
1. Đặt vấn đề
Bảo tồn di sản kiến trúc được hiểu không chỉ là hành động giữ lại một công trình vật chất, mà là tổng thể các biện pháp nhằm duy trì và truyền đạt các giá trị của di sản cho các thế hệ tương lai. Jokilehto (2017) cho rằng bảo tồn là quá trình quản lý sự thay đổi, chứ không phải ngăn chặn mọi biến đổi, trong đó trọng tâm là duy trì ý nghĩa văn hóa (cultural significance) của di sản. Theo nghĩa này, bảo tồn không đơn thuần là giữ nguyên hình hài vật chất, mà là một thực hành văn hóa – xã hội có ý thức, nhằm đảm bảo rằng các giá trị lịch sử, thẩm mỹ và ký ức gắn với công trình tiếp tục được nhận diện, diễn giải và kế thừa trong bối cảnh đương đại.
Các hành động bảo tồn di sản có thể coi là những cách ứng xử với ký ức. Smith (2006) quan niệm di sản như là “sân khấu của ký ức” (theatre of memory), được kiến tạo bởi nhiều tác nhân khác nhau, theo cách họ suy nghĩ và cảm nhận về quá khứ: quá khứ tốt đẹp thì có xu hướng bảo vệ di sản, quá khứ tiêu cực thì dễ bỏ quên di sản (Parra, Ferraz, 2021). Mỗi quan điểm bảo tồn – dù nhấn mạnh tính nguyên trạng, phục hồi hình thái ban đầu hay kết hợp phát triển mới – đều hàm chứa một lựa chọn về việc giữ lại, tái tạo hay điều chỉnh ký ức quá khứ. Nói cách khác, bảo tồn không đơn thuần là thao tác kỹ thuật trên vật thể kiến trúc, mà là quá trình can thiệp vào dòng chảy ký ức. Từ cách tiếp cận này, có thể xem các mô hình bảo tồn như những phương thức kiến tạo và quản trị ký ức trong hiện tại, hướng tới tương lai.
Các công trình công cộng giai đoạn 1954 – 1986 ở Hà Nội phản ánh một giai đoạn lịch sử của đất nước, với ngôn ngữ tạo hình hiện đại và tư duy kiến trúc đương thời, đồng thời thể hiện vị thế của một quốc gia độc lập sau thời kỳ thuộc địa. Những công trình này được hình thành trong bối cảnh chiến lược phát triển đất nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa và đã đóng góp đáng kể cho quá trình xây dựng và phát triển các lĩnh vực hành chính, văn hóa, giáo dục, truyền thông và xuất bản.
Qua nhiều thập niên gắn bó với Thủ đô, cả về hình ảnh thị giác và hoạt động sử dụng, các công trình đã trở thành một phần ký ức của nhiều thế hệ người Hà Nội. Hình ảnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên Quảng trường Ba Đình, cổng parabol Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Công viên Thống Nhất, Bưu điện Hà Nội… đã trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ người dân. Các giảng đường đại học cũng trở thành bối cảnh quen thuộc trong những bức ảnh kỷ yếu của sinh viên các trường Bách khoa, Thủy lợi, Thương mại…
Tuy nhiên, bên cạnh những ký ức tích cực, các công trình công cộng thời kỳ này cũng gắn với những ký ức khác về thời kỳ bao cấp, trong đó có những trải nghiệm về điều kiện vật chất hạn chế và các tiêu chuẩn sử dụng mang tính cứng nhắc. Những ký ức này có thể tạo ra thái độ khác nhau đối với các công trình, từ sự trân trọng và gắn bó đến mong muốn thay đổi hoặc thay thế chúng trong bối cảnh đô thị đương đại.
Dù được xây dựng kiên cố, nhưng với thời tiết khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm của Bắc Bộ, cộng với nhu cầu thay đổi chức năng sử dụng đáp ứng hoàn cảnh xã hội mới, đặt ra thách thức phải cải tạo, bổ sung thêm diện tích sử dụng hoặc phá bỏ xây mới.
