
1. Mở đầu
Ngày 01/7/2025 đánh dấu sự đổi mới toàn diện, một cột mốc đặc biệt quan trọng ở Việt Nam, cả nước thực hiện Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh; Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam; Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 ngày 14/4/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 và các nghị quyết ban hành ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã tại các tỉnh.
Đến nay, sau 1 năm thực hiện việc tinh giản bộ máy, sáp nhập một số tỉnh và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cả nước ta có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh [7], trong đó có 27 tỉnh và 7 thành phố trực thuộc Trung ương gồm 2 đô thị đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và TP.HCM; 5 đô thị loại I là Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ và Đồng Nai (từ ngày 30/4/2026).
Bên cạnh việc sắp xếp lại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hệ thống đô thị ở nước ta có nhiều thay đổi, 687 phường tại khu vực đô thị được thành lập từ ngày 01/7/2025 trên cơ sở các thành phố, thị xã cũ thuộc tỉnh [8]. Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội [9] về phân loại đô thị đã giúp các tỉnh xây dựng và công bố danh mục đô thị loại II, đô thị loại III và phường đạt trình độ phát triển đô thị trên địa bàn của tỉnh. Đồng thời trong thời gian qua, các tỉnh đã triển khai, thẩm định và phê duyệt việc điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó có nội dung phát triển đô thị.
Bài viết này tập trung trình bày tình hình và xu hướng phát triển đô thị ở nước ta hiện nay tại 27 tỉnh, không bao gồm 7 thành phố trực thuộc trung ương, sau giai đoạn chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm một số điểm về thực trạng hệ thống đô thị và xu hướng phát triển, trong đó có một số mô hình phát triển đô thị trên thế giới và việc áp dụng vào Việt Nam, và cuối cùng là một vài kiến nghị về công tác phát triển đô thị ở nước ta trong giai đoạn tới.
2. Thực trạng hệ thống đô thị
Đô thị đóng vai trò quan trọng trong phát triển đất nước, theo Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, “công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng… kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước” [1]. Từ 2022 đến nay, hệ thống đô thị tiếp tục là đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế nước nhà, cũng vì vậy, ngày 08/12/2025, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Kết luận số 224-KL/TW của Bộ
Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW, trong đó yêu cầu tập trung vào 5 nội dung trọng tâm: Đổi mới tư duy về công tác quy hoạch đô thị; Sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn; Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia; Tăng cường quản lý phát triển đô thị và phát triển kinh tế đô thị; Bảo vệ môi trường đô thị [2].
Trên cơ sở của các văn bản quy phạm pháp luật, 27 tỉnh hiện nay ở nước ta (được sáp nhập từ 49 tỉnh trước ngày 01/7/2025) và cả nước thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, gồm cấp tỉnh và cấp cơ sở (xã, phường, đặc khu), bỏ cấp huyện; theo đó hệ thống các thành phố và thị xã thuộc tỉnh không tồn tại; và khi không còn cấp huyện, các thị trấn thuộc huyện (cấp xã) được sáp nhập vào các đơn vị cấp cơ sở (xã nông thôn). Tổng số các đô thị trước khi sáp nhập tại 27 tỉnh là 776 [14], bao gồm các đô thị từ loại I thuộc tỉnh, loại II đến loại V cũ và các đô thị mới được nâng cấp, trong đó tỉnh có nhiều đô thị nhất là Ninh Bình với 68 đô thị (tỉnh Ninh Bình cũ 38 đô thị, tỉnh Nam Định cũ 16 đô thị, tỉnh Hà Nam cũ 14 đô thị); tỉnh có ít đô thị nhất là Điện Biên với 07 đô thị. Số lượng đô thị trước 01/7/2025 tại các tỉnh như trên Bảng 1.
Theo các nghị quyết ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã năm 2025, cả nước có 687 phường trong tổng số 3.321 đơn vị cơ sở, trong đó tại 27 tỉnh có 380 phường [8], bên cạnh đó là 307 phường tại 7 thành phố trực thuộc Trung ương (kể cả Đồng Nai sau khi sáp nhập và nâng cấp). Bắc Ninh là tỉnh có số phường nhiều nhất (32) trong khi tỉnh Lai Châu chỉ có 02 phường. Số lượng phường tại các tỉnh như Bảng 1.
