By using this site, you agree to the Privacy Policy and Terms of Use.
Accept
Ashui.comAshui.comAshui.com
  • Home
    • Bookmarks
    • English
      • News
      • Projects
      • Products
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
    Tin tức / Sự kiệnĐọc tiếp
    Bộ Xây dựng tổ chức Diễn đàn Phát triển bền vững đô thị Việt Nam năm 2026
    Báo Xây dựng 01/11/2026
    HĐND TP.HCM chính thức thông qua Quy hoạch tổng thể thời kỳ 2025 – 2050, tầm nhìn 100 năm
    Tuổi Trẻ 30/10/2026
    IBST khánh thành công trình “the LEAP” – mô hình nhà lắp ghép phát thải carbon thấp
    Ashui.com 30/10/2026
    Diễn đàn Thành phố thông minh Việt Nam – ASOCIO 2026 sẽ diễn ra vào tháng 12
    Ashui.com 27/10/2026
    Bộ Xây dựng ban hành Từ điển dữ liệu về hoạt động xây dựng
    Báo Xây dựng 26/10/2026
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Font ResizerAa
Ashui.comAshui.com
Font ResizerAa
  • Home
  • Tin tức / Sự kiện
  • Chuyên mục
  • Công nghệ
  • Vật liệu / Thiết bị
  • Dự án
  • Tương tác
  • Cộng đồng
  • Home
    • Bookmarks
    • English
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Các kênh mạng xã hội
  • Advertise
© 2000-2025 Ashui.com. All Rights Reserved.
Kiến trúc

Di sản kiến trúc chùa Khmer: Giá trị và thách thức bảo tồn trong bối cảnh đương đại

Chùa Khmer là một thành tố quan trọng của di sản kiến trúc và không gian văn hóa vùng Tây Nam Bộ , đồng thời là di sản sống gắn với thực hành Phật giáo Nam tông, sinh hoạt cộng đồng và bản sắc văn hóa Khmer. Nghiên cứu nhằm nhận diện các giá trị chủ yếu, làm rõ những biểu hiện biến đổi trong bối cảnh đương đại và xác định các vấn đề đặt ra đối với bảo tồn.

Tạp chí Xây dựng 01/11/2026
29 phút đọc
SHARE
Nội dung
1. Đặt vấn đề2. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu2.1. Cơ sở lý luận và khung pháp lý2.2. Đặc trưng của di sản kiến trúc chùa Khmer vùng Tây Nam Bộ2.3. Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu3.1. Đối tượng, phạm vi và trường hợp nghiên cứu3.2. Dữ liệu nghiên cứu3.3. Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá3.4. Nguyên tắc ghi nhận biến đổi và xử lý dữ liệu4. Kết quả nghiên cứu4.1. Nhận diện các giá trị của di sản kiến trúc chùa Khmer4.2. Những biểu hiện biến đổi của di sản trong bối cảnh đương đại4.3. Những vấn đề đặt ra đối với bảo tồn và duy trì giá trị di sản5. Thảo luận 5.1. Biến đổi và yêu cầu duy trì giá trị của di sản sống5.2. Quản lý sự thay đổi dựa trên giá trị6. Kết luận
Chùa Sleng Chas, Vĩnh Long. (Nguồn: Internet)

1. Đặt vấn đề

Chùa Khmer là thành tố quan trọng của không gian văn hóa Tây Nam Bộ (TNB), đồng thời là quần thể kiến trúc tôn giáo, nơi thực hành Phật giáo Nam tông và sinh hoạt cộng đồng. Giá trị di sản được biểu đạt qua bố cục, công trình, trang trí, cảnh quan, vật liệu – kỹ thuật, cách sử dụng và quan hệ cộng đồng. Vì được sử dụng liên tục, chùa Khmer là di sản sống, trong đó cấu trúc vật chất và thực hành tôn giáo – xã hội cùng duy trì ý nghĩa địa điểm.

Trong bối cảnh đương đại, sửa chữa, mở rộng, xây mới công trình phụ trợ và sử dụng vật liệu mới diễn ra phổ biến. Đô thị hóa cũng làm thay đổi sân, cây xanh, mặt nước và khoảng đệm. Các can thiệp có thể cần cho sử dụng, nhưng cũng có thể làm suy yếu thuộc tính di sản. Bảo tồn vì vậy cần xác định giới hạn thay đổi có thể chấp nhận.

