$txt['colorize_color'] = 'Color';$txt['HPlocation'] = 'Project Honey Pot (all regions)'; // MOD Quick PM $txt['quick_pm'] = 'Quick PM'; $txt['change_quick_pm'] = 'Change to Quick PM'; $txt['change_quick_reply'] = 'Change to Quick Reply'; $txt['send_message'] = 'Send message'; $txt['quick_pm_desc'] = 'With Quick-PM you can write a personal message when viewing a topic without loading a new page. You can still use bulletin board code and smileys as you would in a normal personal message.'; $txt['display_quick_pm'] = 'Enable Quick PM (requires enable Quick Reply)'; // MOD Auto Merge Double Post $txt['permissionname_doublePost'] = 'Allow to do Double Post'; $txt['permissionhelp_doublePost'] = 'By Enabling this will allow them to double post.'; $txt['AutoMergePost_div'] = 'Add text when merging the post'; $txt['AutoMergePost_div_sub'] = 'You can use BBC and $date variable'; $txt['AutoMergePost_time'] = 'Time after which it will allow the bump the topic'; $txt['AutoMergePost_time_sub'] = 'Time 0 to disable the MOD and 9999 for never allow bump'; // Aeva Media extra strings $txt['aeva_gallery'] = isset($txt['aeva_gallery']) ? $txt['aeva_gallery'] : 'Media'; $txt['aeva_home'] = 'Home'; $txt['aeva_unseen'] = 'Unseen'; $txt['aeva_profile_sum'] = 'Summary'; $txt['aeva_view_items'] = 'View items'; $txt['aeva_view_coms'] = 'View comments'; $txt['aeva_view_votes'] = 'View votes'; $txt['aeva_gotolink'] = 'Details'; $txt['aeva_zoom'] = 'Zoom'; $txt['permissiongroup_aeva'] = 'Aeva Media'; $txt['permissiongroup_simple_aeva'] = 'Aeva Media'; $txt['permissionname_aeva_access'] = 'Access Gallery'; $txt['permissionname_aeva_moderate'] = 'Moderate Gallery'; $txt['permissionname_aeva_manage'] = 'Administrate Gallery'; $txt['permissionname_aeva_access_unseen'] = 'Access unseen area'; $txt['permissionname_aeva_search'] = 'Search in Gallery'; $txt['permissionname_aeva_add_user_album'] = 'Add Albums'; $txt['permissionname_aeva_add_playlists'] = 'Add User Playlists'; $txt['permissionname_aeva_auto_approve_albums'] = 'Auto-approve Albums'; $txt['permissionname_aeva_moderate_own_albums'] = 'Moderate own Albums'; $txt['permissionname_aeva_viewprofile'] = 'View anyone\'s Gallery profile'; $txt['cannot_aeva_viewprofile'] = 'You cannot view Gallery profiles'; // End Aeva Media strings $txt['display_facebook_like'] = 'Display Facebook Like icon?'; $txt['display_facebook_like_desc'] = 'Enabling this will Display the Facebook Like Icon within posts.'; $txt['display_facebook_like_all'] = 'Display Facebook Like icon in all posts?'; $txt['display_facebook_like_all_desc'] = 'Enabling this will Display the Facebook Like Icon within all posts. Note Display Facebook Like Icon has to be enabled'; Chào các Kiến Phú Yên!..
Ashui.com/Forum ashui
17/11/2019, 20:32  
27066 bài viết trong 10620 chủ đề bởi 205210 thành viên
Xem các bài viết mới trên diễn đàn.
Xin chào ! Bạn là khách. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký.

Đăng nhập với tên truy cập, mật khẩu và thời gian tự động thoát
VNArchitects.com
Chủ đề quan tâm: Để đăng kư thành viên, xin vui ḷng liên hệ: admin@ashui.com
 
   Trang chủ   Lịch sự kiện Thành viên Tìm kiếm Trợ giúp Đăng nhập Đăng ký  
Trang: [1]   Chuyển xuống
  In ấn  
Tác giả Chủ đề: Chào các Kiến Phú Yên!..  (Đọc 6612 lần)
0 thành viên và 1 khách đang xem chủ đề này.
an.trinh
Ashui-I


Gián tuyến Gián tuyến

Bài: 3


Xem hồ sơ E-mail
« Trả lời #13 vào: 19/11/2008, 11:05 »

Đồng chí Nam Viết nhiều như thế này th́ thời gian đâu mà làm việc - Nhưng rất tâm huyết
Trân trọng cảm ơn
An.trinh
Địa chỉ IP đã được lưu lại
kienPhu
Ashui-I



kiến PhúYên
Gián tuyến Gián tuyến

Bài: 5


Xem hồ sơ E-mail
« Trả lời #12 vào: 28/08/2008, 02:44 »

