
1. Đặt vấn đề
Do hoàn cảnh lịch sử, nền kiến trúc hiện đại Việt Nam bắt đầu muộn hơn và phát triển không liên tục so với nhiều nước khác trên thế giới. Vì vậy bàn về kiến trúc hiện đại nói chung và xu hướng hiện đại dân tộc trong kiến trúc Việt Nam nói riêng là vấn đề khó nhưng cần thiết.
Từ năm 1986 đến nay, chính sách mở cửa, đổi mới nền kinh tế theo hướng thị trường là động lực thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển. Theo đó, kiến trúc hiện đại Việt Nam đang chứng kiến một giai đoạn phát triển bùng nổ chưa từng có trong lịch sử với nhiều xu hướng và phong cách khác nhau.
Trong số các xu hướng, bài viết tập trung đánh giá xu hướng kiến trúc hiện đại dân tộc, bởi đây là xu hướng gắn với các yếu tố văn hóa bản địa và trên thực tế đã bước đầu đạt được những thành công đáng ghi nhận, có giá trị nhất định trong việc định hình bản sắc kiến trúc hiện đại Việt Nam.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu, tổng kết và đánh giá đầy đủ về xu hướng hiện đại dân tộc trong kiến trúc Việt Nam. Trong bối cảnh ấy, cách tiếp cận trong bài viết là kế thừa các công trình nghiên cứu đã công bố, đánh giá các tác phẩm đoạt Giải thưởng Kiến trúc quốc gia kết hợp với việc khảo sát các công trình đã được xây dựng.
Bài viết tập trung làm rõ những thành công và hạn chế của xu hướng kiến trúc hiện đại dân tộc với mong muốn góp thêm ý kiến trong sự nghiệp phát triển kiến trúc Việt Nam hiện đại và bản sắc.
2. Xu hướng kiến trúc hiện đại dân tộc
2.1. Nhận thức về kiến trúc hiện đại dân tộc
Nhận thức về kiến trúc hiện đại dân tộc có thể vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Cần có sự tranh luận để thống nhất. Tuy nhiên, xét về bản chất, kiến trúc tự bao giờ vẫn vậy, có nhiệm vụ tạo không gian sống, không chỉ đáp ứng nhu cầu của con người mà còn phải đẹp và mang tính thời đại, đồng thời phản ánh tính dân tộc của cộng đồng và của quốc gia.
Lịch sử kiến trúc cho biết, qua kiến trúc, có thể nhận ra thời đại mà kiến trúc hình thành và dân tộc sở hữu kiến trúc đó. Như vậy, có thể coi đó là tuyên ngôn kiến trúc của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, mặc dù từng trải qua nhiều giai đoạn chịu ảnh hưởng và áp đặt văn hóa từ các thế lực ngoại bang, đặc biệt là thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, kiến trúc Việt Nam vẫn giữ được bản sắc riêng, không bị đồng hóa hoàn toàn.
Tính dân tộc vì vậy luôn được thể hiện rõ trong kiến trúc các triều đại, tạo nên giá trị đặc trưng của kiến trúc truyền thống Việt Nam, có sự khác biệt nhất định so với kiến trúc Trung Quốc và các quốc gia đồng văn như Nhật Bản, Hàn Quốc.
Để minh họa, có thể xét đến hình thái mái trong kiến trúc truyền thống. Mái nhà Việt Nam thường có độ dốc lớn, với tỷ lệ mái so với thân nhà thường vượt quá hai lần, kết hợp với đường cong mềm mại ở đầu đao và sự vuốt cong nhẹ về hai phía, tạo nên hình ảnh kiến trúc vừa vững chắc vừa thanh thoát.
Trong khi đó, mái trong kiến trúc truyền thống Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc thường mang dạng cong gãy khúc rõ rệt. Sự khác biệt này bắt nguồn từ hệ thống kết cấu vì kèo. Kiến trúc truyền thống Việt Nam chủ yếu sử dụng hệ vì kèo kẻ – bảy, không sử dụng hệ đấu củng như trong kiến trúc các nước đồng văn.
Theo đó, mái dốc phẳng được hình thành trên cơ sở các cấu kiện chính nằm ngang (hoành), trong khi mái cong gãy khúc lại phụ thuộc vào hệ cấu kiện chính là rui chạy dọc từ bờ nóc xuống chân mái [6] (Hình 1-6).