Thực hiện Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Phân loại đô thị, tất cả các tỉnh trong cả nước đã ban hành quyết định công bố danh mục đô thị loại II, loại III và phường đạt trình độ phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh vào giai đoạn đầu năm 2026 (tỉnh có quyết định sớm nhất là Lai Châu, Quyết định số 193/QĐ-UBND ngày 30/01/2026 và tỉnh có quyết định muộn nhất là Gia Lai, Quyết định số 1832/QĐ-UBND ngày 24/4/2026).
Như vậy, hiện nay ngoài 07 thành phố trực thuộc Trung ương, trên cả nước có 731 đô thị loại II và loại III tại 27 tỉnh. Phú Thọ là tỉnh có số đô thị loại II và III được công nhận nhiều nhất (60) trong khi tỉnh Điện Biên chỉ có 07 đô thị. Số lượng đô thị tại các tỉnh sau ngày 24/4/2026 như Bảng 1.

3. Xu hướng phát triển đô thị
Sau thời kỳ cả nước bước vào thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, hệ thống đô thị ở nước ta có nhiều chuyển biến, theo từng giai đoạn:
– Từ ngày 01/7/2025 khi không còn cấp huyện, các thành phố và thị xã thuộc tỉnh không tồn tại; các thị trấn thuộc huyện (cấp xã) được sáp nhập vào các xã; các phường mới được thành lập trên cơ sở chia tách từ các thành phố, thị xã cũ và được coi là các khu vực đô thị thuộc tỉnh, mặc dù có số lượng chỉ bằng khoảng gần một nửa số đô thị trước đó.
– Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị xác định các tiêu chí, tiêu chuẩn phân loại đô thị và giao thẩm quyền công nhận loại đô thị, trình độ phát triển đô thị cho Bộ trưởng Bộ Xây dựng đối với đô thị loại I và Chủ tịch UBND các tỉnh đối với đô thị loại II và loại III và trình độ phát triển đô thị của đơn vị hành chính cấp xã trong đô thị [9].
Thực hiện Nghị quyết này, các tỉnh đã lập đề án phân loại đô thị, tổ chức thẩm định và Chủ tịch UBND các tỉnh đã ký quyết định công nhận [12]. Số lượng 731 đô thị loại II và loại III được công nhận theo xu hướng phát triển các đô thị trên cơ sở nền tảng của các thành phố, thị xã trước đây (từ các phường hiện tại) và các xã có bao gồm các thị trấn cũ, nơi đã có tiềm năng và trình độ phát triển đô thị, cụ thể như trên Bảng 1. Như vậy, hệ thống đô thị được công nhận trên cả nước phát triển, mở rộng không những về số lượng mà còn về quy mô dân số và diện tích. Ví dụ cụ thể tại tỉnh Quảng Trị [11] như trên Bảng 2.
– Sau khi ổn định hoạt động với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các tỉnh đã tiến hành điều chỉnh Quy hoạch tỉnh cho thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (kể cả các tỉnh không sáp nhập). Đến nay hầu hết các tỉnh đã hoàn thành nhiệm vụ này, chỉ còn một số ít các tỉnh đang tiếp tục hoàn thiện chờ quyết định phê duyệt. Xu hướng phát triển đô thị tại các tỉnh được phân ra làm 2 loại (xem Bảng 1):
+ Nhiều tỉnh phấn đấu trở thành đô thị loại I – thành phố trực thuộc Trung ương. 4 tỉnh Quảng Ninh, Bắc Ninh, Ninh Bình và Khánh Hòa đang được định hướng lập đề án quy hoạch để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 [13]. Bộ Chính trị đã có Kết luận số 20-KL/TW ngày 07/4/2026 và Kết luận số 52-KL/TW ngày 20/6/2026 về chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương.