Ngày 12/8, Thủ tướng Chính phủ đă phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng duyên hải Nam Trung Bộ gồm bốn tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và B́nh Thuận với diện tích tự nhiên 21.432km2. Theo đó, từ nay đến năm 2025, vùng duyên hải Nam Trung Bộ được xây dựng theo hướng kinh tế tổng hợp, là cửa ngơ hướng biển của các tỉnh vùng Tây Nguyên, các tỉnh Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Thái Lan, được cụ thể hoá qua từng giai đoạn với nhiều chính sách khác nhau. Tựu chung là xác định theo hướng tận dụng thế mạnh của mỗi tỉnh gắn liền với phát triển ba vùng văn hóa văn hoá biển, văn hoá đồng bằng, văn hoá bán sơn địa và miền núi. Tỉnh Phú Yên nằm trong khu vực trên, ở vị trí đặc biệt là cửa ngơ phía Bắc tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm – Trung Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên, là đầu mối giao thông quan trọng thúc đẩy việc giao lưu kinh tế, văn hóa, xă hội với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Với vị trí có ư nghĩa về giao lưu vùng và khu vực, Thủ tướng chính phủ quyết định đầu tư nâng cấp cảng Vũng Rô, xây dựng tuyến đường sắt Phú Hiệp – Buôn Ma Thuột phục vụ vận chuyển hàng hóa cho vùng Tây Nguyên và ba nước láng giềng Lào, Campuchia, Thái Lan. Nhân sự kiện này, chúng tôi gửi đến bạn đọc báo bài viết với niềm suy tư ôn cố tri tân về thời Pháp thuộc với những chính sách khai thác thuộc địa trên đất Phú Yên.
Việc du nhập loại h́nh giao thông đường sắt vào Việt Nam thời Pháp thuộc ban đầu chỉ phục vụ cho quyền lợi thực dân là phục vụ công cuộc khai thác, vơ vét bóc lột thuộc địa, nhưng về sau có ư nghĩa tạo ra những cú hích về mặt giao lưu kinh tế, văn hoá, xă hội giữa các vùng miền trong cả nước. Cho đến cuối chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), tổng số chiều dài đường sắt được xây dựng 1.300km, gồm các tuyến Hà Nội – Đồng Đăng, Sài G̣n – Mỹ Tho và Hà Nội – Sài G̣n. Tuyến đường sắt Bắc Nam hoàn thành với tổng chiều dài 906km với 3 đoạn: Hà Nội – Vinh, Đông Hà – Đà Nẵng, Nha Trang – Sài G̣n. Trong quá tŕnh thám sát xây dựng đoạn đường sắt Sài G̣n – Nha Trang, người Pháp cũng có những dự án nghiên cứu về việc nối ray ra vùng Tuy Hoà. Năm 1900, chính quyền Pháp giao cho Đại úy Dunal (Capitaine de Dunal) chịu trách nhiệm nghiên cứu, thăm ḍ việc xây dựng đường sắt ở Phú Yên. Nội dung của dự án như hoạch định về số lượng nhân công từ 500 – 600 nhân công cho một ngày do pḥng Giám binh Sông Cầu chịu trách nhiệm, khảo sát địa h́nh, quy hoạch hướng và các tuyến đường sắt cùng với đó là xây dựng đường sá cầu cống, đồng thời dự án cũng nêu lên lợi ích và tính cần thiết của việc xây dựng đường sắt ở Phú Yên. Dự án quy hoạch, khảo sát trên phân làm ba khu vực: phía nam từ khu vực Đèo Cả đến Tuy Ḥa, phía bắc từ Cù Mông đến phủ Tuy An và vùng trung tâm tỉnh.
Năm 1901, thực dân Pháp nghiên cứu khu vực phía nam chủ yếu đoạn Đèo Cả và dọc bờ tả sông Ba đến M’Drăk (Đắk Lắk), dự tính nối đường sắt từ Ninh Ḥa đến Tuy Ḥa và Tuy Ḥa lên Đắc Lắk, tạo thành tam giác vận chuyển và trao đổi hàng hoá giữa Cao Nguyên, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Tại đây đoàn khảo sát do Trung uư Kerler (Lieutenant Kerler) dẫn đầu nghiên cứu khá kỹ khu vực Củng Sơn (Phú Yên), đoàn mở rộng thám sát lên khu vực Đắc Lắc và Lang Biang. Tiếp đó vào năm 1904, đoàn kỹ sư người Pháp khảo sát khu vực phía bắc tỉnh, họ dự trù trong tương lai con đường sắt nối tỉnh Phú Yên với B́nh Định sẽ đi theo ngă La Hai đến Vân Canh (B́nh Định). Nhưng tất cả những dự án trên dừng lại ở mức thể nghiệm, thăm ḍ chứ chưa được triển khai thực hiện trong thời gian này, nguyên nhân của t́nh trạng này như lời báo cáo của Đại úy Dunal (Capitaine de Dunal) khi tiến hành khảo sát khu vực phía nam: “Đường sắt chạy qua khu vực Đắc Lắc, khu vực người dân tộc thiểu số không thể thực hiện được do những khó khăn đang diễn ra; qua Đèo Cả và bờ biển th́ chúng tôi cử nhân viên khảo sát ở nhiều địa phương và t́nh trạng của những con đường, kết luận là không thể khai thông con đường vượt qua đèo”.
T́nh h́nh trên phù hợp với khả năng tài chính cũng như bản chất của chủ nghĩa thực dân Pháp không muốn đầu tư những cái ǵ tốn kém về kinh phí, công sức. Nếu như người Pháp triển khai dự án nối ray Tuy Hoà với Sài G̣n trong giai đoạn này sẽ giúp cho nhà cầm quyền khai thác được các nguồn lợi lớn không những ở Phú Yên mà bao gồm cả vùng Cao Nguyên. Trong thời kỳ khai thác thuộc địa lần I (1897 – 1914), chính quyền thực dân Pháp mở rộng xuất khẩu các mặt hàng nông thổ sản ở Phú Yên, đặc biệt là xuất khẩu lượng lớn trâu ḅ sang Philippin, mà theo thống kê sở Thương chính vào năm 1908 đạt hơn 4,1 triệu tấn. Số lượng gia súc đáp ứng như cầu khai thác trên tập trung chủ yếu ở các đồn điền lớn như Montpezat, Lyard, Duval, Dombret.. phân bố tập trung chủ yếu ở khu vực phía tây nam tỉnh Phú Yên, nên việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn. Cuối cùng người Pháp lựa chọn giải pháp phát triển hệ thống vận chuyển đường thủy với hai cảng chính yếu là Cù Mông và Vũng Lắm. Thêm vào đó, người Pháp thể hiện ư đồ chính trị trong việc triển khai đường sắt Tuy Ḥa – Đắk Lắk đă được thể hiện trong chính sách biến Phú Yên trở thành địa bàn “Tây tiến”, với những nhiệm vụ hậu thuẫn, bảo vệ những nhà thầu người Âu đầu tư lập đồn điền và khai thác khoáng sản; quản lư việc trao đổi buôn bán giữa người Kinh với người dân tộc thiểu số; b́nh định, thu phục các cuộc nổi dậy của người dân tộc thiểu số. Mặc dù những kế hoạch xây dựng đường sắt không được triển khai, nhưng điều này thể hiện người Pháp đă có những nghiên cứu đến việc thiết lập loại h́nh giao thông hiện đại nhất thời bấy giờ ở Phú Yên từ đầu thế kỷ XX và những dự án nghiên cứu trên là tiền đề định hướng cho việc xây dựng đường sắt vào đầu những năm 30 thế kỷ XX.