo thị trường và không dựa trên hành động; Đô thị hóa không gắn với việc làm và hạ tầng dịch vụ; Phát triển lan tỏa, “nhảy cóc”, làm suy giảm hiệu quả sử dụng đất.

Những hạn chế hiện nay cho thấy, Việt Nam cần chuyển từ tư duy “quy hoạch không gian” sang quy hoạch chiến lược hành động, với trọng tâm là ba nguyên tắc cốt lõi: lựa chọn đúng các ưu tiên phát triển, bảo đảm tích hợp đa ngành và đa cấp, và duy trì tính linh hoạt để thích ứng và triển khai hiệu quả.

Một hệ thống quy hoạch hiện đại phải xác định rành mạch các lớp không gian gồm: Khu vực cần bảo tồn; khu vực hạn chế phát triển; khu vực phát triển có điều kiện; và các khu vực được khuyến khích phát triển. Điều này đặc biệt phù hợp với Hà Nội – đô thị có mật độ di sản và hệ sinh thái tự nhiên quý giá, từ khu phố cổ, khu phố Pháp đến Sóc Sơn, các làng nghề và mạng lưới sông hồ – những tài sản văn hóa và môi trường đang chịu sức ép lớn từ tốc độ phát triển.

Nếu không có định hướng chiến lược và để đô thị hóa diễn ra tự phát, hệ quả sẽ là chi phí logistics tăng cao, tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường và bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội phát triển. Việt Nam cần chuyển từ mô hình đô thị hóa thụ động sang đô thị hóa dẫn dắt phát triển quốc gia.

5. Quản trị đô thị: Hiện trạng, hạn chế và giải pháp

Việt Nam đang chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương từ ba cấp sang hai cấp ở nhiều nơi, hướng đến bộ máy tinh gọn, minh bạch và vận hành nhanh hơn. Tuy vậy, còn những tồn tại: Pháp lý phân tán, thiếu tích hợp, đặc biệt giữa quy hoạch đô thị – nông thôn – hạ tầng – đất đai. Năng lực cấp cơ sở còn hạn chế, nhất là về quy hoạch, dữ liệu đô thị, kinh tế và hạ tầng. Thiếu cơ chế điều phối – hợp tác vùng hiệu quả, khiến Hà Nội – Bắc Ninh – Hưng Yên hay TP.HCM – Đồng Nai khó phát huy hiệu quả liên kết. Thiếu công cụ tài chính đô thị, bao gồm thuế đất, PPP, trái phiếu đô thị phù hợp. Chưa rõ ràng trong phân quyền – phân cấp, khiến địa phương thiếu chủ động.

Để khắc phục, cần trao quyền mạnh mẽ hơn cho chính quyền địa phương, đi kèm trách nhiệm giải trình và khung kiểm soát minh bạch, đồng thời sử dụng phương pháp quy hoạch tích hợp đa ngành và tiếp cận dựa trên quyền con người.

Hiện nay, hệ thống quản trị đô thị còn một số hạn chế như chồng chéo chức năng, phân bổ nguồn lực chưa hiệu quả, phối hợp liên ngành còn yếu và thiếu minh bạch dữ liệu. Để khắc phục, cần triển khai ba nhóm giải pháp trọng tâm: Thứ nhất, tăng phân quyền cho chính quyền đô thị, cho phép địa phương chủ động phê duyệt quy hoạch chi tiết, quyết định các dự án hạ tầng và thực hiện cơ chế tài chính đô thị linh hoạt hơn. Thứ hai, tăng cường điều phối vùng thông qua việc thành lập hội đồng vùng, tích hợp quy hoạch ba cấp (vùng – tỉnh – đô thị) và phát triển các hành lang kinh tế liên đô thị nhằm tối ưu hóa nguồn lực và kết nối phát triển. Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị, bao gồm xây dựng nền tảng dữ liệu đô thị thống nhất, GIS hóa toàn bộ quy hoạch và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý giao thông, môi trường và dịch vụ công.