Các nghiên cứu trước đã làm rõ vai trò tôn giáo – xã hội, kiến trúc – không gian, nghệ thuật trang trí và một số vấn đề bảo tồn chùa Khmer [1, 2, 3, 4, 5]. Khoảng trống nằm ở sự thiếu kết nối giữa giá trị, thuộc tính biểu đạt, bằng chứng biến đổi và quyết định can thiệp. Nghiên cứu nhằm nhận diện hệ giá trị, phân tích biến đổi và đề xuất quản lý thay đổi dựa trên giá trị. 

2. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận và khung pháp lý

Bài viết sử dụng bảo tồn dựa trên giá trị làm tiếp cận chính. Burra Charter xác định ý nghĩa văn hóa qua cấu trúc vật chất, bối cảnh, cách sử dụng, các mối liên hệ và ý nghĩa gắn với địa điểm [6]. Mason xem việc nhận diện giá trị và thuộc tính biểu đạt là cơ sở đánh giá tác động và lựa chọn can thiệp [7].

Với di sản đang sử dụng, tiếp cận di sản sống bổ sung vai trò của thực hành, tri thức và cộng đồng [8, 9]. “Thích ứng” trong bài viết là phương diện đánh giá khả năng tiếp tục sử dụng, không phải một nhóm giá trị văn hóa độc lập.

Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 phân biệt bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo di tích; yêu cầu bảo vệ yếu tố gốc cấu thành di tích, phục hồi phải dựa trên cứ liệu khoa học và tôn tạo không được làm ảnh hưởng đến cảnh quan văn hóa [10]. Đây là căn cứ pháp lý khi xem xét can thiệp tại các chùa đã được xếp hạng di tích.

2.2. Đặc trưng của di sản kiến trúc chùa Khmer vùng Tây Nam Bộ

Chùa Khmer là quần thể gồm chánh điện, sala, tăng xá, tháp cốt, cổng và công trình phụ trợ trong khuôn viên có cây xanh, không gian mở; chánh điện giữ vị trí trung tâm nghi lễ và hình thái [1, 3]. Giá trị được tạo nên bởi quan hệ giữa công trình, tổ chức không gian, cảnh quan, trang trí và thực hành tôn giáo – cộng đồng. Vì vậy, biến đổi phải được xem xét ở cấp quần thể, không chỉ qua mức độ nguyên vẹn của chánh điện.

2.3. Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu

Các nghiên cứu trong nước tập trung vào vai trò Phật giáo Nam tông và quan hệ chùa – cộng đồng [2], đặc điểm kiến trúc – không gian [1, 3], cùng nghệ thuật trang trí và biểu tượng [1, 4, 5]. Đây là nền tảng nhận diện đặc trưng và giá trị, nhưng các phương diện giá trị, biến đổi và bảo tồn vẫn thường được xem xét tách biệt.

Ở bình diện khu vực, các nghiên cứu tại Campuchia, Thái Lan và Lào cho thấy tu viện Phật giáo Nam tông biến đổi trong quan hệ với lịch sử sử dụng, tổ chức không gian và thực hành xã hội. Harris và cộng sự phân tích các “Buddhist Terrace” tại Angkor Thom [11]; Sene Na Ayuddhaya và Kirdsiri xây dựng kiểu loại tu viện miền Nam Thái Lan từ cấu trúc kiến trúc và chức năng xã hội [12].

Tại Luang Prabang, Bear, Avieli và Feldman chỉ ra căng thẳng giữa bảo tồn, thực hành tôn giáo và duy tu vật chất [13], trong khi Berliner cho thấy quá trình di sản hóa có thể tái định hình không gian và quan hệ xã hội [14].

Đối chiếu khu vực cho thấy khoảng trống không phải thiếu nghiên cứu về kiến trúc hay di sản sống, mà là thiếu một chuỗi phân tích thống nhất từ giá trị, thuộc tính biểu đạt và bằng chứng biến đổi đến giới hạn can thiệp ở cấp quần thể chùa Khmer TNB.