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ I (1918), tư bản Pháp tiếp tục xây dựng một số tuyến đường sắt mới ở Việt Nam và Đông Dương, nhằm hoàn thành hệ thống đường xuyên Đông Dương để phục vụ cho chương tŕnh khai thác thuộc địa lần thứ hai (1918 – 1939). Các tuyến đường sắt được xây dựng trong thời kỳ này gồm: Tuyến Krôngpha – Đà Lạt dài 43 km; Tân Ấp – Xóm Cục – Banaphao (Lào) dài 59km; Sài G̣n – Lộc Ninh dài 140km và tuyến đường sắt xuyên Việt (Lạng Sơn – Mỹ Tho). Trong đó tuyến đường sắt xuyên Việt được hoàn thiện với hai đoạn bỏ dở là Vinh – Đông Hà và Đà Nẵng – Nha Trang. Đoạn Vinh – Đông Hà khởi công xây dựng vào năm 1922 và hoàn thành năm 1927, dài 299 km với tổng kinh phí 34 triệu frăng. Năm 1931, chính quyền thực dân Pháp khởi công xây dựng đoạn đường sắt xuyên Việt cuối cùng từ Đà Nẵng đi Nha Trang và đến năm 1936 hoàn thành với chiều dài 524km, chi phí hết 38 triệu frăng.
Chính quyền thực dân Pháp phác họa đoạn đường sắt xuyên Việt chạy qua địa phận tỉnh Phú Yên chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu khảo sát của Đại uư Dunal tiến hành từ năm 1900 – 1904 với chiều dài hơn 100km vượt qua hai dăy núi Cù Mông, đèo Cả và nhiều sông, suối (sông Cái, Đà Rằng, Bàn Thạch…). Đến cuối năm 1928, dự án xây dựng đường sắt đi qua địa phận Phú Yên được phê duyệt, đoạn đường sắt ở phía bắc tỉnh Phú Yên thiết kế chạy dọc theo đường liên tỉnh Chí Thạnh – Phước Lănh, men theo sông Cái và thung lũng sông Cô, vượt qua đường hầm Đèo Thị đến Vân Canh (B́nh Định), đoạn đường sắt này dài trên 30km, km 1134 (ga Mục Thịnh) đến Km 1171 (ga Chính Thạnh) chạy qua các ga Mục Thịnh, Phước Lănh, La Hai, Hà Bằng, Phong Niên và Chí Thạnh. Đoạn đường sắt ở vùng trung tâm tỉnh từ Chí Thạnh đến Tuy Ḥa (từ Km 1171 đến Km 1198) được xây dựng dọc theo đường thuộc địa, đi qua các ga và nhà chờ Phú Tân, Mỹ Phú, Ḥa Đa, Chính Nghĩa, Minh Chính và Tuy Ḥa. Đến đoạn đường sắt ở phía nam tỉnh đi qua hai cửa sông lớn Đà Rằng và Đà Nông, đặc biệt phải đi qua dăy núi Đèo Cả, người Pháp đă xây dựng 3 cây cầu bắc qua sông Chùa, Đà Rằng và Bàn Thạch, được thiết kế dùng chung cho đường bộ và đường, đoạn đường sắt chui qua bảy đường hầm tại vùng núi Đại Lănh và một đường hầm dài trên 1km vượt qua dăy núi Đèo Cả. Đến ngày 2-9-1936, tuyến đường sắt Bắc – Nam làm lễ nối ray tại Km 1222 phía nam ga Hảo Sơn. Hoạt động vận chuyển đường sắt qua địa phận Phú Yên chính thức từ ngày 29/9/1936 với lịch tàu Hà Nội – Tuy Hoà và ngày 1/10/1936 chuyến tàu đầu tiên từ Hà Nội đến ga Tuy Ḥa vào lúc 11 giờ 30 phút. Như vậy đoạn đường sắt xuyên Việt qua địa phận tỉnh Phú Yên đi qua 18 ga và nhà chờ gồm: Mục Thịnh (Km 1134), Phước Lănh (Km 1140), Phước Long (halte, Km 1145), La Hai (Km 1155), Hà Bằng (Km 1160), Phong Niên (Km 1166), Chí Thạnh (Km 1171), Phú Tân (Km 1174), Mỹ Phú (1179), Hoà Đa (Km 1184), Chính Nghĩa (halte, Km 1189), Minh Chính (halte, Km1193), Tuy Hoà (Km 1198), Phú Lâm, Đông Mỹ (halte), Phú Hiệp, Thạch Tuấn và Hảo Sơn.
Sau tuyến đường sắt xuyên Việt, người Pháp lập dự án thiết kế tuyến đường hoả xa nối Tuy Hoà với vùng Tây Nguyên, tuyến đường này chạy qua Củng Sơn theo thung lũng sông Ba tới Cheo Reo, rồi theo sông Ea Ayan đi lên Gia Lai, Kon Tum. Dự án cũng dự định nối đường sắt từ Củng Sơn qua Buôn Ma Thuột rồi tới Bù Đốp và Lộc Ninh, tại đây có đường hoả xa qua Thủ Dầu Một đến Sài G̣n. Dự án chỉ mới bước đầu trù liệu, đến năm 1939 chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp đă thôi đầu tư xây dựng. Cũng trong thời kỳ này, tư bản Pháp c̣n xây dựng đoạn đường sắt từ Nhà mày đường Việt Nam (1927) đến Phú Thuận (nay thôn Phú Thuận, Ḥa Mỹ), đoạn đường sắt này phục vụ việc vận chuyển mía về nhà máy.
Việc hoàn thành đoạn đường sắt xuyên Việt đánh dấu bước chuyển biến lớn trong lĩnh vực giao thông nói riêng và lĩnh vực kinh tế - xă hội Phú Yên nói chung trong giai đoạn Pháp thuộc, dịch vụ vận tải đường sắt và đường bộ phát triển, mang lại sự giao lưu kinh tế, văn hoá, xă hội và giáo dục giữa Phú Yên với các vùng miền trong cả nước, từ đây Phú Yên mở rộng gắn kết với các xứ bên ngoài mà trước đây được xem là “một cái pḥng rộng ba bề kín mít”. Ngày nay với cách nh́n mới thông qua việc mô tả, tái hiện lại thời Pháp thuộc với những chính sách mà họ đă triển khai trong suốt thời gian cai trị ở Phú Yên (1887 – 1945) để ngẫm nghĩ về quy hoạch xây dựng Phú Yên nói riêng và khu vực duyên hải Nam Trung Bộ nói chung trong thời đại toàn cầu hóa.
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Chiều chiều mây phủ Đá Bia
Đá Bia mây phủ, uống bia mút mùa
Mút mùa như nẫu uống bia
Nâng lên đặt xuống, cái đầu tưng tưng...
kienPhu
Ashui-I