Kết quả khảo sát của tác giả bài viết cho thấy đến tháng 6/2026 có khoảng 24% các công trình công cộng giai đoạn 1954 – 1986 đã bị phá bỏ, 24% được gia cố, sửa chữa nhỏ, 52% đã có sự biến đổi lớn về không gian, phong cách kiến trúc. Vậy, đối với lớp di sản này, đang tồn tại những cách bảo tồn nào, mỗi cách có mối liên hệ với ký ức ra sao, và cách nào được các chuyên gia khuyến nghị nhiều nhất? Bài viết sau sẽ góp phần trả lời những câu hỏi đó.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời câu hỏi về vai trò của ký ức đối với bảo tồn các công trình công cộng giai đoạn 1954 – 1986 ở Hà Nội, bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Nghiên cứu thứ cấp: thu thập dữ liệu hiện có dưới dạng văn bản, hình ảnh, bản ghi âm hoặc video về lý thuyết ký ức, lý thuyết bảo tồn di sản, lịch sử các công trình công cộng giai đoạn 1954 -1986 ở Hà Nội.
Khảo sát thực địa: ghi chép và lưu trữ những gì nhìn thấy, nghe thấy ở hiện trường các công trình.
Phỏng vấn sâu: phỏng vấn các chuyên gia trong lĩnh vực kiến trúc, bảo tồn di sản để ghi nhận quan điểm của họ về kết quả bảo tồn; phỏng vấn người gắn bó với di sản về mức độ gắn bó của họ đối với công trình, ký ức liên quan đến công trình.
Bài viết cũng sử dụng cách tiếp cận tích hợp lý thuyết nhằm kết nối các lý thuyết về ký ức, lý thuyết bảo tồn, từ đó nhận diện cơ chế ký ức tham gia vào quá trình bảo tồn di sản kiến trúc.
3. Các mô thức bảo tồn gắn với ký ức và các trường hợp nghiên cứu
Bảo tồn di tích (di sản kiến trúc) có nhiều quan điểm khác nhau như: Quan điểm lịch sử, Quan điểm nguyên thủy, Quan điểm di sản phục vụ đời sống xã hội đương đại, Quan điểm kết hợp bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích, Quan điểm gắn kết và hài hòa giữa bảo tồn và phát triển… Mặc dù vậy, hầu hết các quan điểm bảo tồn đều nằm trong phạm vi của hai “thái cực” của John Ruskin và Viollet-le-Duc (Lê Thành Vinh, 2018).
John Ruskin coi dấu ấn lịch sử là một phần của đối tượng, là cái đáng quý nhất của đối tượng cần phải bảo tồn nghiêm cẩn. Ngược lại, Viollet-le-Duc cho phép sáng tạo khi bảo tồn dựa trên ý tưởng nguyên thủy của người thiết kế. Kết nối những quan điểm bảo tồn trên với ký ức, bài viết đề xuất các mô thức bảo tồn di sản kiến trúc gắn với ký ức như sau:
3.1. Bảo tồn gắn với quá trình liên tục của ký ức
3.1.1. Cơ sở lý luận
Ruskin (1849) cho rằng di sản kiến trúc như là một dạng ký ức văn hóa, một thông điệp từ thế hệ này sang thế hệ khác, phát triển liên tục. Việc phá hủy, thay đổi, phục hồi công trình mà không cẩn thận cũng giống như cắt đứt cuộc trò chuyện đó. Bởi coi trọng tính liên tục của thời gian trong kiến trúc nên Ruskin đưa ra quan điểm bảo tồn giữ nguyên những gì đã xảy ra với công trình đến thời điểm hiện tại, dù đó là tàn tích. Công trình không nên được phục hồi để trông như mới, bởi như vậy giống như lời nói dối – nó xóa bỏ tính xác thực (Jokilehto, 2017). Các lớp thời gian trên kết cấu, vật liệu công trình mang ý nghĩa văn hóa, lịch sử – những giá trị đáng quý. Những di tích như Đền Parthenon, Đấu trường La Mã, Thánh địa Mỹ Sơn hay Cửa Bắc Hoàng thành Thăng Long được bảo tồn gần với quan điểm như vậy.