Ngày nay, có thể hiểu một cách khái quát, kiến trúc hiện đại dân tộc là loại hình kiến trúc có sự kết hợp giữa các yếu tố hiện đại và truyền thống trong kiến trúc đương đại, trong đó các giá trị truyền thống được đề cao. Trên cơ sở đó, trước khi đi sâu vào phân tích xu hướng kiến trúc hiện đại dân tộc trong kiến trúc Việt Nam, cần làm rõ một số khái niệm liên quan nhằm đảm bảo cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu.
Trước hết là kiến trúc hiện đại. Kiến trúc hiện đại hình thành ở châu Âu vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, là xu hướng kiến trúc mới, tiêu biểu của thời đại công nghiệp, khước từ quy tắc kiến trúc cổ điển, phát triển dựa trên nguyên tắc hợp lý về công năng, kỹ thuật và vật liệu xây dựng mới. Xu hướng kiến trúc hiện đại phát triển mạnh và chưa dừng lại ở nhiều nước trên thế giới, nhất là từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, trong đó có Việt Nam.
Tiếp theo là yếu tố dân tộc. Yếu tố dân tộc, đặc biệt ở khía cạnh tinh thần, thường được xem là một trong những giá trị quan trọng trong đời sống văn hóa Việt Nam, góp phần tạo nên bản sắc và tính liên tục của dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử.
Bên cạnh đó, yếu tố dân tộc trong kiến trúc không chỉ giới hạn ở khía cạnh tinh thần mà còn được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các yếu tố liên quan đến kiến trúc như khả năng thích ứng với điều kiện môi trường, cảnh quan tự nhiên, đặc điểm văn hóa – xã hội của cộng đồng, cũng như bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Cuối cùng, cần làm rõ hai khái niệm “xu hướng” và “phong cách” trong kiến trúc. Hai khái niệm này có thể được hiểu theo những cách khác nhau và việc phân biệt giữa chúng chỉ mang tính tương đối.
Trong phạm vi bài viết, “xu hướng kiến trúc” được hiểu là một định hướng tư duy sáng tác mang tính khái quát, trong khi “phong cách kiến trúc” là sự biểu hiện cụ thể của tư duy sáng tác đó thông qua ngôn ngữ hình thức và dấu ấn cá nhân của kiến trúc sư. Một xu hướng có thể bao hàm nhiều phong cách khác nhau.
Trong quá trình phát triển kiến trúc ở nước ta xuất hiện nhiều xu hướng, trong đó có xu hướng kiến trúc hiện đại dân tộc. Xu hướng kiến trúc hiện đại dân tộc khởi đầu từ thời Pháp thuộc và phát triển đến ngày nay.
Ngày nay, trong số các xu hướng và phong cách kiến trúc đang được định hình, xu hướng kiến trúc hiện đại dân tộc là xu hướng đạt được nhiều thành công với các phong cách kiến trúc cụ thể, để lại ấn tượng khá sâu sắc trong cảm nhận của cộng đồng về kiến trúc đương đại Việt Nam.
Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về sự hình thành xu hướng kiến trúc này cần tìm hiểu hai cách tiếp cận mô phỏng và tiếp biến truyền thống trong kiến trúc. Mỗi cách tiếp cận đều có những thành công và hạn chế nhất định.
2.2. Xu hướng kiến trúc hiện đại dân tộc với cách tiếp cận mô phỏng truyền thống
Trước hết, có thể nhận định rằng kiến trúc hiện đại Việt Nam bắt đầu hình thành từ thời kỳ Pháp thuộc. Theo các tư liệu lịch sử, Victor Tardieu – hiệu trưởng Trường Mỹ thuật Đông Dương (thành lập năm 1925), trong đó có Khoa Kiến trúc (1926), được xem là người đặt nền móng cho quan niệm đề cao giá trị văn hóa bản địa (Đông Dương và Việt Nam) trong sáng tạo nghệ thuật hiện đại.
Đây thực sự là điểm sáng tích cực trong nhận thức về kiến trúc hiện đại Việt Nam. Quan niệm này khơi dậy tinh thần dân tộc trong đào tạo và trong sáng tác kiến trúc của thế hệ kiến trúc sư đầu tiên được đào tạo thời Pháp thuộc.
Tuy nhiên, những sáng tạo theo hướng kết hợp hiện đại và dân tộc thời bấy giờ của các kiến trúc sư Pháp và Việt mới chủ yếu dựa trên việc khai thác giá trị hình thức của kiến trúc truyền thống Đông Dương trong kiến trúc hiện đại, nghĩa là đi theo cách tiếp cận mô phỏng kiến trúc truyền thống. Thời Pháp thuộc, thành công nổi bật và tiêu biểu nhất của xu hướng này là phong cách kiến trúc Đông Dương do KTS Ernest Hebrard sáng tạo.
Những năm đầu sau khi đất nước giành được độc lập, do điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn và nhu cầu xây dựng mới chưa lớn, vấn đề kế thừa yếu tố truyền thống trong kiến trúc chưa thực sự được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, trong các công trình được xây dựng giai đoạn này, các KTS vẫn quan tâm đến yếu tố dân tộc, chủ yếu thông qua xu hướng mô phỏng hoặc kế thừa hình thức kiến trúc truyền thống (Hình 7-12).