kiến PhúYên
Gián tuyến Gián tuyến

Bài: 5


Xem hồ sơ E-mail
« Trả lời #11 vào: 15/08/2008, 17:24 »

Chào bạn Saopy!
Bạn có bài viết nào về Phú Yên chưa?
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Chiều chiều mây phủ Đá Bia
Đá Bia mây phủ, uống bia mút mùa
Mút mùa như nẫu uống bia
Nâng lên đặt xuống, cái đầu tưng tưng...
saopy
Ashui-I



Gián tuyến Gián tuyến

Bài: 3


Xem hồ sơ E-mail
« Trả lời #10 vào: 15/08/2008, 17:19 »

Chiều chiều mây phủ Đá Bia
Đá Bia mây phủ, uống bia mút mùa
Mút mùa như nẫu uống bia
Nâng lên đặt xuống, cái đầu tưng tưng...
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Vận đời mang nghiệp với nghề
Tay cầm tiền kiếp, mà không cầm ǵ
Chỉ cầm duyên kiếp nhỏ nhoi
Và cầm một mẩu định tiền con con
kienPhu
Ashui-I



kiến PhúYên
Gián tuyến Gián tuyến

Bài: 5


Xem hồ sơ E-mail
« Trả lời #9 vào: 15/08/2008, 12:20 »

Chào các bạn kiến Phú!
Mong các bạn tham gia diễn đàn Kiến Phú, đông vui, bổ ích!
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Chiều chiều mây phủ Đá Bia
Đá Bia mây phủ, uống bia mút mùa
Mút mùa như nẫu uống bia
Nâng lên đặt xuống, cái đầu tưng tưng...
NamPY
Moderator
Ashui-I
*****


Phú Yên
Gián tuyến Gián tuyến

Bài: 16


Xem hồ sơ Trang chủ E-mail
« Trả lời #8 vào: 10/08/2008, 02:55 »

Tỉnh Phú Yên mới công bố đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 khu phố Điện Biên Phủ (phường 5, Tp.Tuy Ḥa), là khu dân dụng hỗn hợp, có quy mô dân số khoảng 1.000 người, tổng diện tích hơn 7,2ha, trong đó, tỷ lệ đất ở 45,63%; đất công tŕnh công cộng 27,71%; đất cây xanh, công viên, mặt nước 2,76%; đất giao thông 23,91%. Theo quy hoạch, đất ở của các hộ gia đ́nh trong khu dân cư cũ nếu phù hợp với quy hoạch th́ tiếp tục định cư ổn định theo khuôn viên lô đất kế thừa, được phép xây dựng lại, cải tạo; nếu không phù hợp với quy hoạch th́ phải giải tỏa, di dời đi nơi khác đối với những nhà bị giải tỏa 100% hoặc diện tích đất c̣n lại không đảm bảo yêu cầu về cư trú hoặc quy hoạch -kiến trúc.
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Kiến trúc sư, trước hết hăy và phải là nhà Xă hội học! - N@mPY
NamPY
Moderator
Ashui-I
*****


Phú Yên
Gián tuyến Gián tuyến

Bài: 16


Xem hồ sơ Trang chủ E-mail
« Trả lời #7 vào: 10/08/2008, 00:03 »

Phú Yên sôi động các dự án du lịch
     Đất dành cho các khu du lịch ở Phú Yên đang "nóng" với hàng loạt dự án đầu tư lớn của các công ty trong và ngoài nước.
Nằm bên vịnh Cù Mông b́nh lặng và thơ mộng, Băi Tràm Hideaway Resort thuộc xă Xuân Cảnh, huyện Sông Cầu (Phú Yên) được h́nh thành cách đây 2 năm. Theo ông Rody Van Bork, Tổng giám đốc Cty TNHH La Perla-Tashun, Băi Tràm là một trong những địa điểm đẹp và độc đáo nhất được công ty lựa chọn trong hàng loạt cảnh quan dọc biển từ Vũng Tàu đến Huế.
     Nằm trên các đồi cát chập chùng tựa lưng vào dăy núi nhô ra biển, Băi Tràm với bờ biển h́nh ṿng cung, được bao bọc bởi hai ngọn núi đá tạo cho băi tắm sự kín đáo và yên ả tuyệt đối. Tổng mức đầu tư khu du lịch này là 10triệu USD trên diện tích 89,4ha; mục tiêu đến năm 2010 sẽ xây dựng hoàn thành 167 pḥng ở tiêu chuẩn 5 sao, nằm trong tổng thể cơ sở hạ tầng đồng bộ; điều hành, quản lư theo các tiêu chuẩn quốc tế của dự án khu nghỉ mát. Khi hoàn tất xây dựng, Băi Tràm Hideaway Resort sẽ là một tổ hợp gồm nhiều hạng mục công tŕnh (biệt thự bờ biển, biệt thự ven đồi, biệt thự kiểu Pháp, khu giải trí và thể thao, trung tâm hội nghị...). Khi hoàn thành, dự kiến mỗi căn biệt thự từ 75 - 350m2 sẽ có giá từ 350.000 USD/căn trở lên. Đến nay, Băi Tràm Hideaway Resort đă hoàn thành giai đoạn 1 và đưa vào hoạt động thử nghiệm một số pḥng ở chuyên biệt, cao cấp với mức giá cho thuê 500 USD/ngày đêm...
     Theo UBND tỉnh Phú Yên, tiếp sau Băi Tràm Hideaway Resort, hàng loạt dự án du lịch - nghỉ dưỡng cao cấp khác tại tỉnh cũng đang tiến hành các bước thủ tục để tiến hành khởi công. Tại huyện Tuy An và Tp.Tuy Ḥa là khu du lịch liên hợp cao cấp Phú Yên (vốn trên 4,3tỉ USD, diện tích 565ha; đây là dự án có tổng vốn đầu tư về du lịch lớn nhất Việt Nam vào thời điểm này), khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Thành Phố Nhỏ (vốn 550triệu USD, diện tích 300ha), khu nghỉ mát Long Beach (vốn 35triệu USD, diện tích 8ha), khu du lịch sinh thái Sao Việt (vốn 30triệu USD, diện tích 68,4ha), khu du lịch phức hợp Phương Gia Phú (vốn 31triệu USD, diện tích 8ha), khu resort Thuận Thảo (vốn 10,5triệu USD, diện tích 10ha),... Tại huyện Sông Cầu là khu du lịch sinh thái Băi Nồm (vốn 5,6triệu USD, diện tích 30ha), khu nghỉ mát Long Hải (vốn 3triệu USD, diện tích 8,2ha),... Tại hai huyện Phú Ḥa và Đồng Xuân là khu nghỉ mát sinh thái Green Resort (vốn 50triệu USD, diện tích 125ha), khu nghỉ dưỡng suối nước nóng Triêm Đức (vốn 30triệu USD, diện tích 50ha)...
     Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó tổng cục trưởng tổng cục Du lịch, trong năm 2008, Tổng cục sẽ cùng tỉnh Phú Yên rà soát lại các dự án đầu tư du lịch đă đăng kư và tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch với vốn trên 50 tỉ đồng, để giúp tỉnh có điều kiện phát triển du lịch tốt hơn.
     Đất dành cho các dự án du lịch và những vấn đề liên quan sẽ c̣n tiếp tục "nóng" ở Phú Yên, mở ra một vùng du lịch mới mẻ đầy quyến rũ...
                                                                                                                                    (theo Hùng Phiên - Thanhnienonline)
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Kiến trúc sư, trước hết hăy và phải là nhà Xă hội học! - N@mPY
vnArchitects
Bạn là khách
« Trả lời #6 vào: 04/08/2008, 08:25 »

