By using this site, you agree to the Privacy Policy and Terms of Use.
Accept
Ashui.comAshui.comAshui.com
  • Home
    • Bookmarks
    • English
      • News
      • Projects
      • Products
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
    Tin tức / Sự kiệnĐọc tiếp
    Quảng Trị quy hoạch 8 đô thị, Đồng Hới – Đông Hà giữ vai trò hai cực phát triển
    Báo Xây dựng 05/11/2026
    Bộ Xây dựng tổ chức Diễn đàn Phát triển bền vững đô thị Việt Nam năm 2026
    Báo Xây dựng 01/11/2026
    HĐND TP.HCM chính thức thông qua Quy hoạch tổng thể thời kỳ 2025 – 2050, tầm nhìn 100 năm
    Tuổi Trẻ 30/10/2026
    IBST khánh thành công trình “the LEAP” – mô hình nhà lắp ghép phát thải carbon thấp
    Ashui.com 30/10/2026
    Diễn đàn Thành phố thông minh Việt Nam – ASOCIO 2026 sẽ diễn ra vào tháng 12
    Ashui.com 27/10/2026
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Font ResizerAa
Ashui.comAshui.com
Font ResizerAa
  • Home
  • Tin tức / Sự kiện
  • Chuyên mục
  • Công nghệ
  • Vật liệu / Thiết bị
  • Dự án
  • Tương tác
  • Cộng đồng
  • Home
    • Bookmarks
    • English
    • Ashui Awards
    • Giới thiệu
    • Quảng cáo / PR
    • Liên hệ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin thế giới
    • Sự kiện
  • Chuyên mục
    • Kiến trúc
    • Nội – ngoại thất
    • Quy hoạch đô thị
    • Bất động sản
    • Năng lượng – Môi trường
    • Phong thủy
  • Công nghệ
    • Công nghệ mới
    • Giải pháp
    • Xu hướng
    • Ứng dụng
  • Vật liệu / Thiết bị
    • Vật liệu xây dựng
    • Trang thiết bị
    • Trang trí nội ngoại thất
    • Thị trường
  • Dự án
    • Giới thiệu dự án
    • Tư vấn thiết kế
    • Kinh tế / Pháp luật
  • Tương tác
    • Chuyên đề
    • Góc nhìn
    • Phản biện
    • Đối thoại
    • Q&A
    • Điểm đến
    • Nhìn ra thế giới
  • Cộng đồng
    • Kiến trúc sư
    • Kỹ sư
    • Thiết kế / Sáng tạo
    • Sinh viên
    • Tuyển dụng
    • Ashui Awards Tour
    • CLB Điện ảnh Kiến trúc
    • CLB Kiến trúc Xanh TPHCM
Các kênh mạng xã hội
  • Advertise
© 2000-2025 Ashui.com. All Rights Reserved.
Quy hoạch đô thị

Phương pháp tiếp cận từ dưới lên trong đồ án tái phát triển khu chung cư cũ ở Hà Nội

Kết quả nghiên cứu cho thấy, phương pháp tiếp cận từ dưới lên có kiểm soát không thay thế hệ thống pháp định mà bổ sung một lớp phản hồi có cấu trúc, giúp thông tin từ cư dân, thị trường và chính sách được hấp thụ trở lại kịch bản quy hoạch.

Tạp chí Xây dựng 05/11/2026
31 phút đọc
SHARE
(Ảnh minh họa)

1. Đặt vấn đề

Theo thống kê, Hà Nội có khoảng 1.579 chung cư cũ với phần lớn diện tích căn hộ nhỏ hơn 30 m2. Các chung cư cũ này không thỏa mãn diện tích ở của người dân cũng như các tiêu chuẩn liên quan đến an toàn kết cấu công trình và hạ tầng kỹ thuật.

Năm 2021, thành phố đã ban hành đề án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ với các kế hoạch, tiến độ thực hiện cụ thể. Tuy nhiên, tính đến năm 2023 mới chỉ đạt 1,14% so với kế hoạch [1]. 

