
Khoảng cách giữa đô thị trên mặt đất và không gian ngầm
Ngày 23/9, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh chủ trì Hội nghị nghe báo cáo hai dự thảo Đề án Định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2035 và Quản trị, khai thác và bảo vệ không gian ngầm.
Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết, phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam đang chuyển dần từ giai đoạn nghiên cứu sang triển khai các đề án, xây dựng dữ liệu dùng chung, trung tâm điều hành và ứng dụng chuyên ngành. Tuy nhiên, kết quả giữa các địa phương chưa đồng đều, dữ liệu còn phân tán và khả năng kết nối giữa quy hoạch, đầu tư, xây dựng với vận hành đô thị còn hạn chế.
Theo Bộ trưởng, đô thị hóa đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng sống. Tuy nhiên, việc phát triển đô thị hiện nay vẫn còn mang tính phân khu, cục bộ; sự đồng bộ về hạ tầng và các tiện ích đô thị chưa cao.
Đáng chú ý, giữa phát triển đô thị thông minh trên mặt đất với khai thác không gian ngầm vẫn tồn tại khoảng cách lớn. Trong khi các ứng dụng số, cơ sở dữ liệu và trung tâm điều hành từng bước được hình thành, hệ thống hạ tầng đô thị, đặc biệt là hạ tầng ngầm, chưa phát triển tương xứng.
Thực trạng này thể hiện khá rõ qua những điểm nghẽn kéo dài của các đô thị lớn như ngập úng và ùn tắc giao thông. Hệ thống đường sắt đô thị, nhất là các tuyến đi ngầm, còn phát triển chậm; trong khi nhu cầu giao thông công cộng khối lượng lớn ngày càng tăng cùng tốc độ đô thị hóa.
Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, không gian ngầm cần được nhìn nhận là một hợp phần không thể tách rời của đô thị thông minh. Đây không chỉ là nơi bố trí hệ thống giao thông như đường sắt đô thị, hầm đường bộ mà còn có thể tích hợp thương mại, dịch vụ, bãi đỗ xe, hạ tầng kỹ thuật và các chức năng liên quan đến an ninh, quốc phòng.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu phát triển đô thị theo không gian đa tầng thay vì chỉ tập trung trên mặt đất. Quy hoạch đô thị thông minh, dữ liệu đô thị và không gian ngầm cần được nghiên cứu đồng bộ ngay từ đầu, hạn chế tình trạng mỗi loại hạ tầng được đầu tư riêng lẻ, thiếu khả năng kết nối sau này.

Theo Cục Phát triển đô thị, dự thảo Đề án Định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành nền tảng về thể chế, kiến trúc, dữ liệu và năng lực quản trị thống nhất, liên thông. Phương thức quản trị đô thị sẽ từng bước chuyển sang quản trị theo mục tiêu, có khả năng phân tích, dự báo, điều phối và đo lường bằng kết quả, tác động.
Tầm nhìn đến năm 2035 hướng tới hình thành hệ sinh thái dữ liệu đô thị liên thông, an toàn và được khai thác hiệu quả. Dữ liệu không đơn thuần phục vụ quản lý mà trở thành một nguồn lực cho quy hoạch, đầu tư, xây dựng, vận hành và phát triển đô thị.
Để thực hiện mục tiêu này, dự thảo xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trong đó tập trung hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và mô hình quản trị; xây dựng dữ liệu đô thị và nền tảng dùng chung; quản lý quy hoạch đô thị thông minh và tổ chức triển khai theo từng giai đoạn.
Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận đô thị thông minh đang chuyển dần từ đầu tư các ứng dụng công nghệ riêng lẻ sang xây dựng năng lực quản trị dựa trên dữ liệu. Khi đó, hiệu quả không nằm ở số lượng hệ thống công nghệ được đầu tư mà ở khả năng sử dụng dữ liệu để nhận diện vấn đề, dự báo và hỗ trợ ra quyết định.
Không gian ngầm cũng cần được đặt trong hệ thống dữ liệu đó. Các thông tin về địa chất, công trình ngầm, mạng lưới hạ tầng kỹ thuật, giao thông, quyền sử dụng và khai thác không gian theo chiều sâu cần được số hóa, chuẩn hóa và tích hợp với dữ liệu quy hoạch trên mặt đất.
Không gian ngầm cần được tính toán từ đầu
Nếu phát triển đô thị thông minh đã có quá trình triển khai tại nhiều địa phương, quản trị không gian ngầm lại là lĩnh vực tương đối mới và còn nhiều khoảng trống cần giải quyết.

