
Quy định bộ tiêu chí lựa chọn đô thị di sản văn hóa
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 282/2026/NĐ-CP ngày 14/7/2026 quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định cụ thể về tiêu chí thí điểm mô hình đô thị di sản văn hóa cùng các cơ chế ưu đãi để thúc đẩy bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển kinh tế – xã hội.
Theo Nghị định, địa phương được lựa chọn thí điểm mô hình đô thị di sản văn hóa phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chí về giá trị di sản, công tác quản lý và năng lực bảo tồn.
Trong đó, đô thị phải được hình thành và phát triển gắn với các giá trị di sản văn hóa; giữa đô thị và di sản tồn tại mối quan hệ mật thiết, trong đó giá trị của di sản góp phần tạo nên bản sắc và giá trị của đô thị.
Địa phương phải có ít nhất hai di sản văn hóa vật thể, phi vật thể hoặc di sản tư liệu đã được Việt Nam hoặc UNESCO công nhận, xếp hạng hoặc ghi danh; đồng thời thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ, phát huy giá trị di sản gắn với giáo dục truyền thống, phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế địa phương.
Bên cạnh đó, địa phương phải ban hành và triển khai hiệu quả quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản; bảo tồn yếu tố gốc cấu thành giá trị di sản, không gian văn hóa, cảnh quan, kiến trúc, đồng thời kiểm soát chặt chẽ mật độ xây dựng, tầng cao công trình, hình thức kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật và các hoạt động khai thác dịch vụ trong khu vực di sản theo quy định của pháp luật.
Một tiêu chí quan trọng khác là địa phương phải có kinh nghiệm trong đầu tư, bảo tồn, tôn tạo, quản lý và phát huy giá trị di sản; bảo đảm phát triển bền vững trên các phương diện văn hóa, kinh tế, xã hội và môi trường. Đối với địa phương có di sản thế giới, di sản cần được định giá giá trị kinh tế tổng thể và công bố quốc tế; đồng thời địa phương phải có bảo tàng đạt tiêu chuẩn hạng II trở lên.
Gắn bảo tồn di sản với quy hoạch và phát triển đô thị
Nghị định cũng xác định rõ các tiêu chí đối với mô hình đô thị di sản văn hóa sau khi được lựa chọn thí điểm.
Theo đó, đô thị phải hình thành các quần thể kiến trúc, khu vực cư trú, công trình hoặc không gian lịch sử – văn hóa tiêu biểu phản ánh một hoặc nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật; đồng thời gắn với không gian thực hành di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng.
Các nhóm công trình xây dựng cần bảo đảm tính đồng nhất về kiến trúc và cảnh quan hoặc có giá trị nổi bật về văn hóa, khoa học, lịch sử. Những địa điểm khảo cổ, khu vực trong lòng đất hoặc dưới nước có dấu tích, di vật cũng phải được bảo vệ và phát huy giá trị theo quy định.
Đáng chú ý, cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái và không gian văn hóa liên quan được xác định là thành tố quan trọng cấu thành giá trị của đô thị di sản. Việc bảo tồn được định hướng theo hướng kết nối giữa di sản văn hóa vật thể, phi vật thể với cộng đồng chủ thể, góp phần duy trì tính liên tục của không gian văn hóa.
Nghị định quy định Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định phạm vi, địa bàn thực hiện thí điểm trên cơ sở bảo đảm các tiêu chí quy định. Đồng thời, đô thị di sản văn hóa phải được xác định trong quy hoạch theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Thiết lập cơ chế ưu đãi để phát huy giá trị di sản
Cùng với bộ tiêu chí, Nghị định thiết lập nhiều cơ chế ưu đãi nhằm tạo nguồn lực cho bảo tồn và khai thác giá trị di sản.
Về đất đai, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định bổ sung chỉ tiêu sử dụng đất ngoài chỉ tiêu đã được phân bổ theo quy hoạch sử dụng đất quốc gia đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực di sản văn hóa và công nghiệp văn hóa.
UBND cấp tỉnh, sau khi có ý kiến thống nhất của Hội đồng nhân dân cùng cấp, được quyết định áp dụng cơ chế ưu đãi về đơn giá thuê đất theo từng không gian đặc thù với mức giảm tối đa không quá 50% so với quy định hiện hành.
Chính sách này áp dụng đối với các dự án dịch vụ, du lịch, đối tác công tư và các dự án khai thác kinh tế di sản, phát triển công nghiệp văn hóa, nhưng phải bảo đảm không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành giá trị di tích, cảnh quan văn hóa cũng như phù hợp với quy hoạch, kiến trúc và khả năng đáp ứng của hạ tầng đô thị.
Về tài chính, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định mức thu một số khoản phí dịch vụ tại di tích và các khoản lệ phí ngoài danh mục theo quy định hiện hành. Toàn bộ nguồn thu từ các khoản phí, lệ phí này được để lại cho ngân sách địa phương.
Đối với phí tham quan danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử – văn hóa, bảo tàng và các công trình văn hóa, sau khi trừ chi phí phục vụ hoạt động thu phí theo quy định, phần còn lại được nộp ngân sách nhà nước để đầu tư cho công tác bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn. Qua đó, Nghị định hướng tới hình thành cơ chế tái đầu tư từ chính nguồn lực do di sản tạo ra, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của các đô thị di sản trong tương lai.
Minh Khôi