Các khu chung cư và tập thể cũ của Hà Nội có đặc điểm đặc thù riêng và cần có mô hình tái thiết đô thị phù hợp hơn là chỉ đơn thuần thay thế chúng bằng các công trình nhà cao tầng [2 – 4]. Việc tái phát triển khu chung cư cũ tại Hà Nội là một bài toán quy hoạch tồn tại mức độ bất định và khả năng xung đột lợi ích cao.

Đồ án quy hoạch đồng thời phải xử lý yêu cầu an toàn công trình, bảo đảm chỗ ở và quyền tài sản của cư dân, cân đối hiệu quả đầu tư, đáp ứng chỉ tiêu hạ tầng và tuân thủ hệ thống quy hoạch cấp trên.

Khi các quyết định chủ yếu được hình thành theo tuyến hành chính-kỹ thuật một chiều, cộng đồng thường chỉ tiếp cận phương án ở giai đoạn lấy ý kiến. Vì vậy, phản hồi xuất hiện muộn, khó truy nguyên về dữ liệu đầu vào và dễ chuyển thành xung đột tại giai đoạn thực hiện.

Các lý thuyết quy hoạch tham gia chỉ ra rằng, mức độ tham gia không nên được đánh giá bằng số cuộc họp mà bằng khả năng tác động thực chất của người dân đến quyết định [5]. Quy hoạch cộng tác tiếp tục nhấn mạnh quá trình tạo lập tri thức chung và giải quyết vấn đề phức hợp thông qua tương tác đa chủ thể [6, 7].

Tuy nhiên, nếu thiếu một quy trình kỹ thuật và vị trí pháp lý rõ ràng, cách tiếp cận từ dưới lên (bottom-up approach) có thể chỉ dừng ở tham vấn hình thức hoặc tạo kỳ vọng vượt quá thẩm quyền của cộng đồng.

Vì vậy, vấn đề nghiên cứu không phải là lựa chọn cách tiếp cận từ trên xuống (top-down approach) hoặc từ dưới lên, mà là thiết kế một cơ chế tiếp cận từ dưới lên có kiểm soát, có khả năng cung cấp dữ liệu và phản hồi cho quy trình pháp định nhưng không làm thay đổi thẩm quyền phê duyệt. 

Đến nay, vấn đề tái phát triển khu chung cư cũ tại Hà Nội theo hướng tiếp cận từ dưới lên cũng thu hút được sự quan tâm của một số học giả. Điển hình như, trong nghiên cứu [1], các tác giả đã thực hiện khảo sát sự mong muốn và sự quan tâm của người dân về các kịch bản cải tạo xây dựng chung cư cũ.

Trong nghiên cứu [8], tác giả tập trung xem xét vai trò của người dân trong quá trình cải tạo chung cư. Trên cơ sở phân tích ở trên, bài viết này tập trung trả lời ba câu hỏi nghiên cứu như sau: (1) Quy trình kỹ thuật của việc tiếp cận từ dưới lên cần những giai đoạn nào? (2) Các hoạt động tham gia được lồng ghép vào quy trình pháp lý ở đâu? (3) Hai quy trình này được phối hợp thế nào trong một mô hình thống nhất, có thể kiểm soát đầu vào, đầu ra và trách nhiệm của từng chủ thể?

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Sơ lược về phương pháp tiếp cận từ dưới lên và khung nghiên cứu

Phương pháp tiếp cận từ dưới lên (bottom-up approach) ở đây được hiểu là cách tổ chức quá trình quy hoạch. Trong đó, thông tin, nhu cầu và phản hồi từ cấp cộng đồng và các chủ thể thực thi được đưa vào từ giai đoạn xác định vấn đề, tiếp tục tham gia hình thành, đánh giá và điều chỉnh phương án. “Có kiểm soát” trong cách tiếp cận này được thể hiện ở 4 giới hạn sau đây:

(1) tuân thủ quy hoạch cấp trên và quy chuẩn; (2) sử dụng dữ liệu có nguồn gốc và phương pháp chuẩn hóa; (3) phân định rõ quyền đề xuất, quyền phản biện và quyền quyết định; và (4) mọi thay đổi sau phê duyệt phải thực hiện theo trình tự điều chỉnh pháp định.  