6. ESG – Khung tiếp cận mới cho phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn đô thị hóa nhanh, nhu cầu nâng cấp hạ tầng, cải thiện môi trường sống và xây dựng mô hình phát triển bao trùm trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. ESG (Environmental – Social – Governance) đang nổi lên như một phương pháp tiếp cận toàn diện giúp các đô thị không chỉ phát triển nhanh mà còn bền vững, công bằng và có khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc kinh tế – xã hội – khí hậu.

Với Việt Nam, ESG không chỉ là một bộ tiêu chí đánh giá dự án, mà là cách tiếp cận chiến lược giúp tích hợp môi trường – xã hội – quản trị vào từng bước của quy hoạch, đầu tư và vận hành đô thị. Đây chính là thời điểm để Việt Nam tiếp cận ESG không như một bộ tiêu chuẩn quốc tế, mà như một khung hành động giúp đô thị phát triển bền vững, có trách nhiệm và có khả năng chống chịu trước các biến động tương lai.

Về môi trường, nhiều đô thị đang đối mặt với ô nhiễm không khí và nước, thiếu không gian xanh, rác thải gia tăng và tình trạng ngập úng ngày càng nghiêm trọng. Bê tông hóa khiến nhiệt độ đô thị tăng rõ rệt. Điều này đòi hỏi một chiến lược thích ứng mới dựa trên bảo tồn sinh thái, phục hồi sông hồ và kênh rạch, tăng diện tích cây xanh và thúc đẩy giao thông bền vững. Đồng thời, phát triển đô thị cần gắn với mục tiêu phát thải thấp, khuyến khích công trình xanh, năng lượng sạch và quản lý rủi ro thiên tai dựa trên dữ liệu.

Về xã hội, chênh lệch tiếp cận dịch vụ, thiếu hụt nhà ở giá hợp lý và sự xuống cấp của các khu dân cư cũ đặt ra yêu cầu xây dựng đô thị bao trùm – nơi mọi cư dân, từ công nhân đến lao động tri thức, đều có cơ hội tiếp cận dịch vụ công, không gian công cộng và hạ tầng chất lượng. Một đô thị bền vững phải bảo đảm nhà ở xã hội, nâng cấp khu dân cư hiện hữu mà không đẩy người dân ra ngoài hệ thống, đồng thời phát triển mô hình đô thị 15 phút để rút ngắn khoảng cách tiếp cận giáo dục, y tế và dịch vụ.

Về quản trị, thách thức lớn nhất là quy hoạch phân mảnh, thiếu tích hợp và thiếu dữ liệu minh bạch để ra quyết định. ESG cung cấp cách tiếp cận quản trị dựa trên minh bạch, trách nhiệm giải trình và chuyển đổi số. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu đô thị thống nhất, công khai quy hoạch và ứng dụng công nghệ như GIS, IoT và AI sẽ giúp đô thị vận hành hiệu quả hơn. Song song đó, cải cách thể chế và tăng cường phối hợp vùng là chìa khóa để phát triển đồng bộ, đặc biệt tại Hà Nội và TP.HCM – hai cực tăng trưởng quốc gia.

Áp dụng ESG vào quy hoạch, đầu tư và vận hành đô thị sẽ giúp Việt Nam ưu tiên dự án xanh, phân bổ nguồn lực hiệu quả và tạo môi trường phát triển minh bạch, dựa trên dữ liệu. Đây không chỉ là xu thế toàn cầu mà còn phù hợp với chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia, tạo lợi thế trong thu hút đầu tư quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh đô thị trong tương lai.

ESG mang lại một khung tiếp cận rõ ràng, hiện đại và thực tiễn để Việt Nam phát triển các đô thị bền vững, bao trùm và có khả năng cạnh tranh cao. Khi được lồng ghép vào quy hoạch, đầu tư và quản trị, ESG không chỉ giảm rủi ro mà còn mở ra cơ hội đổi mới mô hình tăng trưởng đô thị, hướng tới những thành phố đáng sống – hiệu quả – nhân văn.

