
900.000 tỉ đồng để chuyển đổi xanh
Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM (HIDS), đề án “Chuyển đổi Xanh TPHCM giai đoạn 2025–2035” ước tính cần khoảng 900.000 tỉ đồng tổng vốn đầu tư. Bao gồm chi đầu tư cho các chương trình, dự án trọng điểm thuộc 10 trụ cột chuyển đổi xanh, chi cho hạ tầng số, quản lý dữ liệu, đào tạo và truyền thông cộng đồng.
Ông Phạm Bình An, Phó viện trưởng HIDS, nói rằng TPHCM (cũ) đã và đang có một số hoạt động nghiên cứu liên quan, gồm kinh tế tuần hoàn, kế hoạch tăng trưởng xanh,…nhưng không mang tính hệ thống. Hiện HIDS đang phối hợp với VinUni để xây dựng đề án chuyển đổi xanh.
“TPHCM cần cơ chế thống nhất để đảm bảo chuyển đổi xanh đồng bộ. Không có dự án thực tế, cũng không có tiền thì chuyển đổi xanh chỉ là trên giấy”, ông An chia sẻ tại hội thảo “Thúc đẩy tài chính xanh và sàn giao dịch tín chỉ carbon trong Trung tâm tài chính quốc tế” do Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM phối hợp VIFC và HIDS tổ chức.
Ước tính của HIDS cho rằng ngân sách nhà nước tài trợ khoảng 20%, trong đó ưu tiên hạ tầng năng lượng, giao thông, xử lý chất thải và hạ tầng dữ liệu. Còn khoảng 45% đến từ xã hội hóa, hợp tác công tư PPP, từ việc huy động doanh nghiệp, quỹ đầu tư trong nước. Khoảng 35% còn lại đến từ các định chế tài chính và quỹ khí hậu toàn cầu.
Theo đó, việc huy động được triển khai theo nguyên tắc “Nhà nước dẫn dắt – doanh nghiệp và xã hội đồng hành – quốc tế hỗ trợ kỹ thuật và tài chính”.
Theo báo cáo Khí hậu và Phát triển Quốc gia của Nhóm Ngân hàng Thế giới, Việt Nam sẽ cần thêm 368 tỉ đô la Mỹ đầu tư liên quan đến khí hậu từ nay đến năm 2040, tương đương 6,8% GDP mỗi năm. Rõ ràng nguồn lực riêng lẻ từ khu vực công không thể đáp ứng nhu cầu này.
Tìm vốn xanh cho TPHCM cũng là câu hỏi được đặt ra tại buổi đối thoại với lãnh đạo các bộ ngành trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu diễn ra tại TPHCM ngày 26/11 năm ngoái. Hiện các Bộ ngành đang tăng tốc hoàn thiện, sửa đổi hàng loạt quy định, cũng như làm việc song phương với đa phương các tổ chức tài chính quốc tế, tìm nguồn vốn phục vụ cho tăng trưởng xanh.

Cần gắn với Trung tâm tài chính quốc tế
Ông Võ Hoàng Hải, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Nam Á, đề xuất sáng kiến mang tên “Cộng đồng Tài chính Xanh”, tạo ra nền tảng kết nối không chỉ về vốn mà còn là nơi hội tụ tri thức và kinh nghiệm quốc tế.
Cộng đồng này hoạt động ngay trong IFC và tận dụng tối đa các cơ chế thử nghiệm cho phép, thay vì chờ sự hoàn thiện của Nghị định, Thông tư. Việc “nội địa hóa” ngay các thông lệ quốc tế và áp dụng thí điểm tại đây sẽ nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Ông Trần Thanh Bình, Phó Viện trưởng HIDS, nói cam kết Net-zero vào năm 2050 đặt ra áp lực lớn, buộc nền kinh tế phải tái cấu trúc nền sản xuất và khơi thông mạnh mẽ dòng vốn tài chính xanh.
Bên cạnh yếu tố “xanh”, TPHCM cũng đứng trước bài toán xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC). Trong cấu trúc của trung tâm này, tài chính xanh và các công cụ tài chính khí hậu phải được xem là trụ cột chiến lược then chốt, theo ông Bình. Việc hình thành và vận hành hiệu quả thị trường carbon, bao gồm sàn giao dịch tín chỉ carbon, là mảnh ghép không thể thiếu để hoàn thiện hệ sinh thái này.