Nghiên cứu vì vậy kết nối giá trị – biến đổi – bảo tồn, xem sự tiếp tục sử dụng vừa duy trì giá trị vừa tạo nhu cầu thay đổi; trọng tâm chuyển từ mô tả biến đổi sang xác định tác động của biến đổi đối với giá trị di sản.

3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

3.1. Đối tượng, phạm vi và trường hợp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các giá trị và biểu hiện biến đổi của di sản kiến trúc chùa Khmer vùng TNB, tập trung vào tổng thể – không gian, công trình – hình thức kiến trúc, nghệ thuật trang trí, cảnh quan, vật liệu – kỹ thuật và cách thức sử dụng.

Từ 100 chùa được khảo sát, 20 trường hợp được lựa chọn có chủ đích để đánh giá chuyên sâu theo bối cảnh đô thị – nông thôn và địa lý, niên đại, quy mô, tình trạng pháp lý, mức độ can thiệp và vai trò sử dụng. Mẫu bao quát các mức ít can thiệp, can thiệp vừa và can thiệp mạnh/xây mới, nhằm so sánh cấu hình giá trị và dạng biến đổi, không dùng để suy rộng thống kê cho toàn bộ hệ thống chùa Khmer TNB.

3.2. Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu gồm: (1) khảo sát thực địa, đo vẽ, chụp ảnh về bố cục, công trình, hình thức, trang trí, cảnh quan, vật liệu – kỹ thuật và can thiệp; (2) hồ sơ di tích, ảnh cũ, bản vẽ, bia ký và tư liệu lịch sử để đối chiếu trạng thái trước; (3) phỏng vấn sâu khoảng 5-10 người/chùa; (4) khoảng 100 bảng hỏi cộng đồng quanh 20 chùa.

Dữ liệu xã hội chỉ bổ trợ diễn giải giá trị tôn giáo – tinh thần, cộng đồng, bản sắc và ký ức, không thay thế bằng chứng vật chất và không dùng để suy rộng thống kê cho toàn bộ cộng đồng Khmer.

3.3. Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá

Bộ đánh giá gồm 58 tiêu chí thuộc 9 nhóm: lịch sử; kiến trúc; nghệ thuật; cảnh quan; tôn giáo – tinh thần; cộng đồng; kỹ thuật – vật liệu; bản sắc; thích ứng. Tiêu chí được xây dựng từ lý thuyết giá trị di sản, đặc trưng chùa Khmer, khảo sát 100 chùa và thử nghiệm chuyên gia; mỗi tiêu chí gắn với bằng chứng kiểm tra được. Thang năm mức dùng các mốc 1-3-5, điểm 2 và 4 là trung gian. Mỗi chùa có 5 lượt đánh giá độc lập; khi chênh lệch từ một bậc điểm trở lên hoặc làm thay đổi nhận định, hồ sơ bằng chứng được đối chiếu lại.

Điểm nhóm là trung bình các tiêu chí thành phần; điểm chung là trung bình 9 nhóm với trọng số ngang nhau. Điểm số chỉ mô tả mức biểu hiện và hỗ trợ đối chiếu bằng chứng, không dùng xếp hạng chùa hay bù trừ giữa các nhóm giá trị.

3.4. Nguyên tắc ghi nhận biến đổi và xử lý dữ liệu

Biến đổi chỉ được xác định khi có hồ sơ, ảnh, bản vẽ, dấu vết vật chất hoặc thông tin về trạng thái trước để đối chiếu. Thiếu dữ liệu trước – sau, nghiên cứu chỉ ghi nhận hiện trạng hoặc dấu hiệu can thiệp. Dữ liệu định lượng dùng ở mức mô tả; dữ liệu định tính giải thích thuộc tính thay đổi và giá trị bị tác động. 

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Nhận diện các giá trị của di sản kiến trúc chùa Khmer

Kết quả khảo sát 20 chùa cho thấy 9 nhóm giá trị có mức biểu hiện khác nhau; điểm trung bình chung đạt 4,28/5. Điểm tổng hợp chỉ mô tả cấu hình chung, không thay thế việc xem xét từng nhóm giá trị.