Điều này sẽ tránh được sự tránh đồng nhất “tiếp cận từ dưới lên” với việc chuyển toàn bộ quyền quyết định cho cộng đồng. Khung lý thuyết trong nghiên cứu này được kế thừa từ nấc thang tham gia của Arnstein [5], quy hoạch cộng tác của Healey [6], và lý tính cộng tác của Innes và Booher [7]. Điểm phát triển của nghiên cứu này là thể chế hóa sự tham gia thành chuỗi dữ liệu – kịch bản – tham vấn – giám sát. Trong đó, phản hồi có thể được truy vết và liên kết với chỉ tiêu quy hoạch, thay vì chỉ tổng hợp thành biên bản ý kiến.

Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng tiếp cận đến khung pháp lý hiện hành, bao gồm Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 [9], đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 144/2025/QH15 [10]; Nghị định số 178/2025/NĐ-CP [11], được sửa đổi bởi Nghị định số 34/2026/NĐ-CP [12]; và Thông tư số 16/2025/TT-BXD [13].

Các văn bản này điều chỉnh hệ thống, căn cứ, nội dung, lấy ý kiến, thẩm định, phê duyệt, công bố và cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị và nông thôn. Đối với cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 và Nghị định số 98/2024/NĐ-CP tạo khung chuyên ngành về kế hoạch cải tạo, lựa chọn chủ đầu tư, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tổ chức thực hiện [14, 15].

Thêm vào đó, cơ chế tham gia và công khai còn được hỗ trợ bởi Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15, đã được sửa đổi năm 2025 [16, 17]. Đối với dữ liệu cư dân và nền tảng số, Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP yêu cầu việc thu thập, xử lý, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu phải có căn cứ, mục đích, phạm vi và biện pháp an toàn phù hợp [18 – 20].

Do vậy, pháp luật hiện hành đã tạo không gian cho công khai, lấy ý kiến, số hóa dữ liệu và điều chỉnh quy hoạch; song phương pháp tiếp cận từ dưới lên vẫn phải được xác định là phương pháp hỗ trợ lập và ra quyết định, không phải một thủ tục thay thế quy trình pháp định.

2.2. Thiết kế nghiên cứu

Để trả lời được các câu hỏi nghiên cứu, bài viết này thực hiện theo trình tự các bước như sau:

– Bước 1: Xác định giai đoạn kỹ thuật, chủ thể, luồng thông tin và điều kiện áp dụng.

– Bước 2: Phân tích văn bản pháp luật theo chức năng để xác định các điểm có thể lồng ghép tham vấn và sản phẩm kỹ thuật.

– Bước 3: Lập ma trận đối sánh giữa các giai đoạn kỹ thuật và công việc pháp lý.

– Bước 4: Tổng hợp mô hình thống nhất và kiểm tra tính nhất quán theo ba tiêu chí: không thay đổi thẩm quyền pháp định, mỗi điểm chèn có sản phẩm kiểm chứng được và có vòng phản hồi sau phê duyệt.

2.3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

2.3.1. Thiết lập quy trình kỹ thuật 5 giai đoạn

Trước tiên, một quy trình kỹ thuật được thiết lập dựa trên 5 giai đoạn liên tiếp nhưng không tuyến tính tuyệt đối (Hình 1).

Hình 1. Quy trình kỹ thuật 5 giai đoạn theo tiếp cận từ dưới lên

Giai đoạn 1 (Khởi tạo) nhằm xác định phạm vi, vấn đề trọng tâm, mục tiêu và cơ chế phối hợp.

