
Sau khi Quy hoạch TP Đà Nẵng thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt theo Quyết định số 773/QĐ-UBND ngày 28/02/2026, Thành phố tiếp tục hoàn thiện Quy hoạch chung đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075. Đồ án đã được Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố thống nhất tại Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 26/8/2026 và được Hội đồng thẩm định Bộ Xây dựng xem xét ngày 08/9/2026.
Với không gian phát triển mở rộng sau hợp nhất, bài toán đặt ra không chỉ là xác lập cấu trúc đô thị đa cực, đa trung tâm, mà còn phải kiểm soát quy mô dân số, bảo đảm đồng bộ hạ tầng, bảo vệ không gian sinh thái và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư.
Phóng viên Tạp chí Xây dựng đã trao đổi với KTS Vũ Quang Hùng – Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, Trưởng BQL Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng, về những vấn đề trọng tâm trong quá trình hoàn thiện đồ án quy hoạch, cấu trúc đô thị, dân số, hạ tầng và nguồn lực.

Theo ông, yêu cầu quan trọng nhất đối với Quy hoạch chung Đà Nẵng lần này là gì?
– Hồ sơ Quy hoạch chung đã có bước tiến rõ so với các bản nghiên cứu trước. Nhiều ý kiến phản biện quan trọng đã được tiếp thu, nhất là định hướng tổ chức không gian đa cực, đa trung tâm; bổ sung hành lang xanh, vùng trữ lũ, khoảng ngắt sinh thái; bổ sung khu thương mại tự do phía Nam; định hướng phát triển đô thị theo giao thông công cộng (TOD); khu đô thị nghiên cứu – đào tạo Tam Kỳ và dịch chuyển một số khu công nghiệp mới ra khỏi các khu vực nhạy cảm ven sông, ven biển.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu hồ sơ tại thời điểm góp ý, tôi thấy nhiều nội dung vẫn dừng ở mức định hướng. Các nội dung này cần chuyển đầy đủ thành cấu trúc pháp lý, bản đồ quản lý, chỉ tiêu kiểm soát, danh mục đồ án và kế hoạch thực hiện.
Quy hoạch chung lần này phải tổ chức lại mô hình phát triển của một Thành phố vùng, có vai trò quốc gia và quốc tế. Sau hợp nhất, Đà Nẵng có biển, đảo, đồng bằng, trung du, miền núi, biên giới; có hệ thống cảng biển, hai sân bay, Khu kinh tế mở Chu Lai, khu thương mại tự do, khu công nghệ cao, trung tâm tài chính quốc tế và các di sản Hội An, Mỹ Sơn. Các lợi thế ấy cần được tổ chức thành một hệ sinh thái phát triển thống nhất, có hạ tầng chung và đầu mối điều phối rõ ràng.
Một vấn đề quan trọng là bảo đảm sự thống nhất giữa các quy hoạch. Quy hoạch chung đang xác lập cấu trúc phát triển mới. Nếu Quy hoạch Thành phố theo Quyết định số 773/QĐ-UBND, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành, danh mục đầu tư công và chương trình phát triển đô thị vẫn vận hành theo các nội dung chưa đồng bộ với cấu trúc ấy thì sẽ phát sinh xung đột khi triển khai.
Điều tôi quan tâm nhất không phải là quy hoạch bổ sung được bao nhiêu khu đô thị hay dự án mới, mà là có tổ chức được một không gian phát triển thống nhất, hiệu quả hay không. Quy hoạch chung phải kết nối các nguồn lực ấy thành một hệ sinh thái phát triển, trong đó mỗi khu vực có chức năng rõ ràng, các hạ tầng chiến lược được tổ chức đồng bộ và các cực kinh tế bổ trợ cho nhau, thay vì cạnh tranh hoặc đầu tư trùng lặp.

Đồ án đề xuất cấu trúc “3 vùng – 3 cực – 2 trục – 4 hành lang”, cần phân vai và kiểm soát phát triển thế nào để mô hình đa cực không dẫn đến đầu tư dàn trải?
– Trước hết phải hiểu đúng rằng đa cực không có nghĩa mọi nơi đều phát triển đô thị, mọi nơi đều có dự án hoặc địa phương nào cũng phải có đủ các trung tâm chức năng.
Tôi cho rằng cần phát triển theo nguyên tắc tập trung có chọn lọc, hay có thể gọi là “nén đa cực”: Tập trung dân cư, việc làm, dịch vụ và nguồn lực vào những cực có lợi thế thực sự, có khả năng đầu tư hạ tầng đồng bộ và tạo sức lan tỏa.
Cực phía Bắc, với hạt nhân là trung tâm Đà Nẵng hiện hữu và mở rộng, cần phát huy các chức năng tài chính quốc tế, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, logistics, cảng Liên Chiểu và khu thương mại tự do.