Bảng 1. Các nhóm giá trị của di sản kiến trúc chùa Khmer vùng TNB:

(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nghiên cứu)

Tôn giáo – tinh thần có điểm cao nhất (4,43/5), tiếp đến nghệ thuật (4,41/5), lịch sử và cộng đồng (4,37/5), bản sắc (4,36/5), thích ứng (4,35/5) và kiến trúc (4,33/5). Cấu hình này phản ánh sự đồng thời của kiến trúc, nghệ thuật, nghi lễ, ký ức và đời sống cộng đồng.

Kỹ thuật – vật liệu thấp nhất (3,72/5), tiếp đến cảnh quan (4,17/5). Khoảng biến thiên của hai nhóm này lần lượt là 2,87 – 4,50 và 2,80 – 4,97, cho thấy mức độ duy trì vật liệu, kỹ thuật và cảnh quan khác biệt đáng kể giữa các chùa.

Thích ứng đạt 4,35/5, nhưng không được dùng để bù trừ mất mát ở vật liệu – kỹ thuật, cảnh quan hoặc thuộc tính có giá trị khác.

4.2. Những biểu hiện biến đổi của di sản trong bối cảnh đương đại

Khảo sát ghi nhận năm nhóm biến đổi: không gian – công trình; hình thức – trang trí; vật liệu – kỹ thuật; cảnh quan; và cách sử dụng. Mức tác động phụ thuộc vào thuộc tính bị thay đổi, không chỉ quy mô can thiệp.

– Biến đổi không gian – công trình chủ yếu do bổ sung hoặc mở rộng sala, tăng xá, nhà khách, lớp học và hạng mục phục vụ. Ở chùa có quỹ đất hạn chế, công trình mới làm tăng mật độ, thu hẹp sân, khoảng đệm và thay đổi quan hệ với chánh điện; vì vậy vị trí và quy mô xây mới cần được kiểm soát.

– Hình thức kiến trúc – trang trí thay đổi qua sửa chữa và xây mới. Naga, Garuda, Yeak và hoa văn Khmer vẫn được duy trì, nhưng vật liệu, màu sắc và kỹ thuật thể hiện có thể thay đổi. Chùa Chén Kiểu cho thấy vật liệu gốm, sành và mảnh chén vừa tạo đặc trưng nhận diện, vừa đòi hỏi kỹ thuật bảo trì phù hợp.
– Vật liệu – kỹ thuật biến đổi rõ do sử dụng rộng hơn bê tông cốt thép, thép, gạch men, sơn công nghiệp và vật liệu hoàn thiện mới. Các giải pháp này đáp ứng độ bền và tiện nghi, nhưng thay thế trực tiếp cấu kiện, bề mặt hoặc phương thức tạo tác có giá trị có thể làm mất bằng chứng vật chất và kỹ năng truyền thống; điều này phù hợp với điểm kỹ thuật – vật liệu thấp nhất trong chín nhóm.

– Cảnh quan biến đổi do tăng mật độ xây dựng, cứng hóa bề mặt, giảm cây xanh, thu hẹp mặt nước hoặc thay đổi trường nhìn. PituKhosaRangsay có điểm cảnh quan 2,80/5 trong khi kiến trúc và nghệ thuật vẫn cao; Chùa Âng đạt 4,97/5 nhờ duy trì Ao Bà Om, cây xanh lâu năm, ao hồ và khoảng mở. Đối sánh cho thấy chất lượng quần thể không thể suy ra từ riêng công trình chính.

– Cách sử dụng thay đổi theo nhu cầu giáo dục, sinh hoạt cộng đồng, tiếp khách và du lịch. Công năng mới không tự thân làm suy giảm giá trị; tác động phụ thuộc việc duy trì nghi lễ, sức chứa, không gian lễ hội và thuộc tính quan trọng.

Cần phân biệt thay đổi phục vụ sử dụng với thay đổi làm suy yếu quan hệ không gian – cảnh quan hoặc thay thế thuộc tính có giá trị; đánh giá phải dựa trên bằng chứng từng trường hợp.

Hình 1. Một số biểu hiện hiện trạng và can thiệp tại các chùa Khmer khảo sát. (Nguồn: Ảnh khảo sát thực địa của tác giả)

4.3. Những vấn đề đặt ra đối với bảo tồn và duy trì giá trị di sản

Đối chiếu kết quả với bằng chứng hiện trường cho thấy bốn vấn đề ưu tiên đối với tu bổ, xây mới và quản lý chùa Khmer.

– Thứ nhất, thuộc tính vật chất biến đổi rõ hơn trong khi giá trị tôn giáo – tinh thần và cộng đồng vẫn cao. Kỹ thuật – vật liệu đạt 3,72/5, thấp hơn tôn giáo – tinh thần (4,43/5) và cộng đồng (4,37/5), cho thấy nguy cơ mất vật liệu, kỹ năng và phương thức tạo tác truyền thống dù hoạt động tôn giáo – cộng đồng vẫn tiếp tục.

– Thứ hai, biến đổi vật chất không đồng nghĩa với suy giảm toàn bộ hệ giá trị. Một số thay đổi công năng hoặc công trình phụ trợ là cần thiết; quyết định can thiệp phải xác định thuộc tính bị thay đổi, giá trị liên quan và mức ảnh hưởng chấp nhận được.

– Thứ ba, tính toàn vẹn nằm ở quan hệ của toàn quần thể. Trục tiếp cận, sân, khoảng đệm, cây xanh, mặt nước, trường nhìn và quan hệ chánh điện – sala – tăng xá – tháp cốt có thể suy yếu dù công trình chính không bị phá bỏ; hồ sơ thiết kế vì vậy cần đánh giá tác động ở cấp khuôn viên và cảnh quan.

– Thứ tư, tiếp tục sử dụng vừa duy trì giá trị vừa tạo áp lực thay đổi. Giới hạn thay đổi cần xác định trước khi lập phương án, nhất là vị trí xây mới, chiều cao, mật độ, vật liệu và quan hệ với không gian thiêng.

Hình 2. Chuỗi phân tích từ biến đổi thuộc tính đến giá trị bị tác động và yêu cầu bảo tồn. (Nguồn: Tác giả tổng hợp)

5. Thảo luận 

5.1. Biến đổi và yêu cầu duy trì giá trị của di sản sống

Bảo tồn chùa Khmer cần xử lý đồng thời tính liên tục và sự biến đổi. Công trình, vật liệu – kỹ thuật và cảnh quan có thể thay đổi theo thời gian, trong khi nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng tiếp tục duy trì vai trò của chùa. Điều này phù hợp với tiếp cận di sản sống, nơi giá trị được duy trì qua cả cấu trúc vật chất, thực hành, tri thức và cộng đồng [8, 9].

Từ bảo tồn dựa trên giá trị, cần phân biệt thay đổi thuộc tính với suy giảm giá trị. Burra Charter xác định ý nghĩa văn hóa qua cấu trúc vật chất, bối cảnh, cách sử dụng, các mối liên hệ và ý nghĩa gắn với địa điểm [6]. Một giá trị có thể được biểu đạt bởi nhiều thuộc tính và ngược lại; do đó mức thay đổi vật chất tự thân chưa đủ để kết luận mức suy giảm giá trị.

Ở chùa Khmer, kiến trúc, nghệ thuật, cảnh quan, thực hành tôn giáo và đời sống cộng đồng tạo thành hệ liên kết. Bảo tồn không đồng nghĩa giữ nguyên mọi thành phần, mà ưu tiên duy trì các thuộc tính và quan hệ thiết yếu đối với khả năng biểu đạt, truyền tiếp giá trị.

So với các nghiên cứu trong nước thường tách riêng tôn giáo – xã hội, kiến trúc – không gian hoặc trang trí [1, 2, 3, 4, 5], và các nghiên cứu khu vực về lịch sử sử dụng, kiểu loại tu viện hay quan hệ giữa bảo tồn với thực hành tôn giáo [11, 12, 13, 14], nghiên cứu này đặt giá trị, thuộc tính biểu đạt và biến đổi trong cùng một quan hệ phân tích. Đóng góp nằm ở việc chuyển từ nhận diện biến đổi sang xác định ý nghĩa của biến đổi đối với khả năng duy trì giá trị.

5.2. Quản lý sự thay đổi dựa trên giá trị

Bảo tồn chùa Khmer có thể được tiếp cận như quản lý sự thay đổi dựa trên giá trị. Nhận diện ý nghĩa di sản và thuộc tính biểu đạt cần đi trước quyết định quản lý và lựa chọn can thiệp [6, 7]. Với di tích đã xếp hạng, việc lựa chọn bảo quản, tu bổ, phục hồi hay tôn tạo phải tuân thủ Luật Di sản văn hóa 2024, ưu tiên yếu tố gốc và căn cứ khoa học [10].

