By using this site, you agree to the Privacy Policy and Terms of Use.
Accept
Ashui.comAshui.comAshui.com
  • Home
    • Bookmarks
    • English
      • News
      • Projects
      • Products
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
    Tin tức / Sự kiệnĐọc tiếp
    Toronto quy hoạch khu phố đặc biệt, biến đường phố thành công viên, giảm thiểu ngập lụt
    Báo Xây dựng 25/05/2026
    [Cà phê Net Zero] Góc nhìn Net Zero trong bản sắc không gian đô thị Thăng Long – Hà Nội
    Ashui.com 24/05/2026
    Huế thi thiết kế kiến trúc cầu qua Cồn Hến vượt sông Hương
    Báo Xây dựng 24/05/2026
    Hội thảo “Nhà ở xã hội phát thải carbon thấp, định hướng và giải pháp cho Việt Nam”
    Tạp chí Xây dựng 23/05/2026
    Luật Đô thị đặc biệt giúp TPHCM chuyển từ thí điểm sang khung pháp lý vượt trội
    KTSG Online 23/05/2026
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Font ResizerAa
Ashui.comAshui.com
Font ResizerAa
  • Home
  • Tin tức / Sự kiện
  • Chuyên mục
  • Công nghệ
  • Vật liệu / Thiết bị
  • Dự án
  • Tương tác
  • Cộng đồng
  • Home
    • Bookmarks
    • English
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Các kênh mạng xã hội
  • Advertise
© 2000-2025 Ashui.com. All Rights Reserved.
Quy hoạch đô thị

Hình thành hệ thống đô thị thế hệ mới tại Việt Nam trên nền tảng an ninh xanh và khả năng chống chịu

Mô hình đô thị thế hệ mới không chỉ là hướng đi tất yếu mà còn là cơ hội chiến lược để Việt Nam chuyển đổi các vùng đô thị lớn thành những siêu đô thị thế hệ mới, có khả năng cạnh tranh và có hệ sinh thái năng động, bền vững và chống chịu cao.

Tạp chí Xây dựng 25/05/2026
37 phút đọc
SHARE
(Ảnh minh họa)

Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay đang chứng kiến những biến động lớn về địa kinh tế, địa chính trị, công nghệ và khí hậu, mô hình đô thị truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt tại các đô thị lớn – nơi được coi là “đầu tàu cạnh tranh” của quốc gia. Các đô thị phát triển theo mô hình “một trung tâm chính tập trung” dẫn đến quá tải hạ tầng, ùn tắc giao thông, ô nhiễm không khí, chi phí vận hành cao và chất lượng sống thấp. Hạ tầng cũ và công nghệ hạn chế làm giảm khả năng chống chịu khí hậu, gia tăng rủi ro thiên tai, ảnh hưởng đến sản xuất, dịch vụ và sức hút đầu tư.

Phần lớn các đô thị châu Á vẫn phụ thuộc vào xe cá nhân chạy xăng, hệ thống điện tập trung, tỷ lệ năng lượng tái tạo thấp, quản lý theo cách truyền thống, thiếu dữ liệu và công nghệ số, dẫn đến hiệu quả quản trị thấp và khó đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong xu thế kinh tế xanh toàn cầu.

Bài viết này tổng hợp các nghiên cứu về mô hình đô thị thế hệ mới trên thế giới, đặc biệt tại châu Á (30 đô thị lớn giai đoạn 2015 – 2023), để đề xuất mô hình áp dụng cho Việt Nam. Phân tích các trường hợp điển hình cho thấy: Singapore với chiến lược “Smart Nation” đã số hóa hơn 95% dịch vụ công, giúp giảm tiêu thụ năng lượng khoảng 20%; Tokyo sau thảm họa 2011 phát triển hơn 100 hệ thống micro-grid nâng cao khả năng chống chịu năng lượng; Copenhagen giảm phát thải hơn 70% so với năm 1995; Thâm Quyến và Seoul triển khai điện hóa giao thông công cộng và ứng dụng IoT giám sát hạ tầng.

Từ đó, bài viết đề xuất mô hình đô thị thế hệ mới với ba trụ cột: năng lượng phân tán, ứng dụng công nghệ số và quản trị linh hoạt, có thể triển khai trước tiên tại vùng Thủ đô Hà Nội và vùng TP.HCM, sau đó mở rộng ra các đô thị trực thuộc Trung ương khác như Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ và hệ thống đô thị trực thuộc các tỉnh.

