
Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, cùng các văn bản quy định chi tiết đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
Qua gần 10 năm thực hiện, Luật đã góp phần hình thành các công cụ quản lý tổng hợp về biển, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý tài nguyên, phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, quá trình triển khai Quy hoạch không gian biển quốc gia và nhu cầu phát triển các ngành kinh tế biển mới, nhiều quy định của luật đã bộc lộ hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, cần được sửa đổi, bổ sung.
6 mục tiêu trọng tâm khi sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo
Hồ sơ thẩm định dự án Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo (sửa đổi) vừa được Bộ Tư pháp công bố ngày 3/8/2026. Theo dự thảo tờ trình, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết dự án Luật hướng tới 6 mục tiêu trọng tâm.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, tạo nền tảng pháp lý đồng bộ cho phát triển bền vững kinh tế biển; bảo đảm khai thác, sử dụng hiệu quả, hợp lý và bền vững tài nguyên, không gian biển gắn với bảo vệ, bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái biển, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế về quản lý, sử dụng không gian biển, khu vực biển theo hướng phân bổ hợp lý, công khai, minh bạch, phù hợp với quy hoạch và cơ chế thị trường; xác lập rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của các chủ thể sử dụng khu vực biển; kiểm soát hiệu quả xung đột, chồng lấn trong khai thác, sử dụng biển; nâng cao tính ổn định, an toàn pháp lý cho các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trên biển, hải đảo.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội và đột phá nhằm thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển, hải đảo; khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực từ biển; tạo động lực cho các ngành kinh tế biển mới, các mô hình phát triển đa mục tiêu, hạ tầng biển dùng chung, hạ tầng lưỡng dụng và các hoạt động kinh tế biển có giá trị gia tăng cao.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả bảo vệ, phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường biển và hải đảo; bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái biển, vùng bờ nhạy cảm; kiểm soát xói lở, suy thoái, ô nhiễm; bảo vệ địa hình tự nhiên, cảnh quan, không gian sinh thái và sinh kế ven biển; chuyển trọng tâm quản lý môi trường biển từ xử lý sang chủ động phòng ngừa, kiểm soát rủi ro, giám sát, cảnh báo và ứng phó kịp thời.
Thứ năm, tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển, ứng dụng và làm chủ công nghệ biển, nhất là trong điều tra cơ bản, khai thác biển sâu, quan trắc, giám sát, dự báo, cảnh báo, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường biển; xây dựng, chuẩn hóa, tích hợp, liên thông và khai thác hiệu quả hệ thống thông tin, dữ liệu biển, tạo nền tảng cho quản trị biển hiện đại dựa trên dữ liệu, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Thứ sáu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực biển và hải đảo; liên thông các thủ tục có liên quan; phân quyền, phân cấp, phân định rõ trách nhiệm quản lý gắn với cơ chế phối hợp, điều phối liên ngành, liên vùng và tăng cường kiểm tra, giám sát; phòng ngừa thất thoát, lãng phí nguồn lực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Bổ sung quy định về quản lý, sử dụng không gian biển
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dự thảo luật sửa đổi được xây dựng theo hướng thay thế Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015; kế thừa các quy định còn phù hợp, đồng thời sửa đổi, bổ sung các nội dung mới để đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo trong giai đoạn mới.
Đây là nhóm nội dung mới nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc phân bổ, sử dụng hiệu quả không gian biển, hạn chế mâu thuẫn giữa các ngành, lĩnh vực, địa phương và chủ thể sử dụng biển, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận biển hợp pháp của cộng đồng dân cư, người dân.
Dự thảo Luật gồm 8 chương, 85 điều, trong đó có 1 chương nội dung hoàn toàn mới về quản lý, sử dụng không gian biển.
Cơ quan soạn thảo cho biết nội dung bổ sung bao gồm quy hoạch không gian biển quốc gia; nguyên tắc quản lý, sử dụng không gian biển; giải quyết xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển; nguyên tắc phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển; xây dựng, quản lý đảo nhân tạo, công trình trên biển; quyền tiếp cận của người dân đối với biển; sử dụng chung khu vực biển và sử dụng khu vực biển đa mục đích.
Cơ quan soạn thảo cho rằng đây là cơ sở để thúc đẩy các mô hình phát triển kinh tế biển hiện đại, bền vững, phù hợp với xu hướng chuyển đổi xanh, đồng thời tránh trùng lặp, chồng chéo với các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đã được quy định tại pháp luật chuyên ngành.
Dự thảo bổ sung nhóm quy định về giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển và xác lập, ghi nhận quyền sử dụng khu vực biển. Nội dung bổ sung quy định các hình thức xác lập, ghi nhận quyền sử dụng khu vực biển; các trường hợp thực hiện giao khu vực biển, thuê khu vực biển; trường hợp không phải giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển; căn cứ và trường hợp từ chối giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển; đấu giá quyền sử dụng khu vực biển; thời hạn sử dụng khu vực biển; chế độ tài chính; giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính.
Trong dự thảo cũng bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển. Nội dung bổ sung bao gồm quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển; sử dụng chung khu vực biển; sử dụng khu vực biển đa mục đích.
Bên cạnh đó quy định nguyên tắc chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển; thế chấp quyền sử dụng khu vực biển; chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng khu vực biển giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam; chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng khu vực biển cho nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển mục đích sử dụng khu vực biển; thu hồi quyền sử dụng khu vực biển; bồi thường, hỗ trợ và trách nhiệm khi Nhà nước thu hồi quyền sử dụng khu vực biển.
Đáng chú ý trong dự thảo bổ sung chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế trên biển và hải đảo.
Nội dung tập trung quy định về nguyên tắc, tiêu chí áp dụng ưu đãi, hỗ trợ; đối tượng, dự án, mô hình, hoạt động được ưu tiên xem xét ưu đãi, hỗ trợ; các hình thức ưu đãi, hỗ trợ trực tiếp, hỗ trợ mô hình hoạt động, không gian phát triển mới trên biển;…
Cùng với đó là cơ chế đối với nhà đầu tư chiến lược, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ biển; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; tài chính biển xanh; tạo lập quỹ không gian biển; phối hợp liên ngành và hỗ trợ cộng đồng ven biển, hải đảo.
Dự thảo luật cũng bổ sung quy định về bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ theo hướng cụ thể hơn. Nội dung bổ sung việc bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ; các hoạt động không được phép thực hiện hoặc chỉ được thực hiện có điều kiện trong vùng bờ; khoảng lùi xây dựng trong vùng bờ.
Các quy định này nhằm phòng ngừa suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, xói lở bờ biển, tác động tiêu cực đến hệ sinh thái vùng bờ, đồng thời tạo hành lang pháp lý để quản lý hoạt động xây dựng, đầu tư, khai thác trong khu vực nhạy cảm ven biển…
Tùng Dương