Một trường hợp tiêu biểu minh họa cho quan điểm bảo tồn của Ruskin là Nhà thờ Tưởng niệm Kaiser Wilhelm tại Berlin. Sau khi bị phá hủy nặng nề trong Thế chiến II, thay vì phục dựng lại công trình theo hình thức ban đầu, chính quyền đã lựa chọn giữ nguyên phần tháp đổ nát như một tàn tích lịch sử, và vẫn tiếp tục thực hành tôn giáo ở đó. Cách tiếp cận này thể hiện rõ tinh thần “không nói dối” lịch sử: các vết nứt, mảng vỡ và dấu tích chiến tranh không bị xóa bỏ mà được giữ lại như những lớp ký ức vật chất, cho phép công trình tiếp tục “đối thoại” với các thế hệ sau. Thay vì coi sự hư hại là khiếm khuyết cần sửa chữa, nó được nhìn nhận như một phần không thể tách rời của giá trị di sản, phản ánh quá trình ký ức được trình bày ở hiện tại.
3.1.2. Trường hợp nghiên cứu

Khoa Pháp, Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội (Hình 1) có cách tiếp cận bảo tồn tương đồng với mô thức này. Năm 2019, sau 35 năm sử dụng (khánh thành năm 1984), bề mặt tường của công trình xuất hiện tình trạng nấm mốc và xuống cấp. Các cựu sinh viên Khoa Pháp đã đóng góp kinh phí để tu bổ công trình, phục hồi màu sơn theo màu gốc là màu sen pha đất sét, đồng thời lắp đặt các thiết bị mới nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo. Phần lớn cảnh quan sân vườn được giữ nguyên, chủ yếu thực hiện vệ sinh và làm sạch bề mặt.
KTS Nguyễn Trần Đức Anh, nhà nghiên cứu kiến trúc, đánh giá tích cực kết quả bảo tồn, cho rằng công trình vẫn lưu giữ được các giá trị kiến trúc và cảnh quan, trong đó có khuôn viên cây xanh và hồ nước, tạo nên cảm giác “hàn lâm” – một đặc điểm gắn với hình ảnh khu vườn Academy.
Chị Vũ Anh Thư, một cựu sinh viên của Khoa, cho biết các ký ức về những năm sinh viên của chị vẫn được giữ nguyên trên chiếc ghế đá bên hồ nước, nơi chị thường ngồi ngắm cảnh và trò chuyện với bạn bè.

Một trường hợp bảo tồn khác theo mô hình này là dự án cải tạo Nhà C1 – Đại học Bách khoa Hà Nội (Hình 2) năm 2015, sau 50 năm sử dụng (khánh thành năm 1965). KTS Nguyễn Khánh Hòa, người thực hiện bảo tồn công trình, nói rằng: “Công trình cũ được khôi phục những chi tiết nguyên gốc, chỉ phá bỏ những phần cơi nới tạm thời trước đây. Thiết kế kiến trúc, đôi khi không phải cố gắng tạo ra điều mới mẻ, mà là trân trọng những gì đã có.”, KTS Hòa tự tin với cách tiếp cận bảo tồn của mình, và lãnh đạo Đại học Bách khoa Hà Nội khi ấy cũng đồng ý với quan điểm của kiến trúc sư.
Chị Nguyễn Phương Nhung, một cán bộ của Trường, cảm thấy tự hào vì những biểu tượng lịch sử như nhà C1 và cổng Parabol vẫn giữ được hình ảnh nguyên gốc, bên cạnh các tòa nhà sau này như C7, Thư viện Tạ Quang Bửu được xây dựng theo phong cách mới hơn. Năm 2026, khi dự án mở rộng đường Giải phóng được công bố, với sự đóng góp ý kiến của tập thể giảng viên- cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu, Ban giám hiệu đã quyết định dời Cổng Parabol đến vị trí mới, thay vì đập bỏ xây cái khác. Như vậy, tính liên tục của ký ức hiện diện trong quá trình bảo tồn Đại học Bách khoa Hà Nội.