Cực liên kết Nam Hội An, gồm Duy Xuyên – Thăng Bình – Quế Sơn, cần hình thành không gian phát triển có kiểm soát, kết hợp du lịch, dịch vụ, công nghiệp phù hợp và các chức năng đô thị, đồng thời bảo vệ hành lang sông, vùng trũng và không gian sinh thái – di sản.
Cực phía Nam, với Chu Lai – Tam Kỳ – Núi Thành, cần trở thành động lực phát triển công nghiệp công nghệ cao, logistics, kinh tế hàng không, cảng biển, đào tạo và nghiên cứu ứng dụng.
Phía Tây không nên coi là quỹ đất dự trữ để đô thị hóa đại trà. Đây là không gian giữ vai trò đặc biệt quan trọng về sinh thái, an ninh nguồn nước, phòng chống thiên tai, kinh tế rừng, nông nghiệp và du lịch sinh thái.
Các cực phải được kết nối bằng hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số. Điều quyết định không phải là có bao nhiêu cực, mà là mỗi cực đóng góp gì vào cấu trúc phát triển chung và có đủ điều kiện để phát triển hay không.
Để các cực kết nối hiệu quả, Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) phải được lượng hóa thành cấp TOD, bán kính phục vụ, mật độ, hệ số sử dụng đất, chức năng hỗn hợp, tỷ lệ nhà ở xã hội, không gian đi bộ, xe đạp và dịch vụ công cộng. Nếu TOD chỉ là những điểm ký hiệu quanh nhà ga, mô hình đa cực dễ trở thành phân tán đô thị, tăng phụ thuộc xe cá nhân và tăng chi phí hạ tầng.
Trong điều kiện nhu cầu vốn thực hiện quy hoạch được tính toán sơ bộ lên tới hàng trăm tỷ USD, việc lựa chọn thứ tự ưu tiên càng quan trọng. Đầu tư dàn trải sẽ làm phân tán nguồn lực, kéo dài thời gian hoàn vốn và khiến những khu vực thực sự có động lực phát triển không được đầu tư đủ mạnh.

Quy hoạch Thành phố theo Quyết định số 773/QĐ-UBND xác định dân số đến năm 2030 khoảng 3,1 triệu người, trong khi Quy hoạch chung dự báo đến năm 2050 khoảng 6 triệu người, sức chứa hạ tầng khoảng 8 triệu người. Theo ông, cần cân đối các quy mô này như thế nào để bảo đảm tính khả thi của quy hoạch?
– Tôi cho rằng cần phân biệt rất rõ giữa dự báo dân số phát triển và khả năng dung nạp dài hạn của đô thị.
Theo hồ sơ đưa ra Hội đồng thẩm định, dự báo đến năm 2040 Đà Nẵng có khoảng 5 triệu người, đến năm 2050 khoảng 6 triệu người, trong đó dân số thường trú khoảng 4,9 triệu. Thành phố đồng thời nghiên cứu khả năng dự trữ sức chứa khoảng 8 triệu người.
Dự phòng cho tương lai là cần thiết, nhất là với một đô thị có vai trò vùng và quốc tế. Nhưng dự phòng không đồng nghĩa với đầu tư ngay.
Nếu lấy quy mô 8 triệu người để tính toán và triển khai đồng loạt toàn bộ hạ tầng, từ giao thông, cấp nước, thoát nước đến trường học, bệnh viện và xử lý chất thải, thì chi phí đầu tư, vận hành và bảo trì sẽ rất lớn. Trong khi đó, dân số thực tế có thể tăng nhanh hoặc chậm tùy thuộc vào tăng trưởng kinh tế, việc làm và sức hấp dẫn của đô thị.
Vì vậy, tôi đề xuất quy hoạch cần có các kịch bản phát triển dân số, gắn với khả năng tạo việc làm, thu hút lao động, nhu cầu nhà ở và năng lực cung cấp hạ tầng.
Có thể và cần thiết phải dự trữ đất, bảo vệ các hành lang giao thông, cấp nước, năng lượng và quỹ đất dành cho công trình công cộng để đáp ứng nhu cầu dài hạn. Nhưng việc đầu tư xây dựng phải được phân kỳ, dựa trên nhu cầu thực tế và nguồn lực có thể huy động.
Nói cách khác, quy hoạch có thể dự phòng cho 8 triệu người, nhưng không có nghĩa phải xây dựng ngay một thành phố cho 8 triệu người. Đó là hai bài toán khác nhau.
Quy mô dân số phải là kết quả của một mô hình phát triển có cơ sở khoa học, chứ không nên trở thành mục tiêu để mở rộng không gian đô thị bằng mọi giá.

