
TOD – mô hình phát triển đô thị gắn kết giao thông công cộng là mô hình hoàn toàn mới, chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam, TP.HCM đang là địa phương đi đầu trong việc triển khai mô hình này.
Khi đặt TOD trong vị thế tâm điểm kết nối vùng kinh tế trọng điểm gồm TP.HCM và Đồng Nai, TOD phải tạo lực đẩy liên kết vùng, gắn kết không gian trung tâm với các cực tăng trưởng mới là các đô thị, kiến tạo một chuỗi kinh tế – dịch vụ đa phương thức có sức cạnh tranh hàng đầu châu Á. Đòi hỏi sự hình thành các đô thị nén dọc hành lang giao thông có một hệ sinh thái tiện ích đồng bộ dựa trên sự định hướng của Chính phủ và hợp tác liên ngành chặt chẽ, để mô hình phát huy hết tác động kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng sống cho người dân đô thị.

TSKH.KTS Ngô Viết Nam Sơn – Chủ tịch Ngo Viet Architects & Planners trình bày tham luận, dựa trên kinh nghiệm thực tế, làm rõ các vấn đề tồn đọng đang có trong công tác quy hoạch TOD của TP.HCM, những bài học có tính tham khảo từ các đô thị đi trước, đặc biệt là Thượng Hải, đồng thời đề xuất những định hướng chiến lược để mô hình TOD thực sự là động lực phát triển kinh tế – xã hội của đầu tàu kinh tế và cả nước.
Theo đó, KTS Ngô Viết Nam Sơn nêu quan điểm về việc metro kết nối với sân bay phải tính toán đến nhu cầu thực tế là số lượng người di chuyển đến sân bay bằng metro, chưa kể đến việc các chuyến quốc tế có thì giờ ra sân bay metro đã không còn hoạt động.

Tuyến metro nối đến Cần Giờ đi thẳng vào lõi qua khu dự trữ sinh quyển nếu có mở rộng hoặc làm thêm ga sẽ rất khó, thay vì thế nên tính toán để đi đến khu đô thị và trung tâm mua sắm tại đại đô thị Cần Giờ. Câu chuyện đặt ra là ai sẽ bù lỗ cho những tuyến metro như thế này, nhà nước hay chủ đầu tư?
KTS Ngô Viết Nam Sơn đánh giá cao tuyến metro vành đai (tuyến Metro số 6) dài khoảng 53,8 km đóng vai trò kết nối các khu vực đô thị và nhiều đầu mối giao thông quan trọng.
Hiện nay, TP.HCM ưu tiên triển khai giai đoạn 1 (đoạn Tân Sơn Nhất – Phú Hữu) dài khoảng 22,85 km với vốn đầu tư dự kiến khoảng 3,3 tỷ USD.
Tuyến metro này chỉ cần tổ chức thành vành đai metro và bãi xe liên vùng, điều này không chỉ thu hút được đông đảo người tham gia sử dụng metro mà còn thu được lượng tiền lớn từ các bãi đỗ xe trước khi di chuyển vào metro.

TS. KTS Vũ Việt Anh – Viện trưởng Viện Đào tạo Quốc tế (Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM) chia sẻ về sự dịch chuyển trong kiến trúc, nội thất và lối sống gắn liền với TOD.
Tham luận tập trung vào những thay đổi trong nhu cầu của cư dân đô thị hiện đại: ưu tiên lối sống tối giản, không gian sống linh hoạt có thể chuyển đổi công năng dễ dàng và sử dụng các loại vật liệu nhẹ, thân thiện với môi trường.
Bên cạnh đó, ông Vũ Việt Anh cũng chia sẻ về những bất cập trong quy định hành lang pháp lý an toàn của đường sắt khiến metro khó có thể đi xuyên qua các tòa cao ốc như nước ngoài cũng như việc kết nối từ metro đến các điểm mua sắm, giải trí phải đi “đường vòng” khiến người mua có thể không thích di chuyển bằng metro.
Nhiều quan điểm đa chiều cũng được bàn luận sâu hơn tại phiên thảo luận bàn tròn do PGS. TS. KTS. Lê Thị Hồng Na – Trường Đại học Bách khoa (ĐHQG TP.HCM) điều phối. Đại diện tiêu biểu cho góc nhìn quy hoạch với sự tham gia của TSKH.KTS Ngô Viết Nam Sơn, góc nhìn kiến trúc từ KTS Trần Khánh Trung – chủ tịch TTT Corporation, TS.KTS Vũ Việt Anh, bà Trần Thị Phương Mai – Giám đốc cấp cao CTCP bất động sản Sơn Kim.
Qua đó, nhiều suy nghĩ mở ra những hướng đi cụ thể để các nhà thầu thi công và đơn vị cung ứng nội thất nội địa bắt nhịp được với tiêu chuẩn khắt khe của các đại công trình TOD.