Phạm vi quản lý cần mở rộng từ từng công trình sang quan hệ không gian – kiến trúc – cảnh quan – sử dụng – cộng đồng. Một công trình phụ trợ dù không tác động trực tiếp chánh điện vẫn có thể làm thay đổi mật độ, trường nhìn, khoảng đệm hoặc luồng nghi lễ.

Mức chấp nhận thay đổi dựa trên tầm quan trọng và độ nhạy của thuộc tính. Không gian thiêng, bố cục cốt lõi, vật liệu – kỹ thuật đặc trưng và cảnh quan nhận diện cần ngưỡng can thiệp chặt hơn; thành phần phục vụ có thể linh hoạt nếu không làm suy yếu quan hệ tổng thể.

Quy trình quản lý gồm: nhận diện giá trị và thuộc tính biểu đạt → xác định độ nhạy → đánh giá tác động trước can thiệp → lựa chọn giải pháp → theo dõi sau can thiệp. Nhờ đó, kết quả đánh giá trở thành căn cứ thiết kế và thẩm định thay vì chỉ mô tả hiện trạng.

Theo dõi sau can thiệp cần cập nhật ảnh, bản vẽ hiện trạng, vật liệu, cảnh quan và công năng để phát hiện sớm xu hướng suy giảm. Với di sản sống, bảo tồn là quá trình điều chỉnh liên tục chứ không kết thúc sau một đợt tu bổ. 

6. Kết luận

Khảo sát cho thấy hệ giá trị di sản kiến trúc chùa Khmer TNB có cấu trúc đa thành phần; các giá trị tôn giáo – tinh thần, nghệ thuật, lịch sử và cộng đồng được duy trì rõ, còn kỹ thuật – vật liệu và cảnh quan nhạy cảm hơn trước biến đổi. Vì vậy, đánh giá cần dựa trên cấu hình giá trị và thuộc tính biểu đạt, không dùng điểm tổng hợp hoặc khả năng thích ứng để bù trừ mất mát ở nhóm khác.

Biến đổi tập trung ở không gian – công trình, hình thức – trang trí, vật liệu – kỹ thuật, cảnh quan và sử dụng. Tác động cần được xác định từ thuộc tính bị thay đổi và giá trị liên quan. Trên cơ sở đó, quản lý sự thay đổi phải nhận diện thuộc tính quan trọng, đánh giá tác động ở cấp quần thể, xác lập giới hạn thay đổi trước can thiệp và theo dõi sau can thiệp. 