3.2. Bảo tồn gắn với sáng tạo ký ức lúc khởi đầu
3.2.1. Cơ sở lý luận
Quan điểm bảo tồn của Viollet-le-Duc là tái thiết công trình ở trạng thái huy hoàng tưởng tượng lúc nguyên thủy mà có thể chưa thực sự tồn tại bao giờ. Để làm được điều đó, tốt nhất là phát triển hoặc lý tưởng hóa thiết kế khởi đầu (Jokilehto, 2017). Năm 1844, Viollet-le-Duc thực hiện bảo tồn Notre-Dame de Paris bằng cách bổ sung thêm các yếu tố mới dựa trên trí tưởng tượng có hiểu biết, trong đó có ngọn tháp nhô cao ở giữa nhà thờ.
Nhà Thái học trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám là một công trình cũng được bảo tồn theo cách này. Công trình đã bị phá hủy từ lâu và không có hồ sơ thiết kế. Nhóm bảo tồn được dẫn dắt bởi KTS Lê Thành Vinh đã dựa theo nguyên lý hệ kết cấu gỗ truyền thống Việt Nam và kế hoạch sử dụng của Nhà Thái học mà thiết kế một công trình bằng gỗ có hai tầng với các chức năng thờ phụng và tổ chức hoạt động văn hóa. Đó là sự tưởng tượng của các nhà bảo tồn về trạng thái ban đầu của công trình.
3.2.2. Trường hợp nghiên cứu

Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) là một trường hợp gần với mô thức bảo tồn này. Từ các hạng mục ban đầu xây dựng từ những năm 1960 ở phía cổng đường Nguyễn Phong Sắc, các hạng mục mới như dãy nhà A8 (Hình 3), A14, A15, A16, A17, thư viện, ký túc xá, liên tục được xây thêm. Những tòa nhà cũ không bị phá đi. KTS Đặng Kim Khôi, nguyên Tổng giám đốc Tổng Công ty Tư vấn xây dựng Việt Nam (VNCC) là đơn vị thiết kế, kể rằng những tòa nhà mới được xây dựng với sự tôn trọng và mở rộng ý tưởng ban đầu thời KTS Nguyễn Ngọc Chân, dù có điều chỉnh ngôn ngữ tạo hình nhưng không quá lạ, vẫn giữ tông màu đỏ trong bố cục các mảng tường, ăn nhập với nhau để tạo ra sự thống nhất cũ – mới, vừa giữ không khí kiến trúc cũ, vừa tạo cơ hội sáng tạo cho kiến trúc sư.
Anh Nguyễn Trí Dũng, hiện là lãnh đạo một nhà xuất bản, cựu học viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cũng cảm thấy sự hài hòa và chuyển đổi giữa các tòa nhà cũ với các tòa nhà mở rộng thêm trong khuôn viên trường.

3.3. Bảo tồn gắn với sáng tạo ký ức ở hiện tại
3.3.1. Cơ sở lý luận
Đây là quan điểm kết hợp hai trường phái Ruskin và Viollet-le-Duc. Trong khi giữ nguyên những gì đã xảy ra với công trình đến thời điểm hiện tại theo kiểu Ruskin thì nhà bảo tồn có thể bổ sung các thành phần mới với thẩm mỹ đương đại. Điều này giúp cho thế hệ tương lai phân biệt được lịch đại của các yếu tố bảo tồn hiện tại. Tức là, nhà bảo tồn đang tạo ra ký ức hiện tại cho tương lai.
Quan điểm này cũng phù hợp với Điều 9 trong Hiến chương Venice: “Nếu xét thấy nhất thiết phải làm thêm một cái gì đó vì lý do thẩm mỹ hoặc kỹ thuật thì bộ phận làm thêm đó phải phân biệt được với bố cục kiến trúc và phải ghi rõ dấu ấn niên đại lúc thực hiện”.