Giai đoạn 2 (thu thập và chuẩn hóa dữ liệu) tích hợp dữ liệu pháp lý, không gian, kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời chuẩn hóa đơn vị, thời điểm và nguồn.

Giai đoạn 3 (xây dựng kịch bản) hình thành tập phương án, kiểm tra tương thích, lượng hóa chỉ tiêu và đánh giá khả thi.

Giai đoạn 4 (tham vấn và lựa chọn) công khai các kịch bản, giải thích đánh đổi, ghi nhận phản hồi và hoàn thiện phương án.

Giai đoạn 5 (giám sát và điều chỉnh) theo dõi chỉ báo trong quá trình thực hiện; khi điều kiện thay đổi vượt ngưỡng, kết quả giám sát phản hồi về giai đoạn dữ liệu hoặc xây dựng kịch bản.

Trong quy trình kỹ thuật này, chính quyền xác lập phạm vi, cung cấp dữ liệu pháp lý, điều phối tham vấn và thực hiện thẩm quyền phê duyệt. Tư vấn và chuyên gia thiết kế khảo sát, vận hành, phân tích và lượng hóa. Doanh nghiệp cung cấp dữ liệu chi phí-dòng tiền và kiểm tra khả thi.

Cộng đồng cư dân cung cấp dữ liệu xã hội, phản ánh nhu cầu, tham gia đánh giá và giám sát (Bảng 1). Theo đó, không có chủ thể nào sở hữu toàn bộ chuỗi thông tin. Vì vậy, chất lượng phương án phụ thuộc vào cơ chế trao đổi và kiểm chứng chéo.

Bảng 1. Phân công vai trò các chủ thể theo giai đoạn

2.3.2. Thiết lập vòng phản hồi và cơ chế đồng kiến tạo

Khác với quy trình kết thúc tại quyết định phê duyệt, nghiên cứu này đề xuất duy trì một vòng phản hồi gồm dữ liệu động, kịch bản, tham vấn, triển khai, giám sát và điều chỉnh (Hình 2). Dữ liệu mới không tự động làm thay đổi đồ án quy hoạch, chúng trước hết tạo tín hiệu rà soát.

Chỉ khi tín hiệu được xác minh, ảnh hưởng đến chỉ tiêu hoặc tính khả thi và đáp ứng điều kiện pháp lý, cơ quan có thẩm quyền mới xem xét điều chỉnh. Cấu trúc này vừa bảo đảm tính thích ứng vừa ngăn biến động ngắn hạn gây thay đổi tùy tiện.

Hình 2. Vòng lặp phản hồi khép kín (DI – Chỉ số định lượng mức độ biến động của dữ liệu; DCI- Chỉ số biến động tổng hợp dùng để xác định ngưỡng thích ứng; SIM- Ma trận chỉ báo kịch bản)

Sự tham gia được tổ chức theo hai chiều mà mỗi chủ thể vừa cung cấp đầu vào, vừa nhận lại sản phẩm đã xử lý để xác nhận, phản biện hoặc thực hiện. Cư dân không chỉ trả lời khảo sát mà còn được tiếp cận các kịch bản và hệ quả của từng lựa chọn. Doanh nghiệp không chỉ đề xuất chỉ tiêu mà phải công khai giả định tài chính.

Tư vấn không chỉ lập bản vẽ mà còn phải giải trình cách chuyển dữ liệu thành chỉ tiêu. Chính quyền không chỉ phê duyệt mà còn bảo đảm dữ liệu, quy trình và kết quả tham vấn được lưu vết. Đây là nội dung “đồng kiến tạo có trách nhiệm” mà quyền tham gia luôn đi cùng nghĩa vụ cung cấp thông tin có thể kiểm chứng.