Trần Lê Vĩnh Trà – GV Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Xây dựng Miền Tây;
Ngô Thị Kim Dung – GV Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1] Trần Bảo Ngọc. Kiến trúc chùa Khmer – Biểu tượng nghệ thuật và tâm thức Phật giáo. Văn hóa học, 2013. Internet: https://www.vanhoahoc.edu.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/2408-tran-bao-ngoc-kien-truc-chua-khmer-bieu-tuong-nghe-thuat-va-tam-thuc-phat-giao.html (truy cập: tháng 7/2026).
[2] Nguyễn Khắc Cảnh. Văn hóa truyền thống của người Khmer Nam Bộ nhìn từ khía cạnh ngôi chùa. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, tập 14, số 3, tr. 87-92, 2011, doi: 10.32508/stdj.v14i3.2000.
[3] Hứa Sa Ni. Kiến trúc ngôi “Sa-la” trong chùa Khmer. Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai, 2024. Internet: https://hvhnt.dongnai.gov.vn/pages/newsdetail.aspx?CatId=102&NewsId=3885 (truy cập: tháng 7/2026).
[4] Đặng Lê Huệ. Nghệ thuật kiến trúc và trang trí chùa Khmer Nam Bộ (Trường hợp chùa Chantarangsay TP.HCM). Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM, 2017.
[5] Nguyễn Dương Tử. Kiến trúc chùa Khmer qua nghệ thuật trang trí: Nghiên cứu trường hợp chùa Bô Tum Vongsa Som Rông, Sóc Trăng. Kỷ yếu Hội nghị khoa học giảng viên, học viên, sinh viên năm 2024, Tập 3, Trường Đại học Thủ Dầu Một, tr. 897-910, 2024.
[6] Australia ICOMOS. The Burra Charter: The Australia ICOMOS Charter for Places of Cultural Significance 2013. Australia ICOMOS, 2013.
[7] R. Mason. Assessing values in conservation planning: Methodological issues and choices. In M. de la Torre (Ed.), Assessing the Values of Cultural Heritage, Getty Conservation Institute, Los Angeles, pp. 5-30, 2002.
[8] S. Court and G. Wijesuriya. People-Centred Approaches to the Conservation of Cultural Heritage: Living Heritage. ICCROM, Rome, 2015.
[9] H. Stovel, N. Stanley-Price and R. Killick (Eds.). Conservation of Living Religious Heritage. ICCROM, Rome, 2005.
[10] Quốc hội. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024. Hà Nội, 2024.
[11] A. Harris, T. Tin, S. Soeng, H. He, V. Chheng and S. Chhouk. Towards a temporal assessment of Angkor Thom’s Theravada “Buddhist Terrace” archaeology. Asian Archaeology, vol. 6, no. 2, pp. 167-183, 2022, doi: 10.1007/s41826-022-00056-y.
[12] K. Sene Na Ayuddhaya and K. Kirdsiri. Southern Buddhist Monasteries: Typology of Buddhist Monasteries Architectures in Takbai, Narathiwas Province and the Observations on Function and Architectural Configuration in Local Society and Culture Context. Journal of Architectural/Planning Research and Studies (JARS), vol. 15, no. 1, pp. 147-164, 2018, doi: 10.56261/jars.v15i1.156360.
[13] L. Bear, N. Avieli and J. Feldman. UNESCO World Heritage Sites: shared shrines or contested sanctuaries? The case of the Buddhist temples of Luang Prabang, Laos. Journal of Heritage Tourism, vol. 16, no. 1, pp. 1-19, 2021, doi: 10.1080/1743873X.2020.1759609.
[14] D. Berliner. Multiple nostalgias: the fabric of heritage in Luang Prabang (Lao PDR). Journal of the Royal Anthropological Institute, vol. 18, no. 4, pp. 769-786, 2012, doi: 10.1111/j.1467-9655.2012.01791.x.

Có thể bạn cũng quan tâm

Bảo tàng Văn hóa Khmer Trà Vinh

TỪ KHÓA:chùa Khmervăn hóa Khmer
NGUỒN:Tạp chí Xây dựng
Bài trước Window of opportunity
Ad imageAd image

Mới cập nhật

Window of opportunity
News 01/11/2026
Bộ Xây dựng tổ chức Diễn đàn Phát triển bền vững đô thị Việt Nam năm 2026
Sự kiện 01/11/2026
Chứng nhận văn phòng xanh chưa đủ để tạo lợi thế cạnh tranh
Bất động sản 31/10/2026
Bộ Xây dựng: Sớm hoàn thiện Nghị định, Thông tư quy định Luật Kiến trúc
Kinh tế / Pháp luật 31/10/2026
Phát thải carbon và bài toán giá thành thép, nhôm
Vật liệu xây dựng 30/10/2026
HĐND TP.HCM chính thức thông qua Quy hoạch tổng thể thời kỳ 2025 – 2050, tầm nhìn 100 năm
Tin trong nước 30/10/2026
IBST khánh thành công trình “the LEAP” – mô hình nhà lắp ghép phát thải carbon thấp
Tin trong nước 30/10/2026
Hà Nội giải bài toán thiếu nhà tái định cư
Bất động sản 29/10/2026
TP.HCM tái cấu trúc không gian phát triển với tầm nhìn 100 năm
Góc nhìn 29/10/2026
Hà Nội thông qua cơ chế xử lý vi phạm tại 12 dự án của Mường Thanh
Kinh tế / Pháp luật 28/10/2026
- Advertisement -
Ad imageAd image
© 2000-2026 Ashui.com. All Rights Reserved.
Welcome back!

Sign in to your account

Username hoặc Email của bạn
Mật khẩu

Quên mật khẩu?