Theo ông Tạ Quang Vinh – Cục trưởng Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng, giai đoạn 2010 – 2025, Việt Nam đã hình thành nhiều loại công trình và hạ tầng ngầm như đường sắt đô thị, hầm giao thông, tầng hầm, bãi đỗ xe, tuy nen và hào kỹ thuật.
Tuy nhiên, phần lớn mới được khai thác theo từng công trình, từng ngành hoặc từng khu đất, chủ yếu tập trung ở tầng nông và thiếu liên kết thành một hệ thống hoàn chỉnh. Pháp luật hiện hành chủ yếu điều chỉnh đất đai và công trình xây dựng, trong khi chưa hình thành chế độ pháp lý thống nhất đối với quyền khai thác không gian theo chiều sâu.
Đây là khoảng trống quan trọng bởi khi mật độ đô thị ngày càng lớn, phần không gian dưới mặt đất cũng trở thành một nguồn lực hữu hạn. Một công trình ngầm sau khi hình thành có thể tác động lâu dài đến khả năng bố trí những công trình khác trong tương lai và rất khó thay đổi.
Bởi vậy, dự thảo Đề án Quản trị, khai thác và bảo vệ không gian ngầm không chỉ là xây dựng thêm công trình ngầm, mà hướng tới hình thành một hệ thống quản trị tổng thể đối với nguồn lực đặc biệt này.
Đề án tập trung tháo gỡ 7 nhóm điểm nghẽn cốt lõi, từ nhận thức và cách tiếp cận còn thiên về quản lý công trình đơn lẻ; thể chế và quyền đối với không gian theo chiều sâu chưa đầy đủ; quy hoạch chưa thực sự được tổ chức theo ba chiều, thiếu phân vùng, phân tầng và dự trữ không gian; đến những hạn chế về kinh tế, tài chính, huy động nguồn lực và thị trường quyền khai thác.
Như vậy, vấn đề không chỉ là xác định một tuyến metro hay một bãi đỗ xe sẽ nằm ở đâu, mà xa hơn là phải xác định từng tầng không gian dưới lòng đất được dành cho chức năng nào, khả năng kết nối ra sao, những khu vực nào cần dự trữ cho tương lai và cơ chế nào cho phép khai thác nguồn lực này mà không tạo xung đột giữa các công trình.
Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng đã nhận được 53 văn bản góp ý của các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan và tổ chức liên quan đối với dự thảo đề án. Trong đó, 15 văn bản thống nhất toàn bộ với hồ sơ dự thảo; 38 văn bản cơ bản thống nhất và góp ý hoàn thiện. Các ý kiến chủ yếu tập trung làm rõ nội hàm, tính thống nhất pháp lý, khả năng thực hiện và các điều kiện bảo đảm triển khai.

Góp ý đối với hai đề án, ông Hồ Đức Thắng – Đại biểu Quốc hội chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, phát triển đô thị hiện đại đòi hỏi cách nhìn toàn diện hơn về không gian, không còn giới hạn ở bề mặt mà phải mở rộng xuống lòng đất và lên không trung.
Phát triển đô thị thông minh cần hướng vào thực chất, đồng thời thay đổi cách tiếp cận đối với dữ liệu từ tư duy “xây dựng” sang “sử dụng”, qua đó khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đã được hình thành.
Một vấn đề khác được đặt ra là tính liên kết. Nhiều bài toán đô thị không dừng lại trong địa giới một địa phương, đặc biệt đối với hệ thống giao thông, logistics, lưu vực sông và các mạng lưới hạ tầng quy mô vùng. Điều này đòi hỏi cơ chế quản trị đô thị thông minh cũng như không gian ngầm phải tính đến khả năng kết nối vượt ra ngoài phạm vi hành chính đơn lẻ.
Kết luận Hội nghị, Bộ trưởng Trần Hồng Minh xác định đô thị thông minh và không gian ngầm là hai mặt của cùng một yêu cầu đổi mới quản trị đô thị.
Trong đó, không gian ngầm là phần phức tạp hơn, cần được tính toán sớm bởi một khi công trình đã hình thành, khả năng điều chỉnh, tổ chức lại rất hạn chế.
Bộ trưởng giao Cục Phát triển đô thị tiếp tục tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến của các Bộ, ngành Trung ương, địa phương, doanh nghiệp và chuyên gia đối với dự thảo Đề án Định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia.
Dự thảo cần bảo đảm sự thống nhất giữa quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, phân công và tiến độ; hồ sơ phải cô đọng, xác định rõ sản phẩm, cơ quan chủ trì và nguồn lực, tránh chồng chéo với các chương trình, cơ sở dữ liệu đã có. Đáng chú ý, Bộ trưởng yêu cầu nghiên cứu khả năng mở rộng tầm nhìn của Đề án đến năm 2045 thay vì năm 2035 như dự thảo hiện nay.
Đối với Đề án Quản trị, khai thác và bảo vệ không gian ngầm, Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng được yêu cầu tiếp thu đầy đủ các ý kiến, đồng thời phối hợp với Cục Phát triển đô thị để bảo đảm sự thống nhất giữa hai đề án, đặc biệt về kiến trúc dữ liệu, bản sao số và phân công trách nhiệm.
Khi dữ liệu về công trình trên mặt đất, hạ tầng kỹ thuật, giao thông, địa chất và không gian dưới lòng đất được tích hợp trong cùng một nền tảng, cơ quan quản lý có thể đánh giá tốt hơn các xung đột, mô phỏng phương án phát triển, dự trữ không gian cho hạ tầng tương lai và kiểm soát quá trình đầu tư.
Đây cũng là cơ sở để chuyển từ tư duy xây dựng từng công trình thông minh sang quản trị một đô thị thông minh đa tầng, trong đó mặt đất và lòng đất được quy hoạch, đầu tư và vận hành như một chỉnh thể.
Đức Tú