Ngày nay, việc mô phỏng kiến trúc truyền thống vẫn là một hướng tiếp cận được nhiều KTS quan tâm, đặc biệt từ sau thời kỳ Đổi mới. Kết quả của các kỳ Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia là một trong những cơ sở quan trọng cho thấy xu hướng này tiếp tục được duy trì và có ảnh hưởng nhất định trong sáng tác kiến trúc đương đại Việt Nam.
Theo hướng cách tân kiến trúc truyền thống, có phong cách Tân truyền thống. Đó là các công trình, như: Nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên Phủ (KTS Nguyễn Trực Luyện, KTS Hoàng Phúc Thắng, 1994), Khu du lịch Sài Gòn Mũi Né, Bình Thuận (KTS Nguyễn Văn Tất, 2000), Khu Thái học, Di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội (KTS Lê Thành Vinh, 2000), Nhà ga T1, Sân bay quốc tế Nội Bài (KTS Lương Anh Dũng, Thân Hồng Linh, 2002), Khoa quốc tế, Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội (KTS Nguyễn Vũ Hưng, 2002). Sau này là các công trình: Làng Đất (KTS Hoàng Thúc Hào, Nguyễn Duy Thanh, 2016), Tái thiết Làng Nủ và làng Nậm Tông (KTS Hoàng Thúc Hào, Nguyễn Xuân Ngọc, Vũ Xuân Sơn, Nguyễn Duy Thanh, 2024),… (Hình 13-18)

Kiến trúc dân gian của làng quê Việt ở Nam Bộ được khai thác để trở thành “Một khu nghỉ biển với kiến trúc dung dị đầy chất thơ được tác giả chăm chút từ tổng thể đến từng chi tiết nhỏ nhất bằng gu thẩm mỹ tinh tế khiến lòng người nồng ấm lên. Những thân dừa vươn cao từ thế đất uốn lượn phủ cỏ xanh bồng bềnh bên rạch suối róc rách với những cây cầu đơn sơ – cảnh quan được con người tạo nên mà như trời sinh ra nơi bờ biển tràn cát của vùng đất Thuận Hải thừa nóng và gió”.

Phỏng theo kiến trúc truyền thống, công trình được xây dựng trên vị trí của tòa Điện Khải Thánh xưa đã bị tàn phá năm 1946 khi toàn quốc kháng chiến. Mặc dù xuất hiện sau nhiều thế kỷ, Nhà Thái học thể hiện tinh hoa kiến trúc truyền thống của người Việt đã làm giàu thêm cho tổng thể kiến trúc và hoạt động của di tích nổi tiếng – Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Là cửa ngõ đón tiếp bạn bè trong và ngoài nước, Nhà ga T1 tạo ấn tượng đầu tiên bằng hệ mái lớn mang dáng dấp kiến trúc truyền thống Việt Nam. Mái có độ vươn rộng, tạo bóng đổ sâu giúp hạn chế bức xạ nhiệt, phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới. Phần đầu hồi mái được kéo dài và vươn xa, tạo điểm nhấn kiến trúc mạnh mẽ và giàu bản sắc. Bên cạnh đó, cấu trúc không gian của công trình thể hiện sự kết hợp giữa tinh thần hiện đại và yếu tố truyền thống thông qua hệ mái – cột – dầm – con sơn mang đặc trưng kiến trúc Việt Nam.