2.3.3. Thiết lập quy trình pháp lý và các điểm chèn theo hướng tiếp cận từ dưới lên

Hình 3. Sáu nhóm công việc pháp lý và các điểm chèn cơ chế tiếp cận từ dưới lên (FAR -Phương pháp phân tích, tổ hợp và sàng lọc kịch bản)

Trên phương diện chức năng, quá trình pháp định của một đồ án quy hoạch chi tiết phục vụ tái phát triển có thể được hệ thống thành sáu nhóm công việc: lập nhiệm vụ, lập phương án, thẩm định, phê duyệt, công bố và triển khai (Hình 3). Cách hệ thống hóa này không tạo thêm thủ tục hành chính mà xác định vị trí cho các sản phẩm tiếp cận theo hướng từ dưới lên trong hồ sơ và quá trình ra quyết định (Bảng 2).

Bảng 2. Ma trận lồng ghép điểm chèn kỹ thuật vào quy trình pháp lý

Trong quy trình này, ở bước lập nhiệm vụ, dữ liệu cộng đồng giúp xác định đúng vấn đề và phạm vi tác động. Khi lập phương án, các kịch bản được kiểm tra đồng thời theo quy chuẩn, lợi ích xã hội và khả năng đầu tư. Khi thẩm định, báo cáo dữ liệu – kịch bản – tham vấn là tài liệu giải trình, không thay thế thành phần hồ sơ bắt buộc.

Ở thời điểm phê duyệt, cơ quan có thẩm quyền quyết định trên cơ sở pháp luật và kết quả thẩm định. Sau phê duyệt, công bố và giám sát tạo điều kiện phát hiện sớm sai lệch. Nếu cần điều chỉnh, thủ tục phải tuân theo pháp luật quy hoạch hiện hành.

2.3.4. Thiết lập điều kiện áp dụng

Mô hình chỉ vận hành khi đồng thời đáp ứng ba nhóm điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều kiện pháp lý yêu cầu xác định quy hoạch kịch bản thích ứng động (Dynamic Adaptive Scenario Planning, DASP) và hướng tiếp cận từ dưới lên (Bottom-up approach) là công cụ hỗ trợ, không làm thay đổi thẩm quyền hay giá trị pháp lý của đồ án.

Thứ hai, điều kiện dữ liệu yêu cầu danh mục biến, nguồn, thời điểm, quyền truy cập, quy tắc chuẩn hóa và biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Thứ ba, điều kiện tổ chức yêu cầu có đầu mối điều phối, lịch tham gia, cơ chế giải trình và nguồn lực duy trì giám sát (Hình 4).

Thiếu một trong ba nhóm, quy trình có thể hợp pháp nhưng hình thức, giàu dữ liệu nhưng thiếu trách nhiệm, hoặc có tổ chức nhưng không đủ căn cứ ra quyết định. 

Hình 4. Điều kiện áp dụng công cụ hỗ trợ quyết định trong tái phát triển khu chung cư cũ

2.3.5. Mô hình tổ chức và phối hợp thống nhất

Nghiên cứu này đề xuất thành lập Ban điều phối theo từng đồ án như một cơ chế phối hợp hành chính-kỹ thuật, không phải cơ quan phê duyệt mới (Hình 5). Thành phần gồm cơ quan quản lý quy hoạch và chính quyền địa phương, đơn vị tư vấn, nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp, đại diện cộng đồng cư dân và chuyên gia độc lập.

Hình 5. Cơ cấu tổ chức và phân vai của Ban điều phối

Cơ quan nhà nước giữ vai trò pháp lý và điều phối, tức đóng vai trò chủ đạo [21]. Tư vấn chịu trách nhiệm về phương pháp. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về dữ liệu đầu tư. Đại diện cư dân chịu trách nhiệm về việc tập hợp và phản hồi nhu cầu. Chuyên gia độc lập kiểm tra tính hợp lệ của quy trình và kết quả. 

Mô hình thống nhất vận hành bằng các “cửa kiểm soát”. Một giai đoạn kỹ thuật chỉ được chuyển sang bước tiếp theo khi đầu ra đã được xác nhận về chất lượng dữ liệu, tuân thủ pháp luật và trách nhiệm của chủ thể.