Áp dụng ESG trong quy hoạch, đầu tư và vận hành đô thị sẽ: Hỗ trợ ưu tiên dự án xanh và phân bổ nguồn lực hiệu quả. Góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia. Tăng năng lực cạnh tranh đô thị và khả năng thu hút vốn quốc tế. Tạo môi trường phát triển bền vững, minh bạch và dựa trên dữ liệu.

7. Không gian công cộng, môi trường, hạ tầng và khả năng chống chịu

Phát triển bền vững không thể thiếu “xương sống sinh thái đô thị”: Công viên, hồ, sông, không gian xanh; Hệ thống giao thông xanh; Mặt nước điều hòa, chống ngập; Các không gian công cộng phục vụ cộng đồng; Nhà ở bền vững và khả năng chống chịu.

Hà Nội và TP.HCM đều đang trải qua những sức ép môi trường lớn: Hà Nội nằm trong nhóm thành phố ô nhiễm nhất thế giới về PM2.5; TP.HCM chịu rủi ro ngập lụt ngày càng tăng do biến đổi khí hậu và sụt lún đất.

7.1. Định hướng phát triển đô thị bền vững

Một đô thị bền vững không chỉ đo bằng các công trình lớn hay tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà được đánh giá bởi chất lượng môi trường sống, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và cách cư dân tiếp cận không gian công cộng, thiên nhiên và hạ tầng dịch vụ. Hiện nay, nhiều đô thị tại Việt Nam đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng không gian xanh, ngập lụt gia tăng, hạ tầng kỹ thuật quá tải, cùng với áp lực từ giao thông cá nhân và mở rộng đô thị theo chiều ngang. Điều này dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường, gia tăng rủi ro thiên tai, và làm hạn chế khả năng hình thành cộng đồng đô thị văn minh, tiện đi lại, đáng sống.

7.2. Khung đánh giá phát triển đô thị bền vững

Khung chiến lược trên xác định các ưu tiên theo từng lĩnh vực nhằm hướng đến một mô hình đô thị xanh – thông minh – thích ứng. Trọng tâm không chỉ là bổ sung công viên hay mở rộng đường giao thông, mà là thiết lập một hệ sinh thái đô thị: liên kết giữa không gian xanh, mặt nước, không khí sạch; giao thông công cộng hiệu quả; quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu; và không gian công cộng mang tính bao trùm, phục vụ mọi nhóm cư dân.

Mục tiêu cuối cùng là tạo ra đô thị có khả năng tự cân bằng: nơi nước mưa được hấp thụ và lưu trữ thay vì gây ngập; nơi người dân có thể đến trường, đi làm bằng metro hoặc xe buýt điện; và nơi các không gian xanh, công viên ven sông, quảng trường, phố đi bộ trở thành trung tâm đời sống đô thị. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là định hướng phát triển dài hạn để xây dựng đô thị đáng sống, thích ứng (resilient) và cạnh tranh trong khu vực.

8. Nhà ở và nâng cấp đô thị – Nền tảng của sự bao trùm

Khung giải pháp phát triển nhà ở và nâng cấp đô thị

Nhà ở là một trụ cột quan trọng của phát triển đô thị bền vững. Nhiều đô thị lớn tại Việt Nam như Hà Nội và TP.HCM đang bước vào giai đoạn “quá tải cấu trúc”, khi tốc độ đô thị hóa nhanh hơn nhiều so với năng lực phát triển hạ tầng nhà ở. Tình trạng thiếu nhà ở xã hội, thiếu nhà ở công nhân, cùng với hàng loạt chung cư cũ xuống cấp đang tạo ra bất bình đẳng không gian, giảm chất lượng sống và làm gia tăng rủi ro an toàn đô thị.

Giải pháp không chỉ dừng ở xây mới, mà cần một chương trình tổng hợp dựa trên hợp tác công – tư, quy hoạch quỹ đất chiến lược, nâng cấp đồng bộ hạ tầng, cải tạo khu dân cư cũ và đảm bảo khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội thiết yếu. Kinh nghiệm từ các mô hình thành công quốc tế như Medellín (Colombia), Thượng Hải (Trung Quốc), hay Dương Châu (Trung Quốc) cho thấy nâng cấp đô thị hiệu quả phải gắn với tái thiết cộng đồng: cải thiện cơ hội việc làm, tăng chất lượng không gian công cộng, tham gia của người dân và bảo đảm quyền cư trú ổn định.