Sự dung dị của hình dáng ngôi nhà truyền thống Việt Nam với bộ mái khỏe, vươn rộng cùng với kiến trúc mặt nhà được khai thác tinh tế các chi tiết kiến trúc gỗ quen thuộc, làm nên hình ảnh công trình hiện đại mà lắng đọng chất truyền thống, toát lên vẻ tĩnh lặng ở bề ngoài tương đồng với yêu cầu bình tâm yên ả cho việc chữa trị.

Làng Đất là ngôi nhà cộng đồng của đồng bào Dao được thiết kế nhằm cải thiện bền vững chất lượng sống trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Vì thế, tường trình và vật liệu địa phương cùng các giải pháp thông gió, khai thác ánh sáng tự nhiên, tận dụng nguồn nước,… được vận dụng một cách sáng tạo, bên cạnh đó có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng. Kiến trúc ngôi làng, vì thế hài hòa với cảnh quan tự nhiên và văn hóa của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc.

Lấy nhà cộng đồng, trường học và sân rộng làm trung tâm, các xóm nhỏ nhà ở được bố trí nương theo địa hình, tạo cảm giác tự nhiên, thân thuộc. Kiến trúc ngôi nhà với 4 mái xòe rộng là diện mạo mới hiện đại mang tính bản địa, gần gũi do khai thác sáng tạo các yếu tố truyền thống từ ngôi nhà sàn của người Tày Làng Nủ và nhà trệt của người Mông ở Nậm Tông. Bên cạnh đó, bằng giải pháp lắp ghép và sử dụng vật liệu hiện đại, ngôi làng đã được xây dựng trong thời gian ngắn kỷ lục, đáp ứng kịp thời nhu cầu an cư của người dân sau thảm họa thiên tai. Tái thiết Làng Nủ và làng Nậm Tông, vì thế mang ý nghĩa xã hội, nhân văn sâu sắc.
2.3. Xu hướng kiến trúc hiện đại dân tộc với cách tiếp cận tiếp biến truyền thống
Theo cách tiếp cận tiếp biến kiến trúc truyền thống, nổi bật là phong cách biểu hiện. Kiến trúc biểu hiện nhấn mạnh tính biểu tượng thông qua việc khai thác tinh thần của kiến trúc truyền thống. Đây là phong cách, ngay từ đầu đã có những thành công, phải chăng bởi sáng tạo thoát thai từ nền tảng văn hóa dân tộc sâu sắc trong tâm hồn của các KTS – tác giả.
Các công trình tiêu biểu là: Hội trường Thống Nhất, TP.HCM (KTS Ngô Viết Thụ, 1962), Đài tưởng niệm Bắc Sơn, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Tuyên Quang (Giải nhất năm 1996, KTS Lê Hiệp), Nghĩa trang liệt sĩ Ninh Thuận (Giải ba năm 1996, KTS Nguyễn Khởi), Đài tưởng niệm đôi bờ Hiền Lương, Bảo tàng Đắk Lắk (Giải nhì năm 2012, KTS Nguyễn Tiến Thuận), Cầu Vàng, TP Đà Nẵng (KTS Nguyễn Việt Anh), Bảo tàng Thế giới Cà phê, Buôn Ma Thuột (a21studio), Nhà trăm mái (KTS Lữ Trúc Phương), Biệt thự Hằng Nga (KTS Đặng Việt Nga), Không gian thân thiện BE (Giải đồng năm 2016, các KTS Đoàn Thanh Hà, Trần Ngọc Phương, Nguyễn Mạnh Hùng), Nhà ở Bắc Hồng (Giải vàng năm 2018, KTS Phạm Quốc Đạt), và The Park (Giải vàng năm 2024, KTS Nguyễn Hoàng Mạnh) (Hình 19-24).



Vượt ra khỏi hình dáng thường gặp của thể loại đài tưởng niệm, tìm đến sự khái quát có tính tư tưởng nghệ thuật vừa hoành tráng vừa giàu chất thơ. Hình thức cách điệu của cây đa Tân Trào – đặc trưng cho vùng căn cứ cách mạng, gần gũi với tâm tưởng con người mà vẫn gợi được cảm xúc về sự rộng lớn, uy nghi.