Ngược lại, khi một quyết định pháp lý cần bổ sung căn cứ, hồ sơ được phản hồi đúng giai đoạn kỹ thuật thay vì được xử lý bằng cách điều chỉnh bản vẽ rời rạc. Quan hệ này tạo ra hai vòng phản hồi: vòng ngắn trong quá trình lập đồ án để sửa dữ liệu và kịch bản; vòng dài sau phê duyệt để theo dõi, rà soát và khởi động thủ tục điều chỉnh khi cần thiết.

Bảng 3. Mô hình phối hợp thống nhất giữa quy trình kỹ thuật và quy trình pháp lý

2.3.6. Bàn luận 

Với các kết quả như trên, nghiên cứu này đã có một số đóng góp cụ thể như sau:

Thứ nhất, chuyển hướng tiếp cận “bottom-up” từ nguyên tắc định tính thành quy trình có sản phẩm và trách nhiệm. Giá trị của việc tham gia không chỉ nằm ở tỷ lệ đồng ý mà còn ở khả năng truy vết nguồn thông tin, cách chuẩn hóa, ảnh hưởng đến chỉ tiêu và lý do tiếp thu hoặc không tiếp thu. Điều này đặc biệt quan trọng tại khu chung cư cũ, nơi “cộng đồng” bao gồm nhiều nhóm lợi ích khác nhau.

Thứ hai, giải quyết quan hệ giữa tính linh hoạt về kỹ thuật và ổn định về pháp lý. Quy trình kỹ thuật có thể lặp lại nhiều lần để học hỏi từ dữ liệu, nhưng sản phẩm pháp lý chỉ thay đổi thông qua thẩm quyền và trình tự được luật định. Vì vậy, “dashboard” hoặc chỉ số cảnh báo không phải là quyết định điều chỉnh quy hoạch; chúng là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền lựa chọn duy trì, yêu cầu giải trình hoặc khởi động rà soát. Ranh giới này giúp mô hình tránh hai cực đoan: quy hoạch cứng, không phản ứng với thực tiễn hoặc quy hoạch biến động tùy tiện theo từng phản hồi ngắn hạn.

Thứ ba, tạo một cơ chế phối hợp khả thi trong điều kiện quản lý hiện hành. Ban điều phối có thể được thiết lập dưới hình thức tổ công tác hoặc cơ chế phối hợp của cơ quan tổ chức lập quy hoạch, không nhất thiết hình thành thiết chế pháp lý mới.

Tuy nhiên, để áp dụng thực tế, cần tiếp tục chuẩn hóa biểu mẫu dữ liệu, quy chế lựa chọn đại diện cư dân, cơ chế xử lý ý kiến thiểu số, tiêu chí độc lập của chuyên gia và chi phí duy trì hệ thống giám sát. Các ngưỡng tham gia, biểu quyết và điều kiện lựa chọn chủ đầu tư phải được xác định theo đúng trường hợp pháp lý cụ thể của dự án, không nên giản lược thành một tỷ lệ đồng thuận chung cho mọi quyết định.

3. Kết luận

Phương pháp tiếp cận từ dưới lên có kiểm soát trong tái phát triển khu chung cư cũ không thay thế quy hoạch từ trên xuống và không chuyển thẩm quyền pháp lý từ cơ quan nhà nước sang cộng đồng. Giá trị của phương pháp tiếp cận này nằm ở việc bổ sung một cấu trúc tham gia xuyên suốt.

Trong đó, cộng đồng, doanh nghiệp, tư vấn và chuyên gia cùng cung cấp và kiểm chứng thông tin. Cơ quan nhà nước điều phối, thẩm định và quyết định theo pháp luật. Quy trình kỹ thuật năm giai đoạn được liên kết với sáu nhóm công việc pháp lý thông qua các điểm chèn, sản phẩm kiểm chứng và cửa kiểm soát, tạo thành mô hình thống nhất từ khởi tạo đến giám sát-điều chỉnh.