KIẾN TRÚC SƯ - QUYỀN RƠM VẠ ĐÁ
                                                                                 (… trước thềm ĐH Kiến trúc sư VN lần thứ VII)   


Chủ đề này đă tách ra và chuyển sang mục "Tư vấn thiết kế": http://vnarchitects.ashui.com/index.php?topic=1834.0
Địa chỉ IP đã được lưu lại
NamPY
Moderator
Ashui-I
*****


Phú Yên
Gián tuyến Gián tuyến

Bài: 16


Xem hồ sơ Trang chủ E-mail
« Trả lời #5 vào: 03/08/2008, 21:22 »

KIẾN TRÚC SƯ - QUYỀN RƠM VẠ ĐÁ
                                                                                 (… trước thềm ĐH Kiến trúc sư VN lần thứ VII)   

-KTS đánh giá thế nào về t́nh h́nh phát triển kiến trúc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới? Nếu có thể, KTS nói rơ hơn về hai lĩnh vực kiến trúc công tŕnh và quy hoạch đô thị-nông thôn?
-Nh́n chung, vào thời kỳ đổi mới, nếu tạm lấy theo mốc từ 1989 (năm Đại hội Kiến trúc sư Việt Nam lần thứ IV), t́nh h́nh kiến trúc Việt Nam trở nên sôi động, nhộn nhịp hơn. Cùng ḥa nhập xu thế chung đổi mới và mở cửa, vai tṛ, vị thế của giới kiến trúc trong xă hội được nâng cao, tôn vinh, tiếng nói của giới được chú trọng; theo chiều hướng tăng nhịp độ đầu tư phát triển của nền kinh tế cũng tạo nhiều cơ hội hơn cho hoạt động hành nghề sáng tác; do nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư nên thân chủ, bạn hàng của kiến trúc sư cũng đa dạng với nhiều loại tŕnh độ, tính cách; do tăng cường hợp tác quốc tế, đông đảo giới kiến trúc có điều kiện trao đổi, tham quan, học tập nước ngoài và tiến bộ thông tin đa kênh nên nhận thức, kiến thức của kiến trúc sư cũng được mở mang, tŕnh độ nghề được nâng cao hơn; một số công tŕnh kiến trúc đă tạo được giá trị công năng và thẩm mỹ; quy hoạch xây dựng đă là vấn đề rất nhạy cảm trong xă hội; hội Kiến trúc sư Việt Nam với đông đảo thành viên hơn, khẳng định vị thế xă hội…
Tuy nhiên, đó chỉ là bề nổi có tính “phong trào” tự thân. Cái mà giới kiến trúc cũng như xă hội quan tâm, đó phải là kết quả thực sự của t́nh h́nh hoạt động kiến trúc do sự tác động hữu hiệu của một cơ chế quản lư th́ không để lại dấu ấn ǵ cho một lĩnh vực sáng tạo thuộc về “bộ mặt đẳng cấp” và hơn thế, nó c̣n là tài nguyên của quốc gia!
T́nh h́nh hoạt động kiến trúc tốt phải sản sinh ra nền kiến trúc có bản sắc; một vài công tŕnh được đánh giá tốt chưa phải là nền kiến trúc phát triển! Các tác phẩm được trao Giải thưởng Kiến trúc Việt Nam – hai năm xét chọn một lần, càng lúc càng nâng cao chất trí tuệ trong tiêu chí xét thưởng, cố gắng “bó đũa chọn cột cờ” – cũng không thể đại diện cho muôn trùng công tŕnh với những kiểu thức “lai tạp”, hàng loạt các đô thị được nâng loại-cấp không thực chất với chất lượng tiện nghi hiện có và không thể tiêu biểu với đầy rẫy h́nh ảnh đô thị được “quy đồng bộ mặt” và nhuôm nham, muôn vàn khung cảnh làng quê trơ trụi v́ bị đô thị hóa cưỡng bức đang hiện diện trong mọi vùng; một bộ phận kiến trúc sư được đánh giá sáng tạo, một số chủ đầu tư biết hợp tác với kiến trúc sư chân chính cũng không thể thay mặt cho đa số c̣n rất hạn chế tŕnh độ thẩm mỹ kiến trúc.
-Từ 1989 đến nay, môi trường sáng tác của kiến trúc sư, kinh phí đầu tư, tŕnh độ kỹ thuật xây dựng và nhu cầu xây dựng ở nước ta đă có những đổi mới, phát triển tích cực cho công tác thiết kế kiến trúc, nhưng tại sao cho đến nay, năm 2005, chúng ta vẫn chưa có những công tŕnh thật sự tiêu biểu cho kiến trúc Việt Nam những năm đổi mới, chưa có những công tŕnh tương xứng với thực tế đổi mới?
   -Như đă nói trước, tôi hoàn toàn đồng ư với nhận định của câu hỏi, nếu loại bỏ nhóm từ môi trường sáng tác! Môi trường sáng tác hiện nay chưa được đổi mới bản chất, chưa được phát triển tích cực. Đây chính là nguyên nhân bao trùm, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kiến trúc-quy hoạch nước nhà.
-Theo KTS, những nguyên nhân nào ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của kiến trúc Việt Nam trong thời kỳ này?
-Muốn tác phẩm kiến trúc-quy hoạch đô thị có chất lượng, ngoài yếu tố chủ quan của người thiết kế, c̣n cần phải có môi trường sáng tác lành mạnh: công khai nhu cầu tư vấn thiết kế kiến trúc, chức năng sáng tạo kiến trúc hăy để cho kiến trúc sư, chọn lọc tác phẩm qua thi tuyển b́nh đẳng, lựa chọn phương án một cách minh bạch, thẩm duyệt hồ sơ thiết kế nhất quán theo quy chuẩn…; những yêu cầu đó, là nội dung chính của cơ chế. Vậy th́ muốn cơ chế, môi trường sáng tác thông thoáng, lành mạnh, phát huy chất trí tuệ th́ không ǵ khác các nhà quản lư kiến trúc-quy hoạch (nhất là ở địa phương) phải là người có chuyên môn, phải được chuyên nghiệp hóa, phải là công chức tâm huyết, chí công, bất vụ lợi…
