
Hội thảo có các Cục, Vụ, Viện, cơ quan (Bộ Xây dựng), lãnh đạo các tỉnh, thành phố, các doanh nghiệp cùng tham dự. Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn cho biết, sau hơn 5 năm triển khai, Luật Kiến trúc năm 2019 đã từng bước khẳng định vai trò là công cụ pháp lý quan trọng trong quản lý và phát triển kiến trúc Việt Nam. Đặc biệt, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã tạo nền tảng chiến lược cho phát triển kiến trúc bền vững, hiện đại và hội nhập.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn, bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn triển khai cũng cho thấy còn một số tồn tại: Thứ nhất, hệ thống quy định còn mang tính nguyên tắc, thiếu tiêu chí cụ thể, dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất. Thứ hai, còn tồn tại sự chồng chéo với các luật liên quan như quy hoạch, xây dựng, đất đai, đầu tư… làm gia tăng chi phí tuân thủ và kéo dài thời gian thực hiện. Thứ ba, pháp luật chưa theo kịp các xu hướng phát triển mới. Thứ tư, một số nội dung quan trọng còn chưa rõ. Thứ năm, cơ chế hành nghề kiến trúc chưa thực sự theo chuẩn quốc tế, còn thiếu tính minh bạch, tính cạnh tranh và tính chuyên nghiệp.
Việc sửa đổi Luật Kiến trúc lần này không chỉ là một điều chỉnh kỹ thuật, mà phải được đặt trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Pháp luật về kiến trúc phải đi trước một bước, vừa là công cụ quản lý, vừa là động lực phát triển. Đồng thời, phải đảm bảo một nguyên tắc xuyên suốt kiến trúc không chỉ là kỹ thuật, mà là văn hóa; không chỉ là không gian vật chất, mà là không gian sống của con người.

Tổng kết về thi hành Luật Kiến trúc và định hướng một số nội dung sửa đổi Luật Kiến trúc do ông Vũ Anh Tú – Phó Vụ trưởng Vụ Quy hoạch Kiến trúc cho biết: Một số quy định của Luật và Nghị định số 85/2020/NĐ-CP mang tính nguyên tắc, thiếu chi tiết, chưa có tiêu chí định lượng, nên khó áp dụng thống nhất; sự chồng chéo, chưa đồng bộ với một số luật liên quan dẫn đến phải viện dẫn, cân nhắc nhiều căn cứ khi tổ chức thực hiện; chưa có quy định và hướng dẫn đầy đủ đối với các vấn đề mới như kiến trúc không gian ngầm, kiến trúc xanh, kiến trúc thích ứng biến đổi khí hậu, kiến trúc thông minh, chuyển đổi số trong kiến trúc.
Đối với công trình kiến trúc có giá trị, các tiêu chí, thang điểm và phân loại trong Nghị định số 85/2020/NĐ-CP còn chưa rõ; chưa có hướng dẫn về tiêu chí và thủ tục loại bỏ công trình khỏi danh mục; chưa làm rõ mối quan hệ, thứ bậc giữa công trình kiến trúc có giá trị theo Luật Kiến trúc với di tích xếp hạng theo Luật Di sản văn hóa nên gây khó khăn cho các địa phương khi lựa chọn theo Luật nào.
Về vấn đề hoạt động hành nghề kiến trúc và kinh nghiệm quốc tế, KTS Nguyễn Trường Lưu – Chủ tịch Hội Kiến trúc sư TP.HCM nhận xét: Một số khái niệm, quy định của Luật còn chung, chưa đủ rõ, dễ dẫn đến nhiều cách hiểu. Ví dụ như khái niệm “bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc” tại Điều 11 mang tính định tính, chưa có tiêu chí, hướng dẫn cụ thể, dẫn đến mỗi địa phương vận dụng khác nhau, khó kiểm soát trong thẩm định, cấp phép và quản lý kiến trúc. Các quy định về quy chế quản lý kiến trúc tại Điều 14, Điều 15, đặc biệt là yêu cầu trình HĐND cấp tỉnh thông qua trước khi ban hành, điều chỉnh quy chế và điều kiện điều chỉnh quy chế, bị nhiều địa phương đánh giá là chưa phù hợp, làm kéo dài thủ tục, thiếu linh hoạt.

Về định hướng phát triển kiến trúc bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu, TS.KTS Hồ Chí Quang – Viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia (Bộ Xây dựng) đề xuất: Trong giai đoạn hiện nay nên hướng tới 3 trụ cột chính: Hướng tới bản sắc dân tộc, bản sắc dân tộc hoà với kiến trúc hiện đại; Phát triển bền vững: Ưu tiên phát triển bền vững, công trình xanh; Thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với thiên tai. Kiến trúc bản sắc phải trả lời được câu hỏi bản sắc nằm ở đâu? Hiện, chúng ta đang mất bản sắc do ồ ạt du nhập bản sắc ngoại lai, pha trộn. Nông thôn đang lãng phí các cảnh quan đẹp của thiên nhiên. Phải sửa như thế nào để đưa ra định hướng, hoàn thiện lại hệ thống quy chế. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu kiến trúc quốc gia, định hướng kiến trúc xanh và công trình bền vững: Các tiêu chí về môi trường, cân bằng sinh thái (quy định cụ thể trong Luật).
Ông Lê Đăng Tuấn – Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Gia Lai cho rằng, Gia Lai đã thực hiện xong các quy hoạch về xã, phường và xây dựng đề án quy hoạch vùng kiến trúc của tỉnh bao gồm 6 quy hoạch vùng (biển, núi, cafe, dừa…) nếu không có bộ khung quy định thì mỗi nơi làm một kiểu thì Gia Lai sẽ là những mảnh ghép rời rạc, không thể nhận diện bản sắc.

Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Lê Quang Nam trăn trở: “Lát cắt mà Đà Nẵng đang đối diện là sao chép lại các nước châu Âu là dùng kính bao che cho các toà nhà cao tầng, không duyệt dự án thì không được, còn duyệt thì đối mặt với hàng loạt vấn đề như năng lượng chi phí rất lớn, đối với kính trong suốt gần như bức xạ lên đến cả 100%, vấn đề cân bằng năng lượng… Thành phố đang nóng dần lên, chúng tôi đề xuất có giải pháp và hướng dẫn cụ thể để thực thi trong thực tiễn”.
Ông Đặng Văn Chính – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long cho biết, lập quy hoạch, phê duyệt là cả một quá trình nhưng chồng chéo giữa các Luật khiến địa phương khó thực hiện. Nếu giao cho các xã, phường thì với 142 xã, phường chưa có đủ lực lượng chuyên môn rất khó thực hiện. Đề xuất ban hành khung pháp lý và hướng dẫn cụ thể.

Ông Nguyễn Công Hoàng – Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi trao đổi: Mặc dù thời gian hơi gấp (đến tháng 6/2026 phải hoàn thiện) nhưng làm sao để công tác quản lý kiến trúc trên địa bàn đi vào nề nếp, địa phương thực hiện quản lý không gian ngầm thì phải quy hoạch không gian ngầm, cần có sự điều tiết trong Luật Kiến trúc, mặc dù Luật Quy hoạch đã có rồi.
Đây là vấn đề mới được bổ sung vào Luật nhưng phải quy định để dễ triển khai, dễ thực hiện và tiếp cận được với thế giới. Hơn nữa, quy định rõ ràng nhưng không chi tiết quá nếu có bất cập rất khó để sửa đổi ngay, khó khăn trong thực thi. Vì thế, ngoài Luật thì đề nghị ban hành thêm các thông tư và quy định hướng dẫn thực hiện.

Phát biểu tổng kết Hội thảo, Bà Trần Thu Hằng – Vụ trưởng Vụ Quy hoạch Kiến trúc (Bộ Xây dựng) khẳng định: Việc sửa đổi Luật Kiến trúc cần tập trung vào các định hướng lớn: (1) Hoàn thiện công cụ quản lý kiến trúc, đặc biệt là quy chế quản lý kiến trúc; (2) Nghiên cứu, lồng ghép thể chế hóa kiến trúc xanh, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu; (3) Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và hành nghề kiến trúc; (4) Hoàn thiện cơ chế hành nghề theo chuẩn quốc tế; (5) Rà soát thẩm quyền quản lý kiến trúc phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; (6) Rà soát, xử lý tránh để chồng chéo giữa các hệ thống pháp luật; (7) Phát triển thị trường dịch vụ kiến trúc trong quá trình hội nhập một cách minh bạch, cạnh tranh. Đây là các nội dung có tính nền tảng để xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc sẽ trình Quốc hội trong thời gian tới.
Trung Kiên