Nếu được triển khai quy mô lớn, chương trình này sẽ góp phần giảm áp lực dân số đô thị trung tâm, hạn chế phát triển nhà ở tự phát vùng ven, cải thiện môi trường sống và nâng cao năng lực chống chịu trước thiên tai và biến đổi khí hậu. Đây là bước đi chiến lược giúp đô thị Việt Nam chuyển từ “tăng trưởng số lượng” sang “tăng trưởng chất lượng”.

9. Kinh tế sáng tạo và Chuyển đổi số – động lực mới cho đô thị Việt Nam

9.1. Khung phát triển đô thị dựa trên kinh tế tri thức

9.2. Kinh tế tri thức – động cơ tăng trưởng mới của đô thị Việt Nam

Đô thị Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mà tăng trưởng dựa trên mở rộng không gian và đầu tư hạ tầng không còn đủ sức tạo đột phá. Thay vào đó, mô hình kinh tế tri thức – dựa trên sáng tạo, công nghệ, đổi mới và văn hóa – sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của các thành phố trong 20 năm tới.

Hà Nội và TP.HCM đang cho thấy hai hướng tiếp cận bổ trợ nhau. Hà Nội nổi bật với công nghiệp văn hóa, mạng lưới không gian sáng tạo và nguồn nhân lực tri thức lớn; riêng năm 2018, ngành văn hóa đã đóng góp hơn 1,49 tỷ USD vào GRDP và tiếp tục gia tăng. Trong khi đó, TP.HCM dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số, fintech, thương mại điện tử, khởi nghiệp và đầu tư mạo hiểm.

Nếu được định hướng chiến lược, kinh tế sáng tạo và công nghệ sẽ tạo việc làm giá trị cao, hỗ trợ tái thiết đô thị theo hướng thông minh và nén, tăng năng suất lao động, thu hút đầu tư quốc tế và đồng thời làm giàu bản sắc văn hóa. Đây chính là “động cơ thứ hai” giúp đô thị Việt Nam phát triển bền vững – sau động cơ truyền thống dựa trên công nghiệp và bất động sản.

10. Sáu trụ cột chiến lược hướng tới mô hình đô thị bền vững ở Việt Nam (đến năm 2030 tầm nhìn 2045)

Từ các phân tích và tài liệu, có thể định hình mô hình đô thị bền vững cho Việt Nam qua 6 trụ cột chiến lược:

10.1. Quy hoạch tích hợp và quản trị thông minh

Quy hoạch dựa trên hành động và ưu tiên; Khung kiểm soát phát triển; Chính quyền đô thị linh hoạt, phân quyền mạnh; Điều phối vùng và chia sẻ dữ liệu.

10.2. Hạ tầng hiện đại và giao thông công cộng

Metro, BRT, hạ tầng xanh; Hành lang logistic – giao thông vùng; Hạ tầng số và dữ liệu đô thị.

10.3. Phát triển không gian xanh – mặt nước – chống chịu khí hậu

Hệ sinh thái sông hồ; Không gian xanh liên kết; Chống ngập – chống ô nhiễm

10.4. Nhà ở và nâng cấp đô thị bao trùm

Nhà ở xã hội – nhà ở công nhân; Nâng cấp khu dân cư hiện hữu; Chỉnh trang di sản – bảo tồn văn hóa.

10.5. Năng lực địa phương và tài chính đô thị

Trái phiếu đô thị, PPP, thuế đất; Mô hình “quản trị kiến tạo”; Tự chủ tài chính – trách nhiệm giải trình.

10.6. Kinh tế sáng tạo – đổi mới – tri thức

Không gian sáng tạo; Công nghiệp văn hóa; Khởi nghiệp – công nghệ số.