Để triển khai theo hướng tiếp cận từ dưới lên được đề xuất ở đây, nghiên cứu này kiến nghị: (1) ban hành hướng dẫn thí điểm lồng ghép báo cáo dữ liệu – kịch bản – tham vấn trong hồ sơ quy hoạch chi tiết khu chung cư cũ; (2) thiết lập Ban điều phối theo từng đồ án; (3) chuẩn hóa nền tảng công bố và phản hồi số gắn với bảo vệ dữ liệu cá nhân; (4) quy định rõ cơ chế giải trình đối với ý kiến không được tiếp thu; và (5) đánh giá mô hình qua một số dự án thí điểm tại Hà Nội trước khi nhân rộng.

Việc áp dụng cần thường xuyên đối chiếu với các sửa đổi pháp luật mới, đặc biệt về thẩm quyền trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, trình tự quy hoạch, nhà ở và dữ liệu.

ThS. Lê Ngọc Hải, TS Trần Xuân Hiếu, TS Lê Minh Khuê – Nhóm chuyên môn Quy hoạch, Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội;
TS Vương Xuân Cần – Trường Đại học Giao thông vận tải

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1] Nguyễn Thị Thúy, Dương Thị Huyền Trang, Đặng Hải Dương. Nghiên cứu sự quan tâm của người dân về kịch bản cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ tại Hà Nội. Tạp chí Xây dựng, số 12, tr. 88-91, 2024.
[2] Nguyễn Tất Thắng. Xây dựng lại nhà chung cư cũ trong nội đô Hà Nội bằng cơ chế, chính sách và giải pháp quy hoạch kiến trúc thích hợp. Nghiên cứu của Viện Kiến trúc Quốc gia. Internet: https://vienkientrucquocgia.gov.vn/xay-dung-lai-nha-chung-cu-cu-trong-noi-do-ha-noi-bang-co-che-chinh-sach-va-giai-phap-quy-hoach-kien-truc-thich-hop/ (truy cập: tháng 8/2026).
[3] Viện Kiến trúc quốc gia. Cải tạo chung cư cũ trong tái thiết đô thị Hà Nội. Internet: https://vienkientrucquocgia.gov.vn/cai-tao-chung-cu-cu-trong-tai-thiet-do-thi-ha-noi/ (truy cập: tháng 8/2026).
[4] Viện Kiến trúc quốc gia. Cải tạo, xây dựng các chung cư cũ ở Hà Nội dưới góc nhìn xã hội. Internet: https://vienkientrucquocgia.gov.vn/cai-tao-xay-dung-cac-chung-cu-cu-o-ha-noi-duoi-goc-nhin-xa-hoi/ (truy cập: tháng 8/2026).
[5] S. R. Arnstein. A ladder of citizen participation. Journal of the American Institute of planners, vol. 35, no. 4, pp. 216-224, 1969.
[6] P. Healey. Collaborative Planning: Shaping Places in Fragmented Societies. Vancouver, Canada: UBC Press, 1997.
[7] J. E. Innes and D. E. Booher. Collaborative rationality as a strategy for working with wicked problems. Landscape and urban planning, vol. 154, pp. 8-10, 2016.
[8] Nguyễn Thị Phương Thúy. Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong các dự án cải tạo chung cư cũ trên địa bàn TP Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, bảo vệ ngày 04/12/2018.
[9] Quốc hội. Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, ngày 26/11/2024.
[10] Quốc hội. Luật số 144/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, ngày 11/12/2025.
[11] Chính phủ. Nghị định số 178/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, ngày 01/7/2025.
[12] Chính phủ. Nghị định số 34/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 178/2025/NĐ-CP, ngày 22/01/2026.
[13] Bộ Xây dựng. Thông tư số 16/2025/TT-BXD quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, ngày 30/6/2025.
[14] Quốc hội. Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, ngày 27/11/2023.
[15] Chính phủ. Nghị định số 98/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư, ngày 25/7/2024.
[16] Quốc hội. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15, ngày 10/11/2022.
[17] Quốc hội. Luật số 97/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, ngày 27/6/2025.
[18] Quốc hội. Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, ngày 30/11/2024.
[19] Quốc hội. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, ngày 26/6/2025.
[20] Chính phủ. Nghị định số 356/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, ngày 31/12/2025.
[21] Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội. Nghiên cứu lập quy hoạch cải tạo chung cư cũ: Nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Internet: https://vqh.hanoi.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=tin-lien-ket/nghien-cuu-lap-quy-hoach-cai-tao-chung-cu-cu-nha-nuoc-dong-vai-tro-chu-dao-1697.html (truy cập: tháng 8/2026).

Có thể bạn cũng quan tâm

Hà Nội đề xuất bãi bỏ quy chế cũ về cải tạo chung cư xuống cấp

Gỡ “nút thắt” lựa chọn nhà đầu tư trong cải tạo chung cư cũ

Hà Nội thông qua loạt ưu đãi cho dự án cải tạo chung cư cũ

Diện mạo các khu chung cư cũ Thành Công, Giảng Võ, Ngọc Khánh

Hà Nội giao quyền cho địa phương cải tạo nhà chung cư

TỪ KHÓA:cải tạo chung cư cũ Hà Nộichung cư cũ Hà Nội
NGUỒN:Tạp chí Xây dựng
Bài trước Quảng Trị quy hoạch 8 đô thị, Đồng Hới – Đông Hà giữ vai trò hai cực phát triển
Ad imageAd image

Mới cập nhật

Quảng Trị quy hoạch 8 đô thị, Đồng Hới – Đông Hà giữ vai trò hai cực phát triển
Tin trong nước 05/11/2026
5 chợ Giáng sinh nổi bật nhất châu Âu năm 2026
Điểm đến 04/11/2026
Tái thiết hồ Hoàn Kiếm và bài toán bảo tồn di sản
Phản biện 04/11/2026
Quản lý và chuyển đổi chức năng quỹ đất dư thừa sau mở đường tại Hà Nội: Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất giải pháp tích hợp
Phản biện 04/11/2026
Dolphin Villa / thiết kế: IDEE Architects
Tư vấn thiết kế 03/11/2026
Điện mặt trời mái nhà: Mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững
Năng lượng - Môi trường 03/11/2026
Đà Nẵng ban hành quy chế quản lý kiến trúc đô thị và khu vực lân cận
Kinh tế / Pháp luật 03/11/2026
TPHCM chốt thời hạn bàn giao mặt bằng dự án hạ tầng trọng điểm
Kinh tế / Pháp luật 02/11/2026
ESG thúc đẩy chiến lược bất động sản giá trị thực tại Nam Long
Bất động sản 02/11/2026
Khu vực châu Âu đang đối mặt với cuộc khủng hoảng nhà ở
Nhìn ra thế giới 02/11/2026
- Advertisement -
Ad imageAd image

Xem thêm

Góc nhìn

Lập quy hoạch chi tiết cải tạo chung cư cũ: Việc không thể chậm trễ!

Ashui.com 11/05/2024
Góc nhìn

Cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ tại Hà Nội: Vướng mắc do đâu?

Ashui.com 11/03/2024
Đối thoại

Cải tạo chung cư cũ tại Hà Nội – chậm do đâu?

Ashui.com 02/10/2023
Tin trong nước

Hà Nội di dời dân khỏi nhà nguy hiểm cấp độ D trong quí 1-2023

Ashui.com 08/02/2023
© 2000-2026 Ashui.com. All Rights Reserved.
Welcome back!

Sign in to your account

Username hoặc Email của bạn
Mật khẩu

Quên mật khẩu?