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, các cú sốc toàn cầu đã làm thay đổi căn bản cách thức vận hành của hệ thống đô thị. Khủng hoảng năng lượng giai đoạn 2020-2022 đã khiến giá năng lượng tại nhiều khu vực tăng gấp 2-3 lần và nhiều hơn, qua đó bộc lộ sự phụ thuộc lớn của đô thị vào hệ thống cung ứng tập trung [5]. Đồng thời, biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất và cường độ thiên tai, với thiệt hại kinh tế toàn cầu ước tính vượt 300 tỷ USD mỗi năm [15]. Các đô thị – nơi tập trung hơn 55% dân số thế giới – trở thành khu vực chịu tác động mạnh và quy mô lớn các thiệt hại rủi ro [1][2]. Nhiều quốc gia đã buộc phải chuyển đổi mô hình phát triển đô thị, điển hình như Singapore với chiến lược “Smart Nation” [12], Tokyo với hệ thống “micro-grid” sau thảm họa năm 2011 [5], hay Copenhagen với mô hình đô thị xanh giảm phát thải hơn 70% so với năm 1995 [11].

Tại Việt Nam, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng với tỷ lệ đạt khoảng 42% năm 2023, khoảng 44% năm 2025 và dự kiến đạt trên 50% vào năm 2030 [7][10]. Tuy nhiên, sự phát triển này chưa đi kèm với mô hình hạ tầng và quản trị phù hợp. Hệ thống năng lượng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn tập trung, giao thông đô thị gây phát thải lớn, dữ liệu còn chưa được hình thành đồng bộ và quản trị còn phân tán [6][8].

Trong bối cảnh đó, việc chuyển đổi sang mô hình “đô thị thế hệ mới hay siêu đô thị thế hệ mới” không chỉ là xu hướng toàn cầu mà còn là yêu cầu tất yếu đối với Việt Nam. Đây là mô hình phát triển hướng tới đô thị tích hợp giữa hệ thống micro-grid, công nghệ số và quản trị linh hoạt, nhằm nâng cao khả năng chống chịu và phát triển bền vững [3][4][9].

2. Kinh nghiệm quốc tế

Kinh nghiệm quốc tế cung cấp nhiều bài học quan trọng. Singapore là một trong những quốc gia tiên phong trong việc xây dựng đô thị dựa trên dữ liệu, với hơn 95% dịch vụ công trực tuyến và mức giảm tiêu thụ năng lượng khoảng 20% [12]. Tokyo, sau thảm họa năm 2011, đã phát triển hơn 100 hệ thống micro-grid và nâng cao đáng kể khả năng chống chịu [5].

Copenhagen là hình mẫu về đô thị xanh với mức giảm phát thải hơn 70% so với năm 1995 [11]. Thâm Quyến cho thấy vai trò của chính sách trong chuyển đổi giao thông, khi điện hóa hoàn toàn hệ thống xe buýt công cộng [14]. Seoul cũng chứng minh rằng việc áp dụng IoT giám sát hạ tầng giúp giảm ùn tắc và nâng cao khả năng dự báo rủi ro [12].

Qua các báo cáo của IEA (2022), UN-Habitat (2022), World Bank (2021) và OECD (2020), dữ liệu tổng hợp từ 30 đô thị châu Á cho thấy các đô thị đạt mức chống chịu cao đều đồng thời có tỷ lệ năng lượng phân tán lớn, mức độ số hóa đô thị cao và cơ chế quản trị linh hoạt, liên ngành [1][2][5][10][11].

Cụ thể, những đô thị như Tokyo và Singapore duy trì hơn 30 – 40% năng lượng từ micro-grid và năng lượng tái tạo tại chỗ, kết hợp với hệ thống dữ liệu giao thông và năng lượng theo thời gian thực, giúp giảm thiểu rủi ro gián đoạn và tăng hiệu quả vận hành. Thâm Quyến và Seoul chứng minh rằng việc điện hóa giao thông công cộng và áp dụng IoT giám sát hạ tầng không chỉ giảm ùn tắc và phát thải mà còn nâng cao khả năng dự báo và phản ứng nhanh trước các cú sốc. Ngược lại, các đô thị phụ thuộc vào nguồn cung tập trung và thiếu nền tảng dữ liệu đồng bộ, như Jakarta hay Mumbai, dễ bị gián đoạn năng lượng và giao thông, đồng thời hiệu quả quản trị thấp hơn.

Thâm Quyến là một trong những đô thị điển hình về chuyển đổi từ mô hình truyền thống sang đô thị thế hệ mới, với nhiều bài học cụ thể cho Việt Nam [14]. Thâm Quyến tập trung: (i) Phát triển năng lượng và giao thông xanh: 100% xe buýt và taxi chạy điện, giảm mạnh khí thải và ô nhiễm; (ii) Hệ thống trạm sạc phân tán: xây dựng hàng chục nghìn trạm sạc điện khắp thành phố; (iii) Đô thị thông minh dựa trên dữ liệu: trung tâm điều hành số hóa, ứng dụng AI và IoT; (iv) Quy hoạch đa cực – đa trung tâm: Nanshan (công nghệ), Futian (tài chính), Qianhai (dịch vụ quốc tế); (v) Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: khu công nghệ cao, hỗ trợ mạnh mẽ khởi nghiệp và R&D; (vi) Hạ tầng chống chịu khí hậu: hệ thống thoát nước ngầm, công viên ngập nước, quy hoạch “sống chung với nước”.

Một bài học khác đến từ thành phố Nam Ninh “thành phố xanh của Trung Quốc” với hệ thống 1.000 hồ và công viên, cây xanh khí hậu cận nhiệt đới. Không gian xanh chiếm tỷ lệ lớn trong quy hoạch, giúp điều hòa khí hậu và nâng cao chất lượng sống. Nam Ninh trở thành “thủ phủ xe điện” với hơn 4,8 triệu xe điện lưu thông, giải quyết hiệu quả bài toán sạc pin và đỗ xe, tạo ra hệ sinh thái giao thông xanh. Chính quyền chú trọng quy hoạch dài hạn, kết hợp công nghệ để quản lý giao thông, năng lượng và môi trường, duy trì sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo tồn sinh thái. Đây là minh chứng cho việc kết hợp không gian xanh, giao thông điện và quản lý thông minh để xây dựng đô thị bền vững.

TP Nam Ninh, Trung Quốc (Ảnh minh họa: Ashui.com)

Kinh nghiệm quốc tế cung cấp nhiều bài học quan trọng cho việc hình thành đô thị thế hệ mới tại Việt Nam. Những kinh nghiệm này cho thấy xu hướng toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình đô thị tự chủ và chống chịu cao, đồng thời cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để Việt Nam tham khảo trong quá trình xây dựng hệ thống đô thị thế hệ mới.

3. Kết quả và bàn luận

3.1. Đúc rút kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam

Từ kinh nghiệm quốc tế có thể rút ra 3 bài học tổng quát cho Việt Nam: Thứ nhất, sử dụng hệ thống micro-grid là nền tảng để tăng khả năng chống chịu, đặc biệt tại các đô thị lớn trung tâm vùng [5]. Thứ hai, chuyển đổi số và đô thị thông minh giúp tối ưu hóa vận hành và nâng cao khả năng dự báo, từ đó giảm thiệt hại khi xảy ra các cú sốc [11][12]. Thứ ba, quản trị linh hoạt và liên ngành là yếu tố quyết định để các chính sách và dự án đô thị có thể thích ứng kịp thời với các thay đổi kinh tế, môi trường và xã hội [10].

Các bài học quốc tế có thể được chuyển hóa thành chiến lược cụ thể cho từng vùng đô thị Việt Nam, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với bối cảnh kinh tế – chính trị hiện nay.

Vùng Thủ đô Hà Nội: là trung tâm chính trị – hành chính và có mật độ dân số cao, đồng thời chịu áp lực từ đô thị hóa nhanh và thiên tai như lũ quét, mưa lớn và ngập lụt đô thị. Bài học từ Tokyo và Singapore gợi ý rằng Hà Nội nên phát triển hệ thống năng lượng phân tán cho các đô thị vệ tinh [5][12], kết hợp với hệ thống dữ liệu giao thông và năng lượng theo thời gian thực để dự đoán nhu cầu và điều phối nguồn lực kịp thời. Việc số hóa các dịch vụ công và quản lý cơ sở hạ tầng thông qua AI sẽ giúp nâng cao hiệu quả vận hành [11], đồng thời cơ chế quản trị liên ngành giữa các sở, ban, ngành và địa phương sẽ tăng khả năng phản ứng nhanh với các cú sốc [10].

Vùng TP.HCM: là trung tâm kinh tế – thương mại của Việt Nam, với mật độ dân cư cao và áp lực giao thông lớn. Bài học từ Thâm Quyến và Seoul cho thấy tầm quan trọng của điện hóa giao thông công cộng và tích hợp IoT trong quản lý giao thông [12][14]. TP.HCM có thể phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, thử nghiệm các mô hình xe điện và “Xe kết nối lưới điện” (Vehicle-to-Grid – V2G); đồng thời triển khai hệ thống dữ liệu số hóa để giám sát và tối ưu hóa lưu lượng giao thông, tiêu thụ năng lượng và phát thải khí CO₂. Cơ chế quản trị linh hoạt cho phép điều chỉnh chính sách năng lượng và giao thông theo thời gian thực, giúp giảm rủi ro tắc nghẽn và gián đoạn dịch vụ [10].

Các đô thị trực thuộc Trung ương (Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ): Có quy mô nhỏ hơn nhưng là đầu mối logistics, cảng biển và đô thị sinh thái. Cụ thể: Đà Nẵng: Áp dụng mô hình đô thị xanh, tích hợp năng lượng tái tạo và hạ tầng sinh thái, xây dựng micro-grid tại khu công nghiệp và khu dân cư [11]. Hải Phòng: Phát triển hệ thống chuỗi cung ứng an toàn, đa dạng nguồn năng lượng và khoáng sản chiến lược, kết hợp quản lý dữ liệu để tối ưu hóa vận hành cảng và mạng lưới giao thông [10]. Cần Thơ: Áp dụng quy hoạch sinh thái và năng lượng mặt trời nổi trên sông, kết hợp quản trị dữ liệu để dự báo mực nước, hạn chế rủi ro lũ lụt và cải thiện chất lượng sống [9].

Đối với các đô thị thuộc tỉnh, việc triển khai đồng bộ 3 trụ cột năng lượng phân tán, công nghệ số và quản trị linh hoạt là cần thiết. Tuy nhiên, cách tiếp cận phải linh hoạt theo đặc thù kinh tế, địa lý và chức năng đô thị [7][8][9]: (i) Vùng trung du và miền núi phía Bắc. Đặc thù: Có nhiều cửa khẩu quốc tế, lối mở biên giới, gắn với mô hình kinh tế biên mậu. Định hướng: Phát triển hệ thống năng lượng phân tán dựa trên thủy điện nhỏ, điện mặt trời mái nhà, kết hợp lưu trữ năng lượng cộng đồng. Ứng dụng IoT và dữ liệu số để quản lý logistics biên mậu, giám sát giao thông cửa khẩu và dự báo nhu cầu năng lượng. Quản trị liên ngành giữa thương mại – hải quan – giao thông – năng lượng để đảm bảo chuỗi cung ứng ổn định, chống chịu trước biến động kinh tế và khí hậu; (ii) Vùng ven biển và hải đảo. Đặc thù: Tập trung nhiều khu kinh tế mở, gắn với chiến lược phát triển biển và cảng biển quốc gia. Định hướng: Phát triển điện gió ven biển, điện mặt trời nổi và hệ thống micro-grid tại các khu kinh tế, cảng biển. Ứng dụng công nghệ số để quản lý logistics, giám sát cảng biển, và tối ưu hóa vận hành chuỗi cung ứng. Quản trị linh hoạt: Kết nối chính quyền địa phương với doanh nghiệp cảng biển, khu công nghiệp và cộng đồng dân cư; xây dựng cơ chế phản ứng nhanh trước thiên tai (bão, nước biển dâng). Tích hợp hạ tầng sinh thái: rừng ngập mặn, công viên ven biển, hành lang thoát nước để giảm thiểu rủi ro ngập lụt và bảo vệ môi trường.

Việc thí điểm các mô hình này tại các vùng đô thị lớn và vùng đô thị thuộc tỉnh sẽ giúp Việt Nam xây dựng hệ thống đô thị thế hệ mới, vừa đảm bảo phát triển bền vững, vừa nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế, thiên tai và biến đổi khí hậu [15].

3.2. Tính khả thi để hình thành hệ thống đô thị thế hệ mới tại Việt Nam

Việt Nam hiện có nhiều điều kiện thuận lợi để triển khai mô hình đô thị thế hệ mới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, môi trường chính trị vững chắc và các cam kết quốc tế về phát triển bền vững là những yếu tố hỗ trợ quan trọng [1][2]. Mô hình chính quyền 2 cấp cùng với các quy định mới về việc hình thành vùng đô thị trực thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (gồm các cụm phường, xã, thị trấn) cho thấy xu hướng mở rộng phạm vi đô thị và phát triển đô thị phân tán – đa cực, đa trung tâm. Đây là điều kiện thuận lợi để áp dụng mô hình ba trụ cột: năng lượng phân tán, công nghệ số và quản trị linh hoạt [5][10][11].

Tuy nhiên, vẫn tồn tại những thách thức lớn: Thiếu khung pháp lý cho năng lượng phân tán: hiện chưa có quy định rõ ràng về micro-grid, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) và quyền tự chủ năng lượng của cộng đồng [5]. Hạn chế về nguồn vốn: đầu tư cho hạ tầng số, năng lượng tái tạo và công trình chống chịu khí hậu đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn, trong khi cơ chế tài chính xanh mới ở giai đoạn khởi đầu [7][9]. Thiếu nhân lực chất lượng cao: chuyển đổi số và quản trị đô thị thông minh cần đội ngũ chuyên gia công nghệ, dữ liệu và quản lý liên ngành, nhưng nguồn nhân lực hiện còn hạn chế [11][12]. Quản trị đô thị còn yếu: sự phối hợp liên ngành và liên vùng chưa hiệu quả, dẫn đến khó khăn trong triển khai chính sách đồng bộ [10].

Do đó, việc triển khai cần được thực hiện theo lộ trình từng bước: Ngắn hạn (2025 – 2030): thí điểm tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP.HCM, tập trung vào năng lượng phân tán và trung tâm điều hành đô thị thông minh; Trung hạn (2030 – 2040): mở rộng ra các đô thị trực thuộc Trung ương (Đà Nẵng, Huế Hải Phòng, Cần Thơ), kết hợp năng lượng tái tạo, quản trị dữ liệu và hạ tầng chống chịu khí hậu; Dài hạn (2040 – 2050): nhân rộng mô hình cho các đô thị thuộc tỉnh, hình thành mạng lưới đô thị thế hệ mới toàn quốc, đảm bảo phát triển bền vững và nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu [15].

(Ảnh minh họa)

3.3. Các hoạt động cần thực hiện 

Để hình thành hệ thống đô thị thế hệ mới trên nền tảng năng lượng phân tán, công nghệ số và quản trị linh hoạt, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều hoạt động từ quy hoạch, hạ tầng, công nghệ đến chính sách.

3.3.1. Quy hoạch đô thị: (i) Tổ chức không gian đô thị phân tán – xanh – thông minh: Phát triển theo hướng đa cực – đa trung tâm, không tập trung toàn bộ vào một khu trung tâm duy nhất (như nội đô lịch sử hiện nay); Hình thành nhiều trung tâm chức năng: tài chính, công nghệ, văn hóa, sinh thái, logistics phát triển nhằm giảm tải hạ tầng, phân tán dân cư và hoạt động kinh tế [10][12][14]; (ii) Không gian xanh và hành lang sinh thái: Quy hoạch công viên, hồ điều hòa, hành lang ven sông để vừa là không gian công cộng, vừa chống ngập và điều hòa khí hậu. Tích hợp mô hình “công viên ngập nước” như Rotterdam để kết hợp giải trí và chống chịu khí hậu [11]; (iii) Kết nối giao thông công cộng và năng lượng phân tán: Quy hoạch hệ thống giao thông công cộng bằng đường sắt tốc độ cao (cân nhắc yếu tố kinh tế) hoặc xe buýt điện gắn với các trung tâm mới; Tích hợp trạm sạc xe điện và hệ thống năng lượng phân tán ngay trong không gian đô thị [5][14]; (iii) Phân tán dịch vụ thiết yếu: Quy hoạch các trung tâm dữ liệu, bệnh viện, trường học, trạm năng lượng phân tán để tăng khả năng chống chịu khi có sự cố [11][12]; 

3.3.2. Quy hoạch sử dụng đất: giành quỹ đất nhiều hơn cho năng lượng tái tạo: Quy hoạch diện tích mái nhà, khu đất ven đô cho điện mặt trời; Đất ven biển cho điện gió, đất miền núi cho thủy điện nhỏ (không tràn lan); Tích hợp đất công nghiệp với hạ tầng năng lượng phân tán [5][7]; (v) Quy hoạch đất cho không gian xanh – chống chịu: Tỷ lệ đất dành cho công viên, hồ điều hòa, hành lang thoát nước phải được quy định rõ trong quy hoạch; Ưu tiên đất ven sông, ven biển cho giải pháp sinh thái (rừng ngập mặn, công viên ngập nước) [9][15]; (vi). Dành đất phát triển các trung tâm dữ liệu, trạm IoT, trung tâm điều hành đô thị thông minh. Đảm bảo hạ tầng số gắn liền với hạ tầng vật chất [11][12]; (vii) Đất cho phát triển đa chức năng: Kết hợp đất ở – thương mại – dịch vụ trong cùng khu vực để giảm nhu cầu di chuyển; Tăng hiệu quả sử dụng đất, tạo ra “khu đô thị tích hợp” chức năng [10]. Như vậy, công tác quy hoạch cần tổ chức không gian đô thị theo hướng phân tán – xanh – thông minh, đồng thời quy hoạch sử dụng đất gắn với năng lượng tái tạo, hạ tầng số và chống chịu khí hậu. Đây là nền tảng để đô thị Việt Nam phát triển bền vững thời kỳ mới hay thế hệ mới.

3.4. Các giải pháp chính sách và quản trị

Để đảm bảo tính khả thi trong việc hình thành hệ thống đô thị thế hệ mới tại Việt Nam, cần triển khai đồng bộ các giải pháp chính sách và quản trị.

3.4.1. Hoàn thiện thể chế và chính sách: (i) Đối với khung pháp lý: xây dựng cơ chế mua bán điện trực tiếp, quy định quyền tự chủ năng lượng của cộng đồng và chuẩn hóa tiêu chí kỹ thuật cho micro-grid [5]; (ii) Đầu tư hạ tầng dữ liệu và đô thị thông minh: phát triển trung tâm dữ liệu, hệ thống IoT, nền tảng AI và Big Data để quản lý đô thị theo thời gian thực [11][12]; (iii) Quy hoạch đô thị đa trung tâm gắn với giao thông công cộng: giảm tải hạ tầng, phân tán dân cư và tăng khả năng chống chịu [10][14]; (iv) Thúc đẩy hợp tác công – tư và thu hút đầu tư quốc tế: xây dựng cơ chế tài chính xanh, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư năng lượng tái tạo và hạ tầng số [7][9].

3.4.2. Mô hình quản trị đô thị thế hệ mới: Khác với quản trị đô thị truyền thống tập trung, mô hình mới nhấn mạnh tính linh hoạt, liên ngành và tham gia đa bên, nhằm đảm bảo đô thị vừa phát triển bền vững, vừa có khả năng phản ứng nhanh với các cú sốc kinh tế, thiên tai và xã hội [3][4][10]. Đặc trưng chính: (i) Quản trị dữ liệu và thông tin theo thời gian thực: sử dụng IoT, Big Data và AI để thu thập, phân tích và dự báo nhu cầu năng lượng, giao thông, chất lượng không khí và nước [12][14]; (ii) Quản trị linh hoạt và liên ngành: kết nối các cơ quan quản lý đô thị, sở ngành, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư; áp dụng cơ chế thử nghiệm chính sách để triển khai thí điểm [10]; (iii) Tham gia đa bên và minh bạch: khuyến khích sự tham gia của tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp tư nhân, viện nghiên cứu và cộng đồng dân cư; nâng cao niềm tin xã hội [9]; (iv) Quản trị dựa trên kết quả và chỉ số đánh giá khả năng chống chịu (Urban Resilience Index-URI), tỷ lệ năng lượng phân tán, mức độ số hóa đô thị, chỉ số chống chịu thiên tai [8][11].

3.4.3. Ứng dụng tại Việt Nam: Hà Nội: xây dựng trung tâm điều phối dữ liệu đô thị, kết nối các điểm năng lượng phân tán (micro-grid) tại các đô thị trực thuộc, phối hợp liên ngành giữa Sở, đặc biệt đối với Sở Xây dựng và Sở Công Thương [5][12]. TP.HCM: Áp dụng hệ thống quản trị dữ liệu giao thông và năng lượng, thí điểm xe điện công cộng và phương tiện kết nối lưới điện (Vehicle-to-Grid -V2G), tăng cường cơ chế tham gia đa bên [14]. Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Cần Thơ: Sử dụng mô hình quản trị dựa trên kết quả, giám sát hạ tầng sinh thái và logistics, xây dựng cơ chế phản ứng nhanh trước thiên tai và sự cố chuỗi cung ứng [11][15].

3.4.4. Phân cấp quản trị:

Cấp Trung ương: xây dựng chính sách và khung pháp lý đô thị thông minh, năng lượng phân tán và chống chịu [7]. 

Cấp tỉnh (UBND tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương): UBND tỉnh hoạch định chiến lược, quy hoạch, chương trình. Điều phối quy hoạch cấp tỉnh, quy hoạch chung đô thị trực thuộc, đầu tư hạ tầng trọng điểm kết nối đô thị – nông thôn, khu công nghiệp, cảng biển, hạ tầng logistics [10]. Đầu tư hạ tầng chiến lược: trung tâm dữ liệu, micro-grid, hệ thống giao thông điện hóa [11]. Hỗ trợ tài chính và cơ chế ưu đãi: thành lập quỹ phát triển đô thị thông minh, ưu đãi thuế cho dự án năng lượng tái tạo [9].

Cấp xã/phường (UBND xã, phường): Triển khai dự án năng lượng phân tán và micro-grid tại địa phương [5]. Vận hành hệ thống dữ liệu cấp xã, dữ liệu từ Internet vạn vật (IoT), dự báo các nhu cầu điện, giao thông, nước sạch và môi trường [11]. Thực thi chính sách linh hoạt theo tình hình thực tế, thử nghiệm cơ chế mới về quản lý năng lượng và giao thông điện hóa [12]. Thúc đẩy tham gia cộng đồng: khuyến khích hộ gia đình, doanh nghiệp địa phương tham gia quản lý năng lượng, sử dụng xe điện, tiết kiệm năng lượng [9].

UBND cấp tỉnh ban hành cơ chế phối hợp hai chiều đảm bảo thực thi chính sách từ trên xuống, dữ liệu và đề xuất từ dưới lên [8][10].

4. Kết luận

Mô hình đô thị thế hệ mới không chỉ là hướng đi tất yếu mà còn là cơ hội chiến lược để Việt Nam chuyển đổi các vùng đô thị lớn thành những siều đô thị thế hệ mới có khả năng cạnh tranh và có hệ sinh thái năng động, bền vững và chống chịu cao. Khi được triển khai đồng bộ với 3 trụ cột chính: năng lượng phân tán, công nghệ số và quản trị linh hoạt, mô hình này sẽ giúp các đô thị trọng điểm như Hà Nội, TP.HCM và các đô thị trực thuộc Trung ương nâng cao khả năng tự chủ, dự báo rủi ro và phản ứng nhanh trước các cú sốc kinh tế, thiên tai và biến đổi khí hậu [5][10][11][12][15].

Đồng thời, việc áp dụng các giải pháp năng lượng tái tạo, giao thông điện hóa và hạ tầng dữ liệu thông minh sẽ góp phần giảm phát thải, tối ưu hóa tiêu thụ năng lượng và nâng cao chất lượng sống cho người dân [11][12][14]. Đô thị thế hệ mới là hướng đi khả quan, tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia, thu hút đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế xanh cho Việt Nam [9][10].

Thành công trong triển khai mô hình này tại các đô thị trọng điểm sẽ hình thành một khuôn mẫu học tập và nhân rộng cho các vùng đô thị thuộc tỉnh, góp phần xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia tiên phong về phát triển đô thị thông minh, chống chịu và phát triển bền vững trong khu vực và trên trường quốc tế [1][2][3][4]. Do đó, việc định hướng chính sách, hoàn thiện cơ chế pháp lý, đầu tư hạ tầng chiến lược và nâng cao năng lực quản trị đô thị là những bước đi cần thiết, cấp bách và khả thi. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam chủ động nắm bắt thách thức và chuyển hóa thành cơ hội phát triển trong bối cảnh toàn cầu đầy biến động [7][8][15].

TS.KTS Trần Thị Lan Anh

Tài liệu tham khảo:
1. UN-Habitat (2016). World Cities Report 2016: Urbanization and Development – Emerging Futures.
2. UN-Habitat (2020). Resilient Cities – The Global Programe.
3. Rockefeller Foundation (2013). 100 Resilient Cities Initiative.
4. Judith Rodin (2014). The Resilience Dividend: Being Strong in a World Where Things Go Wrong. PublicAffairs.
5. International Energy Agency (IEA) (2021). Microgrids for Resilient Communities.
6. World Bank (2018). Vietnam Urbanization Review: Technical Assistance Report.
7. Bộ Xây dựng (2013). Quyết định 2623/QĐ-TTg: Đề án phát triển đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2013–2020.
8. Bộ Xây dựng – ISET – Quỹ Rockefeller (2016). Bộ chỉ số đô thị chống chịu với biến đổi khí hậu (VN-CRI).
9. Asia Foundation (2017). Urban Climate Resilience in Vietnam: Policy and Practice.
10. OECD (2019). Smart Cities and Inclusive Growth.
11. World Bank (2021). Resilient Urban Infrastructure for Vietnam.
12. McKinsey Global Institute (2018). Smart Cities: Digital Solutions for a More Livable Future.
13. Singapore Urban Redevelopment Authority (URA) (2019). Smart and Resilient City Planning.
14. Shenzhen Municipal Government (2020). Shenzhen Smart City Development Strategy.
15. IPCC (2022). Climate Change 2022: Impacts, Adaptation, and Vulnerability.

Có thể bạn cũng quan tâm

TAA Office: Nhà Hộp Rỗng – Khu rừng giữa đô thị

Chuyên gia Hà Lan chia sẻ giải pháp đô thị thích ứng biến đổi khí hậu

Xây dựng tiêu chí đánh giá khả năng chống chịu biến đổi khí hậu của đô thị

Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển đô thị bền vững

Đẩy mạnh phát triển đô thị bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu

TỪ KHÓA:coverđô thị chống chịuđô thị thế hệ mớiđô thị Việt Namđô thị xanh
NGUỒN:Tạp chí Xây dựng
Bài trước Toronto quy hoạch khu phố đặc biệt, biến đường phố thành công viên, giảm thiểu ngập lụt
Bài tiếp Khu đô thị phức hợp ga Thủ Thiêm với mô hình TOD 5.0
Ad imageAd image

Mới cập nhật

Khu đô thị phức hợp ga Thủ Thiêm với mô hình TOD 5.0
Giới thiệu dự án 25/05/2026
Toronto quy hoạch khu phố đặc biệt, biến đường phố thành công viên, giảm thiểu ngập lụt
Tin thế giới 25/05/2026
[Cà phê Net Zero] Góc nhìn Net Zero trong bản sắc không gian đô thị Thăng Long – Hà Nội
Sự kiện 24/05/2026
Hanoi to unveil 100-year master plan by late June 2026
News 24/05/2026
Huế thi thiết kế kiến trúc cầu qua Cồn Hến vượt sông Hương
Tin trong nước 24/05/2026
Hội thảo “Nhà ở xã hội phát thải carbon thấp, định hướng và giải pháp cho Việt Nam”
Sự kiện 23/05/2026
Luật Đô thị đặc biệt giúp TPHCM chuyển từ thí điểm sang khung pháp lý vượt trội
Tin trong nước 23/05/2026
Áp lực nhân sự: “Phép thử” cho năng lực quản trị dự án công
Góc nhìn 23/05/2026
Tọa đàm khoa học công nghệ “TOD & Metro – Kiến tạo tương lai đô thị”
Sự kiện 22/05/2026
Tháo gỡ loạt vướng mắc cho dự án chống ngập và kết nối giao thông cửa ngõ TP.HCM
Kinh tế / Pháp luật 22/05/2026
- Advertisement -
Ad imageAd image

Xem thêm

Kinh tế / Pháp luật

Địa phương cần xác định rõ các đô thị dự kiến hình thành mới

Báo Xây dựng 06/02/2026
Quy hoạch đô thị

Nghị quyết 111: Tái cấu trúc phát triển hệ thống đô thị quốc gia

Báo Xây dựng 21/01/2026
Quy hoạch đô thị

Hướng tới những thành phố đáng sống, hiệu quả và bao trùm

Tạp chí Xây dựng 08/01/2026
Phản biện

Lộ trình xanh cho đô thị lớn

KTSG Online 04/01/2026
© 2000-2026 Ashui.com. All Rights Reserved.
Welcome back!

Sign in to your account

Username hoặc Email của bạn
Mật khẩu

Quên mật khẩu?