Đánh giá tương tự, ông Shehryar Ali Shah, Trưởng văn phòng Tổ chức tài chính quốc tế (IFC, thuộc Ngân hàng Thế giới) tại TPHCM, cho biết tài chính xanh sẽ là trọng tâm của VIFC (trung tâm tài chính quốc tế của Việt Nam) trong tương lai. Đây không chỉ là ưu tiên cấp bách toàn cầu, mà còn là cơ hội lớn đối với Việt Nam.
Cơ hội đến từ nhu cầu mạnh mẽ từ nhà đầu tư đối với các khoản đầu tư xanh và bền vững, sự quan tâm ngày càng tăng từ các ngân hàng đối với việc tích hợp ESG. Trong khi đó, Việt Nam sớm ban hành hệ thống phân loại xanh quốc gia, mở rộng danh mục năng lượng tái tạo và hạ tầng bền vững và có tiềm năng phát hành trái phiếu bền vững bằng ngoại tệ.
Dù vậy, ông Shehryar Ali Shah cũng nêu lên nhiều khó khăn. Bao gồm chi phí phát hành trái phiếu xanh còn cao, nguồn vốn dài hạn trong nước còn hạn chế, thị trường công cụ phòng ngừa rủi ro và phái sinh chưa phát triển; hạn chế về hạ tầng, đặc biệt là truyền tải điện; nhu cầu về các công cụ đánh giá rủi ro khí hậu một cách hệ thống,
Đánh giá tương tự, từ phía HIDS, ông Bình cho rằng có ba nhóm thách thức lớn cũng được nêu lên. Thứ nhất là khung pháp lý cho tài chính xanh và thị trường carbon hiện vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, dẫn đến sự thiếu tính đồng bộ giữa các lĩnh vực và các bên tham gia, dẫn đến sự lúng túng khi thực hiện, đánh giá, phân loại, giao dịch.
Thách thức thứ hai liên quan đến năng lực tham gia thị trường của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chi phí cho hoạt động liên quan đến phát thải (đo đạc, báo cáo…) vẫn còn cao, trong khi thiếu đội ngũ thẩm định độc lập. Thách thức thứ ba ở chỗ khó thu xếp nguồn vốn dài hạn cho phát triển xanh, vì đa phần các ngân hàng, quỹ đầu tư thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro, công cụ bảo lãnh cần thiết.

Cần thêm nhiều công cụ mới
Tại hội thảo, đại diện nhiều bên tham gia cũng chia sẻ câu chuyện làm thế nào để tăng nguồn lực tài chính cho việc chuyển đổi xanh tại TPHCM. HIDS cũng nhấn mạnh giải pháp cần thiết là thành phố phải có cơ chế “tài chính xanh”.
Theo đó, thành phố có thể thành lập Quỹ chuyển đổi Xanh do Sở tài chính vận hành, đóng vai trò trung tâm điều phối các nguồn vốn đầu tư công, PPP và vốn quốc tế; hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng và chia sẻ rủi ro cho các dự án xanh.
Trái phiếu xanh đô thị sẽ được phát hành để phục vụ các dự án năng lượng sạch, giao thông xanh, xử lý chất thải, hạ tầng dữ liệu số và nhà ở xã hội xanh.
Bên cạnh đó, cơ chế cũng phải có thêm chính sách khuyến khích như miễn, giảm hoặc ưu đãi thuế, phí với doanh nghiệp, tổ chức đầu tư vào năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, hạ tầng xanh.
Điểm đặc biệt được nhắc nhiều trong thời gian qua là xây dựng sàn giao dịch tín chỉ carbon của thành phố, liên thông với thị trường quốc gia, cho phép doanh nghiệp, tổ chức tham gia trao đổi tín chỉ tự nguyện.
Ông Nguyễn Quốc Dũng, Phó tổng giám đốc Công ty sàn giao dịch tín chỉ carbon ASEAN, nhận định nhu cầu trong nước đang tăng nhanh. Số liệu của đơn vị này cho biết tính đến tháng 8-2025, Việt Nam đã phát hành hơn 30 triệu tín chỉ carbon từ 158 dự án thuộc thị trường tự nguyện. Con số này có thể đạt khoảng 70 triệu tín chỉ vào năm 2030.
Dũng Nguyễn