Ví dụ công trình Bảo tàng Neues được xây dựng vào thế kỷ 19, nhưng bị phá hủy nghiêm trọng trong Thế chiến II và bỏ hoang suốt nhiều thập kỷ. Trong quá trình trùng tu (1997 – 2009), kiến trúc sư David Chipperfield đã lựa chọn một cách tiếp cận kết hợp: giữ lại tối đa các dấu tích lịch sử như tường gạch vỡ, mảng tường bị bom phá, lớp trang trí còn sót lại, đồng thời bổ sung các cấu kiện mới bằng ngôn ngữ hiện đại như bê tông trơn, thép và các bề mặt tối giản.
Điểm quan trọng là các phần mới không hề “giả cổ” hay hòa lẫn vào cái cũ, mà được thiết kế có chủ ý để phân biệt rõ ràng về niên đại và thẩm mỹ. Công trình vừa tôn trọng tính xác thực và các dấu vết thời gian (không xóa bỏ ký ức quá khứ), vừa chấp nhận sự can thiệp sáng tạo của hiện tại. Theo nghĩa đó, việc bổ sung kiến trúc mới là hành vi tạo lập một lớp ký ức đương đại, để thế hệ tương lai có thể nhận diện và tiếp tục “cuộc đối thoại” với lịch sử.
3.3.2. Trường hợp nghiên cứu

Trường Đại học Thương mại được xây dựng từ những năm 1960 theo thiết kế của KTS Tạ Mỹ Duật. Qua nhiều giai đoạn xây dựng và phát triển, hình ảnh hiện nay của Trường bao gồm nhiều tòa nhà với phong cách kiến trúc khác nhau, đại diện cho các thời kỳ: thập niên 1960 (Hội trường H1), thập niên 1990 (Giảng đường V), thập niên 2000 (Trung tâm Học liệu P)… Mặc dù kiến trúc của một số tòa nhà mới chưa thực sự hài hòa với công trình gốc, sự khác biệt này vẫn thể hiện dấu ấn của từng thời kỳ và quá trình chuyển đổi lịch sử của tổng thể khuôn viên Trường.
Anh Khổng Quốc Tuân, cựu sinh viên của Trường, nay là lãnh đạo quản lý của một đơn vị hành chính, đã trải nghiệm học tập trong các tòa nhà, cho biết cả lớp chụp ảnh kỷ yếu ở hội trường H1, còn cá nhân thì chụp ảnh ở tất cả các tòa nhà. Điều đó cho thấy tòa nhà đầu tiên có tính biểu tượng cao hơn, nhưng mọi tòa nhà đều tạo cảm giác gắn bó để sinh viên muốn nhớ lại sau này.
KTS Lê Phước Anh, cháu ngoại của KTS Tạ Mỹ Duật, không phản đối việc xây mới, nhưng thấy tiếc vì một số tòa nhà có tỷ lệ và xử lý hình khối chưa đủ tinh tế để tạo thành một tổng thể đẹp.
3.4. Bảo tồn điều chỉnh ký ức
3.4.1. Cơ sở lý luận
Đây là cách bảo tồn sửa lại quá khứ dưới tác động của quyền lực hoặc thị hiếu thẩm mỹ xã hội. Hình ảnh nguyên gốc hoặc hiện tại của công trình bị chỉnh sửa hoặc che giấu, để thay vào đó là một hình ảnh không có thực trong quá khứ. Mặc dù các nhà bảo tồn hay ICOMOS không khuyến khích cách làm này (Điều 9 Hiến chương Venice), nhưng nó đã xảy ra với dự án Skopje 2014: những công trình kiến trúc Hiện đại ở Skopje bị bọc bởi kiến trúc giả Cổ điển bên ngoài nhằm phục vụ diễn ngôn rằng đất nước Bắc Macedonia có truyền thống văn hóa và lịch sử thuộc về châu Âu, trong lúc nước này đang nỗ lực tham gia Liên minh châu Âu, và che giấu lịch sử từng thuộc Liên bang Nam Tư (Janev, 2017).
Ví dụ khác là khu phố Dự Viên, ban đầu gắn với một khu vườn cổ thời Minh, nhưng phần lớn cấu trúc đô thị xung quanh đã bị phá hủy hoặc biến đổi qua quá trình hiện đại hóa. Từ cuối thế kỷ 20, chính quyền Thượng Hải đã tiến hành “phục dựng”, thực chất là xây mới hoàn toàn, trở thành khu phố có cảm giác truyền thống Trung Hoa. Những gì được tái hiện không phải là hình ảnh nguyên gốc, cũng không phải thuộc về bất cứ một giai đoạn lịch sử cụ thể nào, mà là một phiên bản quá khứ đã được chọn lọc, lý tưởng hóa và tiêu chuẩn hóa theo thị hiếu đương đại về “Trung Hoa cổ truyền”.
3.4.2. Trường hợp nghiên cứu

Công trình Trụ sở Bộ Giáo dục và Đào tạo được bảo tồn theo cách này. Kiến trúc tòa nhà chính đã biến đổi hoàn toàn, từ phong cách Hiện đại XHCN (hoàn thành năm 1986) sang một thị hiếu không rõ mỹ học kiến trúc của những năm 2000. Những yếu tố tạo hình hiện đại tích hợp với khả năng thích ứng khí hậu miền Bắc như lam che nắng, tường hoa gió bị phá bỏ.
KTS Trần Thanh Bình, người thiết kế công trình này cho biết rất buồn trước cách ứng xử của lãnh đạo Bộ và chuyên gia bảo tồn với “đứa con tinh thần” của mình. Trong khi đó, một số cán bộ, nhân viên của Bộ lại đánh giá tích cực những thay đổi về tiện nghi sử dụng; theo họ, việc cải tạo và lắp đặt hệ thống điều hòa trung tâm giúp không gian làm việc trở nên dễ chịu hơn.
Những trường hợp phá bỏ hoặc sửa chữa công trình công cộng giai đoạn 1954 – 1986 để xây mới theo phong cách “giả Pháp” như Trụ sở NXB Sự thật, Nhà hát Quân đội, Nhà khách Chính phủ… cũng có thể coi là điều chỉnh ký ức quá khứ: biến những công trình Hiện đại XHCN trở thành những vật thể gợi lại phong vị thực dân Pháp.

PGS.TS. KTS Nguyễn Việt Huy (Đại học Xây dựng Hà Nội) tỏ ra bức xúc trước hiện tượng này và nói: “Việc xây dựng những công trình giả cổ trong hiện tại dễ tạo ra một hiện tượng nguy hiểm: người quan sát trong tương lai sẽ khó phân biệt đâu là sản phẩm của thời kỳ thuộc địa, đâu là sản phẩm của thời nay, làm nghèo nàn diễn ngôn kiến trúc đương đại Việt Nam”.
KTS Lê Thành Vinh, chuyên gia bảo tồn, cho rằng sự phân biệt lịch đại trong bảo tồn là điều quan trọng, và cũng phù hợp với Hiến chương Venice – không nên tạo ra sự nhầm lẫn về thời đại lịch sử của công trình.
Việc phá bỏ các công trình kiến trúc Hiện đại XHCN và thay vào đó là kiến trúc “giả Pháp” cho thấy ký ức thời Pháp thuộc đang trỗi dậy trong xã hội Việt Nam hiện nay: thẩm mỹ và thị hiếu Đông Dương quay trở lại, tranh nghệ thuật Đông Dương được bán giá cao, di sản kiến trúc Đông Dương được xưng tụng. Tuy nhiên, nguyên tắc bảo tồn đảm bảo đúng niên đại của phần thêm mới vào di sản vẫn được các chuyên gia khuyến nghị. Việc phá bỏ hoặc chỉnh sửa kiến trúc Hiện đại XHCN và thay thế bằng kiến trúc “giả Pháp” mà không phải kiến trúc đương đại, không những sai về nguyên tắc bảo tồn, mà còn đánh tráo ký ức xã hội vốn được gửi gắm trong công trình kiến trúc.
4. Đánh giá các trường hợp
Như vậy, tổng hợp các kết quả nghiên cứu ở mục 3 cho thấy các mô thức được chuyên gia đánh giá tích cực hoặc chấp nhận được là: Bảo tồn gắn với quá trình liên tục của ký ức, Bảo tồn gắn với sáng tạo ký ức lúc khởi đầu, Bảo tồn gắn với sáng tạo ký ức ở hiện tại. Trong khi đó, mô thức Bảo tồn điều chỉnh ký ức không được các chuyên gia khuyến nghị thực hiện, thậm chí phản đối. Đây là kinh nghiệm tham khảo cần thiết để có thể thực hiện tốt hơn các dự án bảo tồn các công trình công cộng giai đoạn 1954 – 1986 ở Hà Nội.

5. Kết luận
Bài viết cho thấy ký ức không chỉ là giá trị phi vật thể gắn với di sản kiến trúc, mà còn là một yếu tố có khả năng định hướng cách thức bảo tồn. Thông qua việc tích hợp lý thuyết ký ức với lý thuyết bảo tồn di sản và phân tích các trường hợp công trình công cộng giai đoạn 1954 – 1986 ở Hà Nội, nghiên cứu đã đề xuất bốn mô thức bảo tồn gắn với ký ức: (1) bảo tồn gắn với quá trình liên tục của ký ức; (2) bảo tồn gắn với sáng tạo ký ức lúc khởi đầu; (3) bảo tồn gắn với sáng tạo ký ức ở hiện tại; và (4) bảo tồn điều chỉnh ký ức. Các mô thức này phản ánh những cách ứng xử khác nhau đối với quá khứ, từ việc duy trì tính liên tục của ký ức, tái hiện ý tưởng khởi nguyên, bổ sung những lớp ký ức mới cho đến việc thay đổi hoặc thay thế ký ức vốn có của công trình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy ba mô thức đầu được các chuyên gia nhìn nhận tích cực hoặc chấp nhận được vì vẫn duy trì được tính xác thực lịch sử, đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng trong bối cảnh đương đại. Ngược lại, mô thứcbảo tồn điều chỉnh ký ức – thể hiện qua việc thay đổi ngôn ngữ kiến trúc của các công trình Hiện đại XHCN theo phong cách “giả Pháp” – không được khuyến nghị do làm suy giảm khả năng nhận diện lịch sử và tạo ra sự nhầm lẫn về niên đại cũng như giá trị của di sản.
Từ trường hợp các công trình công cộng giai đoạn 1954 – 1986 tại Hà Nội, nghiên cứu cho thấy bảo tồn di sản kiến trúc không chỉ là duy trì hình thức vật chất mà còn là quá trình lựa chọn, duy trì và kiến tạo ký ức xã hội. Mỗi quyết định bảo tồn đồng thời là một quyết định về việc ký ức nào được tiếp tục lưu truyền, ký ức nào được bổ sung và ký ức nào có nguy cơ bị lãng quên. Vì vậy, bên cạnh các tiêu chí về kỹ thuật, lịch sử và thẩm mỹ, việc nhận diện và đánh giá các lớp ký ức gắn với công trình cần được xem là một cơ sở quan trọng trong quá trình ra quyết định bảo tồn. Cách tiếp cận này có thể góp phần mở rộng nghiên cứu di sản kiến trúc tại Việt Nam, đặc biệt đối với lớp công trình hiện đại sau năm 1954, vốn vẫn đang trong quá trình xác lập giá trị và còn nhiều tranh luận trong thực tiễn bảo tồn.
ThS.KTS Vũ Hiệp – GV Trường Đại học Giao thông vận tải