Việt Nam đứng trước cơ hội lớn để kiến tạo các thành phố bền vững, bao trùm và thịnh vượng hơn. Với tốc độ đô thị hóa nhanh và cải cách mạnh mẽ, đất nước hoàn toàn có thể: Tạo ra các đô thị đáng sống hơn, nơi mỗi người dân hưởng lợi từ hạ tầng tốt, môi trường trong lành và dịch vụ hiệu quả; Tăng năng suất và cạnh tranh quốc gia, thông qua mô hình đô thị nén, kết nối vùng và kinh tế sáng tạo; Xây dựng bản sắc đô thị riêng, dựa trên di sản, văn hóa và sáng tạo – đặc biệt ở Hà Nội; Vận hành đô thị thông minh, nơi dữ liệu số và quản trị đa cấp hiệu quả trở thành nền tảng phát triển.

Chính vì thế, tương lai của đô thị Việt Nam phải là tương lai bền vững – bao trùm – hiện đại – nhân văn.

11. Bài học quốc tế có thể áp dụng

Bài học 1: Mô hình “đô thị nén – giao thông công cộng – công nghiệp công nghệ cao” (Nhật Bản, Hàn Quốc)

Tokyo, Seoul và Yokohama thành công vì họ: Tập trung công nghiệp, trường đại học và khu dân cư quanh các tuyến metro; Ưu tiên đô thị nén để rút ngắn quãng đường đi lại; Giảm phụ thuộc xe cá nhân, giải phóng không gian đô thị; Thu hút doanh nghiệp công nghệ và hộ dân cư vào các “vùng lõi sản xuất – đổi mới”

Việt Nam có thể áp dụng: Hà Nội và TP.HCM đang phát triển metro – đây là cơ hội vàng để hình thành các hành lang phát triển công nghiệp – công nghệ – đô thị theo mô hình TOD.

Bài học 2: “Đô thị hóa dựa trên năng suất” (Trung Quốc)

Các thành phố như Thượng Hải, Thâm Quyến, Hàng Châu, Quảng Châu phát triển nhanh nhờ: Liên tục nâng cấp chuỗi giá trị công nghiệp; Đô thị hóa đi kèm hạ tầng xuyên khu công nghiệp – đô thị; Quy hoạch sử dụng đất linh hoạt: vừa mở rộng đô thị, vừa phát triển công nghệ cao; Tập trung vào “cụm công nghiệp – đổi mới sáng tạo – logistics – đô thị vệ tinh”.

Việt Nam có thể áp dụng: Gắn khu công nghệ cao Hòa Lạc với các trung tâm đổi mới của Hà Nội; Kết nối TP Thủ Đức thành trung tâm AI – bán dẫn – start -up, giống mô hình Thâm Quyến thuở ban đầu.

Bài học 3: “Nâng cấp đô thị dựa vào cộng đồng” (Medellín, Colombia)

Từ một thành phố từng bị tội phạm hoành hành, Medellín đã hồi sinh nhờ: Nâng cấp khu dân cư nghèo bằng giao thông công cộng (cáp treo, đường bộ); Đầu tư không gian công cộng chất lượng cao; Phân cấp và để cộng đồng tham gia quy hoạch; Tích hợp phát triển kinh tế – xã hội – an ninh.

Việt Nam có thể áp dụng: Hà Nội có thể áp dụng mô hình này cho các khu dân cư cũ, đặc biệt tại Thanh Xuân, Đống Đa, Hai Bà Trưng; TP.HCM có thể áp dụng trong chỉnh trang kênh rạch, ven đô và các khu nhà trọ công nhân.

Bài học 4: “Hành lang kinh tế liên kết đa đô thị” (Hà Lan, Đức, Nhật Bản)

Các quốc gia này không phát triển từng thành phố đơn lẻ, mà phát triển cụm đô thị vùng, kết nối bằng giao thông tốc độ cao và logistics: Randstad (Amsterdam – Rotterdam – The Hague – Utrecht); Vùng đô thị Ruhr ở Đức; Hành lang Tokyo – Yokohama – Chiba – Saitama.