Đạt tới sự hoành tráng bởi hình tượng và hình khối kiến trúc cô đọng ước lệ có phần thô cứng, nhưng lại hòa nhập vào khung cảnh của không gian linh dưới bầu trời chói chang của mảnh đất cực Nam Trung Bộ, đồng thời nói lên được lòng biết ơn vô hạn đối với những người đã nằm xuống vì dân tộc.


Ngoài ra còn có cách tiếp biến kiến trúc truyền thống theo hướng không chỉ thích ứng với môi trường tự nhiên, khí hậu để đảm bảo thông thoáng, mà còn thân thiện về văn hóa với các giải pháp kiến trúc mái rộng, hàng hiên, ô thoáng hoặc thanh che nắng và sử dụng hoa văn trang trí truyền thống. Đó là Kiến trúc hiện đại nhiệt đới.
Kiến trúc hiện đại nhiệt đới khởi đầu với phong cách Kiến trúc Đông Dương, thời Pháp thuộc. Kiến trúc hiện đại nhiệt đới được các thế hệ KTS tiếp tục phát triển với nhiều thành công, góp phần tích cực trong tạo dựng kiến trúc Việt Nam hiện đại và bản sắc.
Ví dụ tiêu biểu: Thư viện tổng hợp, TP.HCM (KTS Nguyễn Hữu Thiện,1968), Trường Đại học Sư phạm, Huế, KTS Ngô Viết Thụ, Cung thiếu nhi, Hà Nội (KTS Lê Văn Lân, 1974), Trung tâm Hội nghị quốc tế, Hà Nội (KTS Nguyễn Thúc Hoàng, Đặng Kim Khôi, 1998), Trường Bình Dương (KTS Võ Trọng Nghĩa, 2012), Trường liên cấp hội nhập quốc tế Ischool Quảng Trị (các KTS Nguyễn Xuân Minh, Bùi Hưng Tĩnh, Nguyễn Văn Quý, Phùng Kim Phước, Lê Bá Huynh, Nguyễn Công Tuấn, 2018), Nhà thiếu nhi TP.HCM (KTS Nguyễn Trường Lưu, 2018),… (Hình 25-34)






Tổng mặt bằng được bố cục và phân khu chức năng rõ ràng, khúc chiết với lõi xanh ở giữa tạo nên một ngôi trường xanh đúng nghĩa. Khối học mầm non vuông vức với cấu trúc 2 mái, mái trên được tách rời và hệ cột thanh mảnh tạo không gian sinh động, thông thoáng, có sân trong rộng kết nối với các khối học phổ thông. Các khối chức năng là không gian mở với những khoảng trống tầng xen kẽ được kết nối bằng hành lang chạy suốt. Mặt đứng là tường 2 lớp gạch hoa trang trí – một dạng tường thở, làm nổi bật hình thức kiến trúc của ngôi trường.

Ý tưởng tạo hình gây ấn tượng theo xu hướng kiến trúc xanh. Các nan che nắng được tạo hình khéo léo và tự nhiên, kết hợp hài hòa với cây xanh trên các tầng, tạo nên một tổng thể công trình khá bắt mắt và thân thiện, phù hợp với con mắt của thiếu nhi.


Công trình The Park nằm trong tổ hợp Ecopark Vinh là một Club House nổi bật với nỗ lực kết hợp giữa tính nhân tạo và tự nhiên. Nhìn từ hồ, công trình gợi nhớ đến kiến trúc gỗ truyền thống. Từ góc nhìn đối diện, lại thấy các lớp mái xanh hòa vào cảnh quan thiên nhiên xung quanh. Sự kết hợp kép này thể hiện cách giải quyết hài hòa mối liên hệ giữa yếu tố nhân tạo và tự nhiên, đồng thời mang lại cho công trình giá trị tạo hình độc đáo, riêng có.

Trong cơn lốc đô thị hóa nông thôn, Nhà ở Bắc Hồng là giải pháp tổ chức không gian ở tại nông thôn theo nếp sống mới, nhưng biết giữ gìn mạch văn hóa truyền thống, kết nối ba thế hệ trong một gia đình với triết lý “Xa mà Gần”. Các khối nhà được bố cục xô lệch nhưng hài hòa, đẹp mắt, liên kết với nhau bằng sân giữa và hàng hiên rộng, đồng thời sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn các vật liệu quen thuộc như gạch trần, ngói đỏ, gỗ, sắt,… Các phòng cho từng thế hệ được bố trí hợp lý, vừa đảm bảo tính riêng tư, vừa tạo ra sự gần gũi, sum họp cho các thành viên trong gia đình qua sân vườn chung, hành lang, sân trời và mặt nước.
Những năm gần đây, yếu tố bản địa và xanh được các KTS quan tâm. Theo cách tiếp cận này, bản sắc địa phương trong kiến trúc được cảm nhận rõ hơn. Đó là phong cách kiến trúc bản địa mới mang đậm tính chất địa phương. Nghĩa là, công trình phù hợp với nơi chốn, hướng đến sự tiếp nối và bổ sung truyền thống trong thời đại mới.
Những công trình tiêu biểu là: Café Gió và Nước (KTS Võ Trọng Nghĩa, Nguyễn Hòa Hiệp, Sakata Minoru, Ohara, 2006); Nhà cộng đồng thôn Suối Rè, Lương Sơn, Hòa Bình (KTS Hoàng Thúc Hào, Nguyễn Duy Thanh, 2010); Công trình cải tạo chợ Đồng Xuân (KTS Lê Văn Lân), Sơn La Restaurant ( KTS Võ Trọng Nghĩa, Vũ Văn Hải, Ngô Thùy Dương, Trần Mai Phương, 2014). (Hình 35,36)


KTS đã khéo sử dụng vật liệu địa phương quen thuộc là đá và tre. Những bức tường vuông vức có bề mặt thô mộc tạo nên hình khối vững chắc, mạnh mẽ, hài hò với khung cảnh miền núi. Không gian được thiết kế từ đóng sang mở, từ riêng sang chung liên thông qua giếng trời với cấu trúc tre nhẹ nhàng và cách bài trí nội thất tối giản vừa dân giã vừa hiện đại.
3. Nhận xét
Kiến trúc hiện đại xuất hiện ở nước ta muộn hơn so với các nước phát triển, nhưng trong quá trình phát triển, nhất là từ sau Đổi mới, kiến trúc có cơ hội phát triển mạnh với sự đa dạng về xu hướng và phong cách kiến trúc. Mỗi xu hướng đều có những thành công và hạn chế nhất định.
Trong đó, kiến trúc hiện đại dân tộc là xu hướng xuyên suốt quá trình phát triển kiến trúc, góp phần quan trọng trong việc định hình bản sắc của kiến trúc Việt Nam đương đại.
Để đánh giá khách quan xu hướng kiến trúc hiện đại dân tộc, bài viết dựa vào các công trình nghiên cứu đã công bố, vào các tác phẩm đoạt Giải thưởng Kiến trúc quốc gia kết hợp với khảo sát thực tế các công trình đã được xây dựng.
Về phía tác giả – KTS, nhu cầu khẳng định dấu ấn cá nhân cùng với cảm hứng sáng tạo từ văn hóa và kiến trúc truyền thống đã thúc đẩy nhiều KTS tìm kiếm các hướng tiếp cận mang bản sắc riêng.
Theo xu hướng kiến trúc hiện đại dân tộc, nhiều phong cách kiến trúc dựa trên tư duy tiếp biến truyền thống đã đạt được những thành công đáng ghi nhận và cần tiếp tục được phát huy, như: kiến trúc nhiệt đới, kiến trúc biểu hiện, kiến trúc bản địa và kiến trúc xanh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn tồn tại một số hạn chế như xu hướng mô phỏng kiến trúc truyền thống theo lối nệ cổ, sao chép hình thức kiến trúc cổ điển phương Tây hoặc quá chú trọng yếu tố hình thức mà thiếu chiều sâu về công năng và bản sắc văn hóa. Đây là những biểu hiện cần được xem xét và khắc phục trong quá trình phát triển kiến trúc hiện đại Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, nhiều kiến trúc sư, đặc biệt là thế hệ kiến trúc sư trẻ, thông qua các tác phẩm, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của mình, đã từng bước khẳng định vị thế trong giới chuyên môn. Những đóng góp này không chỉ góp phần xây dựng nền kiến trúc Việt Nam hiện đại và giàu bản sắc, mà còn tạo điều kiện để kiến trúc Việt Nam hội nhập hiệu quả với kiến trúc thế giới.
GS.TS.KTS Nguyễn Quốc Thông – Hội Kiến trúc sư Việt Nam