-KTS có nhận xét ǵ về nhận định: “Chúng ta có nhiều công tŕnh xây dựng nhưng rất ít tác phẩm kiến trúc”?
-Thật đáng buồn khi mà sau 30 năm có điều kiện để “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, mà phải nhận định như vậy. Nhưng… tôi hoàn toàn tán đồng với nhận định trên về hiện trạng tổng thể nền kiến trúc của ta giai đoạn hiện nay!
Giới nghề nghiệp xây dựng nói chung, thừa biết điều sơ đẳng nhất để phân biệt thế nào là công tŕnh xây dựng, thế nào là tác phẩm kiến trúc. Tưởng không thừa khi nhắc những vấn đề có tính kinh điển của người làm nghề kiến trúc: hai khái niệm kiến trúc và xây dựng, có nội hàm và cũng có ngoại diên. Những yếu tố cấu thành kiến trúc là: công năng sử dụng, kết cấu kỹ thuật và h́nh tượng nghệ thuật; chính yếu tố h́nh tượng nghệ thuật đă làm phân biệt công tŕnh kiến trúc với các loại h́nh công tŕnh khác được con người tạo dựng nên; yếu tố kết cấu kỹ thuật là một phần của khái niệm xây dựng, chỉ là một bộ phận cấu thành nên kiến trúc và là phương tiện để đi đến cái đích kiến trúc.
Lịch sử loài người, khi thoát thai thời “ăn lông, ở lỗ”, để tạo dựng nơi cư trú th́ cũng chỉ bắt đầu bằng phương tiện xây dựng; chỉ đến khi tiến hóa, h́nh thành xă hội, phát triển thượng tằng ư thức th́ kiến trúc mới xuất hiện và càng thăng hoa khi kinh tế-xă hội-khoa học phát triển. Như vậy, “nhiều công tŕnh xây dựng, ít tác phẩm kiến trúc” nghĩa là chúng ta mới chỉ đạt ở mức độ công cụ chứ chưa đến được cái đích thượng tằng.
-V́ sao có t́nh trạng “nhiều công tŕnh xây dựng, ít tác phẩm kiến trúc”?
- Đó là một câu hỏi có nhiều câu trả lời tùy góc độ: môi trường sáng tác, cơ chế quản lư hành nghề kiến trúc, tŕnh độ-bản lĩnh của kiến trúc sư, vai tṛ “nhạc trưởng” trong quản lư kiến trúc-quy hoạch, tầm nh́n của người có thẩm quyền, “quyền lực” của chủ đầu tư, tŕnh độ thẩm mỹ kiến trúc của dân trí...v.v. và v.v. Ngoài những vấn đề trên, ở cụ thể nơi tôi - tỉnh Phú Yên, c̣n một nguyên nhân là do việc sử dụng tham mưu, quản lư về quy hoạch-kiến trúc lại là các kỹ sư (có chuyên môn: máy, xây dựng, thủy lợi, cầu cảng, kinh tế…) c̣n kiến trúc sư th́… hăy “t́m chỗ khác chơi” (!?),  th́ làm sao mà không “nhiều công tŕnh xây dựng, ít tác phẩm kiến trúc” ?! Không hề có một khung chuẩn thẩm mỹ, thiết kế đô thị th́ lâu nay bất cấp, “nhạc trưởng kiến trúc” th́ không có; con đường thẩm định để h́nh thành tác phẩm kiến trúc-quy hoạch, từ phương án sơ bộ trong Báo cáo nghiên cứu khả thi (theo quy định trước khi có luật Xây dựng) đến Thiết kế kỹ thuật-bản vẽ thi công, được tác động hầu hết bởi các cử nhân kinh tế kế hoạch, kỹ sư các chuyên ngành xây dựng khác mà không hề có bóng dáng kiến trúc sư th́ “nhiều công tŕnh xây dựng, ít tác phẩm kiến trúc” là đương nhiên và c̣n may!
-Trách nhiệm của các kiến trúc sư đến đâu, thưa KTS?
-T́nh trạng này, cũng có “vai tṛ” không nhỏ do chính giới kiến trúc gây ra. Một số kiến trúc sư có chức năng quản lư th́ lại lợi dụng địa vị để “đánh quả”; một số khác th́ thờ ơ, cam chịu hoặc được chăng hay chớ, biến ḿnh thành những “thợ vẽ kiến trúc”…
-Theo KTS, các nhà quản lư kiến trúc-quy hoạch có đóng góp và cản trở ǵ trong sáng tác, thiết kế kiến trúc và trong việc thực hiện hóa tác phẩm kiến trúc?
- Đầu tiên, phải đồng thuận với nhau rằng, các nhà quản lư kiến trúc-quy hoạch là các quan chức, công chức có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước chứ không phải là các hội viên một tổ chức chính trị-đoàn thể-nghề nghiệp như hội Kiến trúc sư. Hội Kiến trúc sư không hề và không thể có thẩm quyền quản lư Nhà nước; thực sự, vai tṛ của hội Kiến trúc sư là “quyền rơm, vạ đá” v́ nếu cơ quan Nhà nước không hỏi hoặc không nghe hoặc “nghe giả bộ” nhưng không thực hiện th́ cũng chả biết làm sao (?) nhưng dư luận th́ lại cứ đè “ông hội kiến trúc” ra mà chỉ trích!