+ 23 tỉnh còn lại có hệ thống đô thị loại II và loại III cơ bản căn cứ vào hệ thống đô thị được công bố danh mục trong thời gian gần đây [12]. Tuy nhiên, nhiều tỉnh có số lượng đô thị theo quy hoạch giảm nhiều so với số đô thị đã công bố, đáng kể nhất là tỉnh Phú Thọ, đến năm 2030 tỉnh dự kiến có 4 đô thị loại II và 10 đô thị loại III (so với 60 đô thị hiện hữu); ngược lại, một số tỉnh có số lượng đô thị theo quy hoạch tăng hơn so với số đô thị đã công bố [12]. Tỉnh có số lượng đô thị tăng nhiều nhất và cũng là tỉnh dự kiến có nhiều đô thị nhất vào năm 2030 là Đồng Tháp với 6 đô thị trung tâm loại II và 42 đô thị loại III, trong đó có 19 đô thị mới, 23 khu vực đô thị hóa tại các xã [10]; con số này cũng vượt trội so với số lượng đô thị hiện hữu là 35 và số lượng đô thị trước 01/7/2025 là 33. Ví dụ cụ thể về Phương án phát triển hệ thống đô thị đến năm 2030 của tỉnh Đồng Tháp như bảng 3.
– Một xu hướng nữa của phát triển đô thị ở Việt Nam hiện nay là định hướng theo các mô hình đô thị đã hình thành và phát triển trên thế giới, như Đô thị thông minh, Đô thị sinh thái, đô thị xanh, đô thị theo định hướng giao thông công cộng, đô thị ít cacbon, đô thị nén, đô thị sinh thái – kinh tế, đô thị xốp. Ngoài ra, còn một số mô hình đô thị khác như: đô thị thiết kế định hướng cho người đi bộ, đô thị với các khu vực bảo tồn di sản, Đô thị với các khu vực phát triển du lịch [5]. Hiện nay, một số mô hình đô thị ở nước ta đã được luật hóa, như: Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng; Phát triển đô thị tăng trưởng xanh; Đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững; Đô thị thông minh; nhiều mô hình phát triển đô thị khác đang được nghiên cứu để đưa vào các văn bản quy phạm pháp luật.
a. Các mô hình phát triển đô thị được xác định theo văn bản quy phạm pháp luật
+ “Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) là giải pháp quy hoạch, đầu tư cải tạo, chỉnh trang và phát triển đô thị, lấy điểm kết nối giao thông đường sắt làm điểm tập trung dân cư, kinh doanh dịch vụ thương mại, văn phòng” [6].
+ “Đô thị thông minh là đô thị lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực cốt lõi để quy hoạch, xây dựng, quản lý và vận hành đô thị, nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ, bảo đảm môi trường sống an toàn, tiện nghi cho người dân, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả quản lý của đô thị, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, hướng tới mục tiêu phát triển đô thị bền vững” [4].
+ “Phát triển đô thị tăng trưởng xanh là việc quy hoạch, đầu tư xây dựng đô thị bảo đảm các nội dung về tăng trưởng xanh, hạ tầng xanh, không gian xanh và các công trình xanh theo quy định của Nghị định, phù hợp với từng vùng, miền và từng đô thị trong từng giai đoạn nhất định” [3]. Loại mô hình phát triển này cần được phân biệt với Đô thị xanh, loại hình ở nước ta chưa có định nghĩa mang tính pháp lý.
+ “Phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững là việc cải tạo, chỉnh trang hoặc phát triển mới đô thị tuân thủ các nguyên tắc, yêu cầu về thích ứng với biến đổi khí hậu theo quy định tại Nghị định này, bảo đảm phù hợp với từng khu vực, từng vùng, miền, từng địa phương khác nhau, bảo vệ tài nguyên môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân tại đô thị, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững” [3].