Việt Nam có thể áp dụng: Vùng Thủ đô (Hà Nội – Hưng Yên – Bắc Ninh – Vĩnh Phúc – Hà Nam); Vùng TP.HCM (TP.HCM – Bình Dương – Đồng Nai – Long An – Bà Rịa Vũng Tàu)

Những cụm vùng này sẽ: Chia sẻ hạ tầng và logistics; Giảm áp lực dân số trung tâm; Thu hút đầu tư quy mô lớn; Phân bổ công nghiệp – đô thị hợp lý.

Bài học 5: “Kinh tế sáng tạo làm động cơ đô thị” (London, Seoul, Singapore)

Các thủ đô này đều đặt “công nghiệp sáng tạo và văn hóa” là trụ cột chiến lược của phát triển đô thị.

Việt Nam có thể áp dụng: Hà Nội trở thành Thủ đô sáng tạo của ASEAN, tận dụng di sản và môi trường học thuật; TP.HCM trở thành trung tâm khởi nghiệp – công nghệ – tài chính của Đông Nam Á.

TS Nguyễn Quang – Nguyên Giám đốc Chương trình UN-Habitat tại Việt Nam

Có thể bạn cũng quan tâm

Sắp xếp không gian phát triển phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp

[RMIT] Đô thị Việt Nam năm 2050: Thông minh, bền vững và đáng sống

Đô thị Việt Nam 2050 hướng đến chiến lược phát triển “Hiệu quả – Bao trùm – Bền vững”

Phát triển đô thị bền vững: Định rõ một hành lang pháp lý thống nhất

Hiện thực hóa những nhiệm vụ trọng tâm để phát triển đô thị bền vững

TỪ KHÓA:đô thị Việt NamTS Nguyễn Quang
NGUỒN:Tạp chí Xây dựng
Bài trước “Chuẩn hoá” việc xác định nghĩa vụ tài chính đất đai trên môi trường số
Bài tiếp Cơ hội mở ra từ hơn 3.000km cao tốc
Ad imageAd image

Mới cập nhật

Why Vietnam must build a global strategy for its construction industry
News 09/01/2026
Phát triển xanh cho ngành thép Việt Nam: Lộ trình chuyển đổi hướng tới sản xuất bền vững và giảm phát thải carbon
Vật liệu xây dựng 09/01/2026
Báo cáo Triển vọng Đô thị hóa thế giới năm 2025: Việt Nam cần thích ứng gì?
Quy hoạch đô thị 09/01/2026
Cơ hội mở ra từ hơn 3.000km cao tốc
Góc nhìn 08/01/2026
“Chuẩn hoá” việc xác định nghĩa vụ tài chính đất đai trên môi trường số
Kinh tế / Pháp luật 08/01/2026
Hà Nội tiếp tục làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu đất đai
Kinh tế / Pháp luật 07/01/2026
Dusit Le Palais Từ Hoa / thiết kế: DesignLab
Nội - ngoại thất 07/01/2026
TPHCM tiếp cận hơn 50 đối tác mong muốn tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế
Tin trong nước 07/01/2026
Xây dựng và quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản
Kinh tế / Pháp luật 06/01/2026
Phân loại đô thị không còn gắn cứng với một đơn vị hành chính
Kinh tế / Pháp luật 06/01/2026
- Advertisement -
Ad imageAd image

Xem thêm

Quy hoạch đô thị

5 chính sách quản lý phát triển bền vững đô thị Việt Nam

Ashui.com 09/11/2023
Quy hoạch đô thị

Phát triển bền vững quá trình đô thị hóa

Ashui.com 10/06/2023
Tin trong nước

Toàn quốc sẽ có 1.000 đô thị vào năm 2025

Ashui.com 22/03/2023
Quy hoạch đô thị

Nâng cao chất lượng quy hoạch đô thị đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững: Thực trạng và giải pháp

Ashui.com 16/11/2022
© 2000-2025 Ashui.com. All Rights Reserved.
Welcome back!

Sign in to your account

Username hoặc Email của bạn
Mật khẩu

Quên mật khẩu?