Rơ ràng, với quyền hạn, các nhà quản lư có vai tṛ hết sức quan trọng, nếu không nói là “cực kỳ” quan trọng trong việc hoạch định chính sách, cơ chế; ở Trung ương có mức độ vĩ mô, ở địa phương có mức độ vi mô cho sự nghiệp kiến trúc-quy hoạch quốc gia hay vùng lănh thổ. Các nhà quản lư, có thể ở các cương vị khác nhau: các quan chức thủ trưởng cơ quan chuyên môn và chủ lănh thổ hành chính, các công chức chuyên viên tham mưu… với thẩm quyền của ḿnh, nếu công tâm (và có chút tŕnh độ) họ sẽ là những “bà đỡ” cho các tác phẩm kiến trúc đích thực và ngược lại, sẽ là “sát thủ” kiến trúc và làm dấy lên vô số “âm binh” mượn danh kiến trúc. Vai tṛ của các quan chức, công chức quản lư kiến trúc-quy hoạch đô thị vô cùng quan trọng, dù là ở Trung ương hay địa phương với bất cứ khâu, lĩnh vực nào liên quan.   
-Nếu muốn giải quyết những vấn đề đó, th́ giới kiến trúc sư phải làm ǵ?
-Tùy theo vị trí xă hội, trách nhiệm của mỗi vai tṛ mà có những động thái, hành xử phù hợp; song, trước hết giới kiến trúc sư nói chung phải tâm huyết với sự nghiệp kiến trúc-quy hoạch nước nhà, phải luôn trau dồi, nâng cao tŕnh độ nghề, nắm bắt nhịp điệu cuộc sống; từng kiến trúc sư tác giả hành nghề sáng tác phải có bản lĩnh nghề nghiệp, phải có dũng khí chối từ những điều phi lư, thậm chí là những hợp đồng béo bở!
Trước t́nh h́nh “nhiều công tŕnh xây dựng, ít tác phẩm kiến trúc”, phải giải quyết hàng loạt các vấn đề đă nêu: môi trường sáng tác, cơ chế quản lư hành nghề sáng tác kiến trúc, tŕnh độ-bản lĩnh của kiến trúc sư, vai tṛ “nhạc trưởng” trong quản lư kiến trúc-quy hoạch, tầm nh́n của người có thẩm quyền, sử dụng đúng vai tṛ chức năng kiến trúc sư, “quyền lực” của chủ đầu tư, tŕnh độ thẩm mỹ kiến trúc của dân trí,...
-Đối với vai tṛ của hội Kiến trúc sư?
-Hội Kiến trúc sư các cấp phải tăng cường hoạt động, tận dụng theo những điều luật hiện hành để góp sức tham mưu cho chính quyền sở tại các vấn đề liên quan đến sự nghiệp kiến trúc-quy hoạch. Mặt khác, phải có “cơ chế” nào đó để hội Kiến trúc sư có thẩm quyền với việc quản lư hành nghề sáng tác kiến trúc và các vấn đề về kiến trúc-quy hoạch chứ không thể bằng “lời kêu gọi” tâm-đức!
-Môi trường hành nghề hiện nay, theo KTS th́ thế nào là phù hợp?
Hiện tại, luật Xây dựng đă có hiệu lực, dẫu chưa thật hoàn chỉnh; nhưng theo KTS, nếu tuân thủ đúng Luật th́ môi trường sáng tác và hành nghề có những vướng mắc ǵ về mặt quản lư, phê duyệt? Cần phải làm ǵ để có thể tháo gỡ những điều đó? KTS có đề xuất ǵ với đối với công tác quản lư kiến trúc-quy hoạch không?
Luật Xây dựng và các văn bản sau luật (các Nghị định: 209/, 08/, 16/ của Chính phủ; các Thông tư 05/, 09/ của bộ Xây dựng) chưa nêu được định nghĩa và các đặc thù của một công tŕnh kiến trúc khác với các loại h́nh công tŕnh xây dựng cơ bản khác, đồng thời cũng chưa đáp ứng được yêu cầu về môi trường sáng tác cũng như quyền của một chủ thể sáng tạo kiến trúc; do vậy, biện pháp quản lư với những quyền hạn thẩm duyệt quy hoạch-kiến trúc vẫn c̣n những bất cập. Thực tiễn đ̣i hỏi luật lệ Xây dựng cùng với yêu cầu cải cách hành chính theo hướng gọn nhẹ thủ tục nhưng cũng phải tạo ra những cơ sở để bảo đảm tính tổng thể trong môi trường cảnh quan kiến trúc (thiết chế kiến trúc sư trưởng), môi trường hành nghề kiến trúc sư lành mạnh và quyền tác giả được tôn trọng thực sự
Trong các quy định hiện hành liên quan đến chức năng của hội Kiến trúc sư, cũng không ǵ hơn là tăng cường hoạt động tư vấn, phản biện, giám định xă hội…; tuy nhiên, hiệu quả tới đâu là c̣n tùy thuộc rất nhiều vào sự nh́n nhận của các chủ thể quản lư Nhà nước liên quan.
-Những đề xuất của KTS?
-Thứ nhất, phải có chính sách “xă hội hóa” công tác phát triển kiến trúc-quy hoạch, không coi kiến trúc-quy hoạch chỉ là kiến thức riêng, sự nghiệp riêng của giới kiến trúc; nhưng mặt khác, lại phải chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa bộ máy công chức trong khâu quản lư Nhà nước về quy hoạch-kiến trúc.
Thứ hai, hội Kiến trúc sư phải có thẩm quyền với việc quản lư hành nghề sáng tác kiến trúc và các vấn đề về kiến trúc-quy hoạch. Chứ cứ như nhiều năm nay, có quan tâm đến mấy các vấn đề về quy hoạch-đô thị-kiến trúc… th́ giữa hội KTS VN với các cơ quan quản lư nhà nước các cấp, vẫn cứ như:Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
                                                        Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
                                                        Mà từng thu chết, từng thu chết,
                                                        Vẫn giấu trong tâm bóng một người.