Chi tiết quy định về các mô hình phát triển đô thị này tại Việt Nam đã được xác định rõ ràng và có hướng dẫn cụ thể trong các Nghị định của Chính phủ.
b. Các mô hình phát triển đô thị cần được tiếp tục nghiên cứu áp dụng
Bên cạnh các mô hình phát triển đô thị đã được luật hóa, hiện nay ở nước ta có nhiều đô thị khi xây dựng được mang tên loại mô hình, nhưng thực tế chưa có một định nghĩa chính thức nào trong các văn bản pháp luật, chưa có tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể như đô thị xanh, đô thị sinh thái, đô thị nén, đô thị xốp. Điều đó không thống nhất, gây khó khăn khi áp dụng các tiêu chí, chỉ tiêu cho các loại đô thị này tại các địa bàn khác nhau. Dưới đây là một số mô hình đô thị sử dụng nhiều trên thế giới, có thể được hiểu như sau [5]:
+ Mô hình đô thị xanh. Đô thị xanh là các đô thị có kế hoạch giảm thiểu tác động môi trường bằng cách giảm chất thải, giảm phát thải, tăng cường tái chế, tăng mật độ nhà ở đồng thời tăng cường không gian mở, cây xanh và khuyến khích phát triển các doanh nghiệp địa phương bền vững. Đô thị xanh cần đạt được tiêu chí của một đô thị bền vững, đó là một đô thị nơi sinh sống của những người có ý thức giảm thiểu đầu vào cần thiết về năng lượng, nước, thực phẩm, chất thải, nhiệt độ, ô nhiễm không khí – CO2, khí mê-tan và ô nhiễm nước.
+ Mô hình đô thị sinh thái. Đây là mô hình định cư con người dựa trên cấu trúc và chức năng tự phục hồi của các hệ sinh thái tự nhiên. Đô thị sinh thái hướng đến cung cấp sự phong phú, lành mạnh cho cư dân trên cơ sở không tiêu thụ nhiều tài nguyên không thể tái tạo.
+ Mô hình đô thị nén. Đô thị nén là khu vực định cư đô thị với mật độ cao và có các đặc điểm chính như bao gồm khu vực trung tâm phát triển mật độ cao với chức năng hỗn hợp. Khu vực lân cận đô thị nén dành cho cây xanh, khoảng trống phục vụ cho nhu cầu nghỉ ngơi giải trí hay sản xuất thực phẩm, trồng hoa tươi phục vụ đô thị. Đô thị nén quan tâm về tính bền vững đô thị, nhằm vào yêu cầu sử dụng đất tốt hơn. Mô hình này đòi hỏi cách suy nghĩ mới liên quan đến quy hoạch thành phố, thiết kế đô thị, giao thông và nhà ở.
+ Đô thị xốp là đô thị được thiết kế để hấp thụ thụ động, làm sạch và sử dụng lượng mưa theo hướng thân thiện với môi trường, làm giảm dòng chảy nguy hiểm và ô nhiễm. Các kỹ thuật liên quan bao gồm các con đường thấm nước, vườn trên mái nhà, vườn thu gom nước mưa, không gian xanh và mặt nước như ao, hồ.
+ Đô thị thiết kế định hướng cho người đi bộ (POD) là chính sách thân thiện với người đi bộ, cung cấp lối đi bộ dễ dàng, thoải mái cho người đi bộ đến các khu thương mại và dân cư cũng như các trạm trung chuyển. POD được sử dụng thông qua sự kết hợp của thiết kế không gian bao gồm phát triển tập trung, sử dụng hỗn hợp, giao thông yên tĩnh cho người đi bộ – định hướng tiếp cận các tuyến công cộng và các loại nhà ở khác nhau.
4. Một vài kiến nghị
– Các tỉnh có định hướng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 cần sớm lập đề án quy hoạch, thực hiện các công đoạn cần thiết để trình Quốc hội phê duyệt.