Sau phiên thảo luận, các đại biểu tham dự thống nhất cao với đề xuất 10 chiến lược phát triển metro và hệ sinh thái Đô thị TOD của TSKH. KTS. Ngô Viết Nam Sơn, bao gồm:
1. Hình thành hệ sinh thái TOD bền vững: Đảm bảo nhu cầu sống và làm việc, tiện ích hạ tầng xã hội cho cư dân trong bán kính 15 phút/1.200 m tới các ga. Tạo nhu cầu giao thông TOD gắn với môi trường thân thiện với nhiều tiện ích cho người đi bộ.
2. Quy hoạch tích hợp đa ngành trên nền tảng số hóa: Hợp tác đa ngành trong suốt quá trình Chuẩn bị > Kế hoạch > Quy hoạch > Xây dựng > Quản lý > Vận hành > Điều chỉnh. Thu hút đầu tư từ nhiều nguồn và sự tham gia của toàn xã hội.
3. Liên kết không gian đa tầng TOD với không gian vùng TOD: Kết nối không gian ngầm đa chức năng với không gian ngầm cao ốc. Kết nối các hệ sinh thái TOD với hệ thống hạ tầng giao thông đa phương thức kết nối vùng.
4. Thu hút xã hội hóa cho công tác chỉnh trang và phát triển đô thị theo mô hình TOD: Tạo cơ chế quản lý nguồn thu và phân chia hợp lý lợi ích (chung và riêng) cho các đơn vị và cá nhân có liên quan. Thu hút đầu tư từ nhiều nguồn và sự tham gia của toàn xã hội.
5. Linh hoạt chuyển đổi kịch bản thực hiện trong quá trình chuyển đổi mô hình đô thị từ TAD sang TOD: Giữ vững nguyên tắc hạ tầng đi trước, chuyển đổi linh hoạt từ TAD sang TOD, linh hoạt vận dụng TOD.
6. Hướng đến mục tiêu tạo lập nền công nghiệp Metro quốc gia: Một tiêu chuẩn thống nhất cho tất cả các tuyến metro của đô thị Việt Nam. Chuyển giao công nghệ để tự quản lý, tự sản xuất, tự sữa chữa, tự nâng cấp và xuất khẩu.
7. Nâng cao bản sắc cộng đồng TOD đảm bảo các tuyến metro với cộng đồng TOD có bản sắc đa dạng.
8. Thúc đẩy tư duy đột phá sáng tạo từ những hạn chế: Đổi mới tư duy quản lý công từ “chi tiêu ngân sách” sang “đầu tư công hiệu quả và tạo nguồn thu mới cho ngân sách. Ứng dụng linh hoạt để phát triển các khu đô thị đa dạng theo nguyên lý mô hình TOD.
9. Điều chỉnh quy hoạch và phân kỳ phát triển linh hoạt: Điều chỉnh vị trí nhà ga và hướng tuyến quy hoạch metro và quy hoạch đô thị để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế. Ứng dụng linh hoạt để phát triển các khu đô thị đa dạng cho nhiều đối tượng sử dụng theo nguyên lý TOD.
10. Hình thành tập đoàn phát triển TOD để tăng hiệu suất hợp tác công tư trong nước: Chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn trên nền tảng pháp lý vững chắc, minh bạch. Đảm bảo tiến độ thực hiện các kế hoạch của từng đơn vị trong chuỗi liên kết hợp tác hội nhập quốc gia.
Trung Kiên