Với không gian trải rộng từ miền núi đến ven biển, Đà Nẵng cần đặt ra những giới hạn nào để bảo vệ hệ sinh thái, hành lang thoát lũ và di sản, thưa ông?
– Lợi thế đặc biệt của Đà Nẵng sau hợp nhất chính là sự đa dạng của không gian núi – rừng – sông – biển – đảo – di sản. Những yếu tố này không chỉ là tài nguyên cảnh quan mà còn là nền tảng tạo nên bản sắc và sức cạnh tranh lâu dài của Thành phố.
Tôi cho rằng có những không gian cần được xác định rõ là không gian bảo vệ, không phải quỹ đất chờ phát triển. Đó là hành lang thoát lũ, vùng trữ lũ, rừng đầu nguồn, các khu vực sinh thái nhạy cảm và vùng đệm di sản.
Quy hoạch phải thể hiện được các giới hạn đó trên bản đồ, đi kèm quy định kiểm soát cụ thể. Nếu chỉ dừng ở những mảng màu xanh trên bản vẽ mà không xác định được ranh giới, chỉ tiêu và cơ chế quản lý thì rất khó bảo vệ khi triển khai các dự án.
Đối với lấn biển, không nên tuyệt đối hóa theo hướng cấm hoàn toàn hoặc coi đây đơn thuần là giải pháp tạo thêm đất. Mọi đề xuất phải được đánh giá tổng thể về tác động thủy động lực, xói lở, bồi tụ, thoát lũ, đa dạng sinh học và khả năng tiếp cận biển của cộng đồng.
Một đô thị phát triển có chất lượng không được đo bằng diện tích đất xây dựng tăng thêm, mà còn bằng những không gian tự nhiên và giá trị di sản được giữ lại cho các thế hệ sau.
Quyết định số 773/QĐ-UBND đặt ra việc huy động nguồn lực đất đai, tài sản công, gắn khai thác đất với TOD và bảo đảm đồng bộ giữa quy hoạch, kế hoạch đầu tư công, khả năng cân đối nguồn lực. Theo ông, cần cụ thể hóa những yêu cầu này thế nào?
– Thách thức lớn nhất sau khi quy hoạch được phê duyệt không chỉ nằm ở việc thu hút bao nhiêu vốn đầu tư, mà là lựa chọn đúng dự án, đúng địa điểm, đúng thời điểm và tổ chức thực hiện có hiệu quả.
Tôi cho rằng cần xây dựng chương trình thực hiện quy hoạch với thứ tự ưu tiên rõ ràng. Trước hết phải xác định những hạ tầng khung tạo khả năng kết nối và kích hoạt các cực tăng trưởng: giao thông liên vùng, cảng biển, sân bay, đường sắt, logistics, năng lượng, cấp nước và hạ tầng số.
Các không gian động lực như khu thương mại tự do, Khu kinh tế mở Chu Lai, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, các khu công nghiệp và các đô thị chức năng cần được đầu tư theo chuỗi liên kết, không nên triển khai độc lập, thiếu đồng bộ.
Chẳng hạn, không thể phát triển một trung tâm công nghiệp, logistics quy mô lớn nếu chưa giải quyết được kết nối vận tải, điện, nước, xử lý môi trường và nguồn nhân lực. Tương tự, không thể hình thành đô thị mới chỉ bằng việc đầu tư đường giao thông và phân lô đất ở mà thiếu việc làm, trường học, y tế và các dịch vụ thiết yếu.
Với TOD, cần thay đổi cách tiếp cận: không phải cứ bố trí nhà ga rồi tăng mật độ xây dựng xung quanh là có TOD. Phải tổ chức đồng bộ giao thông công cộng với không gian đi bộ, chức năng sử dụng đất, nhà ở, việc làm và dịch vụ. Đồng thời nghiên cứu cơ chế khai thác giá trị đất đai tăng thêm nhờ hạ tầng để tái đầu tư cho giao thông công cộng.
Quan trọng hơn, mỗi dự án chiến lược phải trả lời được bốn câu hỏi: Vì sao phải đầu tư? Tại sao phải làm ở vị trí đó? Nguồn lực ở đâu? Và hiệu quả lan tỏa đối với toàn Thành phố là gì?
Tôi cho rằng chất lượng của một đồ án quy hoạch không chỉ được đánh giá khi phê duyệt, mà phải được chứng minh qua quá trình tổ chức thực hiện. Quy hoạch tốt không phải là quy hoạch dành chỗ cho thật nhiều dự án, mà là quy hoạch giúp thành phố lựa chọn đúng những dự án cần làm, tập trung nguồn lực và tạo ra giá trị phát triển bền vững.
Trân trọng cảm ơn ông!
Xuân Lam (thực hiện)