– Các tỉnh cần nhanh chóng kiện toàn các đô thị loại II và loại III được công bố và định hướng phát triển theo các quyết định phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Sớm có kế hoạch lập, điều chỉnh quy hoạch cho tất cả các đô thị, đặc biệt là các đô thị được xây dựng, nâng cấp từ các xã nông thôn hoặc các xã bao gồm các thị trấn trước đây. Quá trình lập quy hoạch đô thị cần quan tâm và tuân thủ các quy hoạch cấp trên: Quy hoạch tổng thể Quốc gia, quy hoạch vùng và các quy hoạch ngành liên quan để xây dựng một hệ thống mạng lưới đô thị hoàn chỉnh, đồng bộ và liên kết tốt với nhau.
– Rà soát các tiêu chí, tiêu chuẩn và trình độ phát triển cho các đô thị theo Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bổ sung những tiêu chuẩn chưa đầy đủ (nếu có).
– Nhà nước sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các mô hình phát triển đô thị có thể áp dụng được ở Việt Nam, trong đó có các tiêu chí, tiêu chuẩn, các quy định cụ thể và có quan tâm đến các vùng, miền trong cả nước.
– Lựa chọn mô hình phát triển cho từng đô thị theo các đặc thù của địa phương nhằm xây dựng các đô thị có bản sắc và tận dụng triệt để các đặc điểm phát triển. Sau đây là một vài gợi ý về lựa chọn mô hình phát triển: Mô hình đô thị xanh, đô thị tăng trưởng xanh, đô thị sinh thái có thể áp dụng cho bất kỳ địa phương nào ở Việt Nam. Đô thị xanh cũng có thể áp dụng riêng cho các khu đô thị mới; Đô thị sinh thái trước mắt chỉ nên áp dụng cho các đô thị có điều kiện về kinh tế và kỹ thuật, nơi ít gặp khó khăn về khả năng tiếp cận kỹ thuật và tài chính; Đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu nên áp dụng cho các đô thị chịu tác động của biến đổi khí hậu; Đô thị nén phù hợp cho các khu đô thị mới ở Việt Nam, nơi có địa hình phù hợp, có thể áp dụng cho khu vực trung tâm và các khu vực cũ phục hồi, tuy nhiên ứng dụng của nó có thể bị hạn chế do những điều kiện về hạ tầng kỹ thuật và xã hội; Đô thị xốp có thể đưa vào từng khu vực đô thị hiện hữu, nơi các vấn đề về chất lượng cấp nước và thoát nước đang được phổ biến và nên được lồng ghép vào quy hoạch cho tất cả các khu đô thị mới tiếp giáp với các khu vực hiện hữu; Đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) phù hợp cho cả khu vực đô thị mới và khu tái định cư, đặc biệt đây là cơ hội để khai thác triệt để giá trị đất; Mô hình POD phù hợp để áp dụng rộng rãi cho tất cả các đô thị ở Việt Nam.
5. Kết luận
Sau 1 năm thực hiện việc tinh giản bộ máy, sáp nhập một số tỉnh và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bỏ cấp huyện, hệ thống đô thị ở nước ta đã có nhiều thay đổi. Bên cạnh các phường được thành lập từ ngày 01/7/2025 trên cơ sở các thành phố, thị xã thuộc tỉnh, các tỉnh đã xây dựng và công bố danh mục đô thị loại II, loại III và phường đạt trình độ phát triển đô thị trên địa bàn của tỉnh.
Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 của các tỉnh đã được điều chỉnh và phê duyệt, trong đó việc quy hoạch xây dựng và phát triển các đô thị loại II và loại III thuộc tỉnh và các tiểu vùng trong tỉnh được xác định cho giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
Bài viết này đã trình bày tình hình phát triển đô thị ở nước ta hiện nay tại 27 tỉnh sau giai đoạn chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm một số điểm về thực trạng hệ thống đô thị và xu hướng phát triển, kể cả một số mô hình phát triển đô thị trên thế giới và việc áp dụng vào Việt Nam, và cuối cùng là một vài kiến nghị về công tác phát triển đô thị ở nước ta trong giai đoạn tới, trước mắt là đến năm 2030.
GS.TS.KTS Nguyễn Tố Lăng – Nguyên Vụ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng thường trực BCĐ quy hoạch và Đầu tư xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội

