
Phát huy lợi thế hạ tầng giao thông
Quảng Ninh sở hữu vị trí địa kinh tế đặc biệt, có biên giới đất liền, biên giới biển là cửa ngõ hướng ra biển của vùng Đông Bắc, kết nối trực tiếp với không gian kinh tế phía Bắc và có hơn 250km đường bờ biển.
Trong đó, hạ tầng giao thông đồng bộ chính là nền tảng quan trọng để mở rộng không gian phát triển của Quảng Ninh. Với tinh thần chủ động, Thành phố đã đề xuất Trung ương cho phép triển khai những cơ chế, chính sách phù hợp, đồng thời huy động nhiều nguồn lực để hình thành mạng lưới giao thông chiến lược, kết nối đường bộ, đường biển, hàng không và đang hướng tới đường sắt.
Từ khi tuyến cao tốc Hải Phòng – Hạ Long – Vân Đồn – Móng Cái, hệ thống cảng biển, đến Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn đưa vào khai thác, đã mở ra không gian kết nối chiến lược, rút ngắn thời gian di chuyển giữa Quảng Ninh với Hà Nội, Hải Phòng, các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng, đồng thời mở rộng cánh cửa giao thương với Trung Quốc và quốc tế.
Trong đó, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn được định hướng trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ thống logistics và du lịch quốc tế. Theo quy hoạch, giai đoạn 2021-2030, sân bay Vân Đồn được định hướng đạt công suất khoảng 2,5 triệu hành khách và 5.000 tấn hàng hóa/năm.
Đến năm 2050, công suất nâng lên khoảng 20 triệu hành khách và 200.000 tấn hàng hóa, hướng tới vai trò trung tâm trung chuyển du lịch quốc tế, logistics hàng không và vận chuyển hàng hóa. Đây là nền tảng để Vân Đồn phát triển thành một trung tâm kinh tế biển, dịch vụ và logistics hiện đại.

Cùng với đó, hệ thống cảng biển được quy hoạch theo hướng hiện đại, đồng bộ, gắn với phát triển kinh tế biển, logistics, công nghiệp, dịch vụ và du lịch. Đến năm 2030, hệ thống cảng biển Quảng Ninh được định hướng đáp ứng nhu cầu thông qua 118-153 triệu tấn hàng hóa, trong đó container khoảng 0,65-0,93 triệu TEU.
Đồng thời, các bến cảng được tổ chức gắn với các trung tâm công nghiệp, KKT, KCN và hành lang vận tải liên vùng, tạo thành mạng lưới hậu cần phục vụ trực tiếp sản xuất và thương mại.
Từ lợi thế cửa khẩu, Quảng Ninh đang chuyển từ tư duy điểm thông quan sang hệ sinh thái thương mại – logistics xuyên biên giới. Trong định hướng phát triển mới, logistics đa phương thức, logistics thông minh và logistics xanh được xác định là một trong những ngành dịch vụ mũi nhọn, liên thông với cảng biển, sân bay, cửa khẩu, KKT, KCN và các đô thị.
Trở thành trung tâm kết nối liên vùng
Trong không gian phát triển mới của phía Bắc, TP Quảng Ninh đang đứng trước một bước chuyển quan trọng, đó là từ một cực tăng trưởng năng động của vùng Đông Bắc trở thành một trung tâm liên kết vùng, nơi các dòng hàng hóa, vốn, công nghệ, dịch vụ và du lịch có thể kết nối, lưu chuyển giữa những không gian kinh tế lớn.
Phát huy lợi thế “vàng” của mình, đó là Quảng Ninh vừa nằm trong vùng kinh tế năng động nhất phía Bắc, vừa có cửa ngõ quốc tế trên bộ, trên biển, cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Quảng Ninh còn gắn với Hà Nội và các trung tâm công nghiệp của vùng, cũng như kết nối Hải Phòng và không gian kinh tế biển.

Do vậy, Quảng Ninh có đủ tiềm năng, vị thế trở thành điểm giao của nhiều hành lang kinh tế, kết nối nội địa với quốc tế, sản xuất với logistics, du lịch với dịch vụ và kinh tế biển với kinh tế cửa khẩu.
Trong cấu trúc đó, Quảng Ninh không phát triển tách rời Hà Nội, Hải Phòng hay các địa phương trong vùng, mà có thể bổ sung những giá trị mà toàn vùng cần. Nếu Hà Nội là trung tâm chính trị, khoa học công nghệ và dịch vụ chất lượng cao, còn Hải Phòng là cực công nghiệp, cảng biển và logistics, thì Quảng Ninh có thế mạnh nổi trội về kinh tế biển, du lịch quốc tế, cửa khẩu, thương mại xuyên biên giới và các dịch vụ gắn với biển.
Để hiện thực hóa trở thành trung tâm liên kết vùng, Quảng Ninh đang đề nghị Chính phủ đồng ý đầu tư tuyến cao tốc kết nối với vành đai 5 – Vùng Thủ đô và tuyến hướng tới sân bay Gia Bình.
Đây không đơn thuần là một tuyến giao thông mới, mà là một hành lang phát triển mới, mở thêm hướng kết nối trực tiếp giữa Quảng Ninh với các trung tâm sản xuất, đô thị và dịch vụ ở phía Tây.
Để đảm nhận vai trò trung tâm liên kết vùng, trong quy hoạch Quảng Ninh sẽ định hướng tổ chức lại chính không gian phát triển của mình. Cấu trúc “3 hành lang phát triển – 4 vùng kinh tế, xã hội – 5 trung tâm động lực” không chỉ nhằm tạo các cực tăng trưởng của thành phố, mà còn hình thành một hệ thống chức năng có khả năng kết nối với bên ngoài.
Khi đó, Quảng Ninh không chỉ là một thành phố biển hiện đại, hay một cực tăng trưởng của vùng Đông Bắc, mà còn trở thành nơi gặp gỡ của các dòng chảy kinh tế giữa nội địa và biển, giữa vùng Đồng bằng sông Hồng với không gian Đông Bắc Á.
Phạm Hoạch