                                                                              (Hai sắc hoa tigôn - TTKh)
Thứ ba, h́nh thành hệ thống quản lư kiến trúc-quy hoạch từ Trung ương đến cấp huyện; phải có định chế chỉ bố trí chức danh kiến trúc sư trong bộ máy quản lư quy hoạch-kiến trúc.
-KTS có tin là những đề xuất của ḿnh sẽ được các cơ quan quản lư quan tâm đến không? Làm ǵ để những ư kiến của các kiến trúc sư về các vấn đề quy hoạch-kiến trúc được các cơ quan quản lư quan tâm đến và tham khảo thực hiện?
Phấn đấu cho sự nghiệp nào th́ cũng phải có niềm tin và đôi khi cũng phải làm “Ngu công đào núi” thôi! Hội Kiến trúc sư Phú Yên đă hơn một lần kiên tŕ đề xuất, được chính quyền ghi nhận và thực hiện, như việc từ khi chưa có luật Xây dựng, đă đề xuất mọi công tŕnh kiến trúc ở địa phương, có quy mô từ 2 tỷ đồng trở lên phải bắt buộc thi chọn phương án kiến trúc được quy định trong văn bản pháp quy ở Tỉnh.
Muốn những ư kiến của ḿnh về các vấn đề của kiến trúc được các cơ quan quản lư quan tâm đến và tham khảo thực hiện, các kiến trúc sư phải thực sự theo nhịp cuộc sống, công tâm, kiên tŕ và… học chữ “nhẫn”! Hội Kiến trúc sư Phú Yên rất trách nhiệm với các vấn đề quy hoạch-kiến trúc được tham gia với tư cách tư vấn, phản biện xă hội; nhưng tiếng nói kiến nghị, đề xuất với cơ quan Nhà nước sao c̣n lẻ loi, đơn độc quá?
-Theo KTS th́ có bao nhiêu tỷ lệ kiến trúc sư Việt Nam đang hành nghề sáng tác và quản lư ở nước ta thật sự quan tâm đến sự phát triển của kiến trúc nước nhà? Họ biểu hiện ở những mặt nào?
Không “mỵ dân” mà nên thẳng thắn và rất buồn mà nói rằng, nếu lấy địa phương ḿnh để nhận xét, số kiến trúc sư thực sự quan tâm đến sự nghiệp kiến trúc-quy hoạch là rất ít. Những kiến trúc sư quan tâm thực sự, họ như “nhà xă hội học”, quan tâm đến mọi mặt đời sống kinh tế xă hội địa phương, đương nhiên không thể thiếu vấn đề quy hoạch-kiến trúc, họ luôn t́m cơ hội học tập, trao đổi, tham quan các nơi khác, họ t́m đọc các loại ấn phẩm nghề nghiệp, họ không tự măn với những phương án kiến trúc đă được đầu tư xây dựng, luôn t́m ṭi sáng tạo, họ không đua theo những kiểu cách kiến trúc xa lạ với tập quán truyền thống khu vực, họ diễn giải, thuyết phục chủ đầu tư; họ tận dụng mọi diễn đàn có thể để trao đổi, thuyết tŕnh, đăng tải các vấn đề liên quan kiến trúc-quy hoạch để rộng đường quảng đại dư luận… Tôi đă chứng kiến hai kiến trúc sư khi họ từ chối kư hợp đồng thiết kế hai công tŕnh không nhỏ khi chủ đầu tư nằng nặc yêu cầu họ phải vẽ theo ư.
-Thế số c̣n lại th́ họ quan tâm đến điều ǵ?
Số kiến trúc sư khác, hoặc là lao vào các “phi vụ đánh quả” bất chấp mọi chuyện kiểu “mèo trắng, mèo đen” hoặc là thờ ơ, cam chịu, được chăng hay chớ hoặc dùng “mác” kiến trúc sư để đánh bóng ḿnh và boong chen thăng quan tiến chức…
-Theo KTS, trong thực tế phát triển kiến trúc ở địa phương th́ lư luận kiến trúc có tác dụng hay không đối với sáng tác kiến trúc? Nếu có th́ được biểu hiện ở đâu? Nếu không, theo KTS là v́ sao?
Lư luận kiến trúc ở ta, nó nằm ở đâu, tôi chẳng biết (?!) Khi biết viện Tiêu chuẩn được chuyển đổi chức năng là viện Nghiên cứu kiến trúc, chúng tôi rất mừng và mong rằng, từ đây hệ thống lư luận bài bản, chính thống của nền kiến trúc Việt Nam sẽ là cơ hội “chắp cánh” cho sáng tác và góp phần giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn cuộc sống. Chúng tôi biết, viện Nghiên cứu kiến trúc cũng đă dày công sức, có không ít công tŕnh nghiên cứu… Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu được công bố ở đâu, có góp phần ǵ cho sáng tác hay giải quyết các vấn đề phát sinh không, th́ chẳng biết.
Theo tôi, kết quả nghiên cứu được hệ thống thành lư luận phải được công bố, phải áp dụng vào chương tŕnh giảng dạy, phải đưa vào quy chuẩn, tiêu chuẩn, chí ít th́ cũng được ấn hành rộng răi để những đối tượng có nhu cầu liên quan tham khảo. “Định hướng quy hoạch tổng thể đô thị Việt Nam…” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 10/ ngày 23-01-2002 và “Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam…” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 112/ ngày 03-9-2002, hầu như rất ít người trong giới kiến trúc biết huống chi là các nhà quản lư, huống chi là tuân thủ? Rất nhiều các vấn đề từ thực tiễn cuộc sống đ̣i hỏi: đơn vị ở-tiểu khu, khu đô thị mới-khu tái định cư, nhà liền kề lô phố-nhà chung cư-nhà cao tầng, nhà cho người thu nhập thấp, các xu hướng kiến trúc-mặt tiền nhà liên kề lô phố, quy tŕnh lập đồ án quy hoạch, thiết kế đô thị...v.v. và v.v… nhưng không thấy nhà lư luận ở đâu? Cho dù là về một vấn đề nào đó c̣n nhiều ư kiến, quan điểm th́ cũng cần nên được tập hợp, ấn hành để dư luận xă hội quan tâm tham khảo. Quy chuẩn, tiêu chuẩn rất cần “cấu trúc mềm” để được điều chỉnh bởi hệ thống lư luận gắn bó với thực tiễn. Nhưng quy chuẩn, tiêu chuẩn của ta lại quá cứng nhắc, soạn thảo, ban hành xong th́ đă lạc hậu. Ví dụ, Quy chuẩn Việt Nam (ban hành cách nay khoảng 7-8 năm), Phần 1 về quản lư quy hoạch, quy định mặt tiền nhà liền kề lô phố không được làm lô-gia hoặc pḥng mà chỉ được phép làm ban-công; nhưng thực tế ở nhiều đô thị hiện nay, mặt tiền các loại nhà này được chủ nhà yêu cầu thiết kế lô-gia hoặc pḥng đă tạo ra những không gian thích dụng, sinh động và hài ḥa với tổng thể các nhà liền kề; nhưng rơ ràng là vi phạm quy chuẩn, mà nếu theo quy chuẩn th́ mặt phố có loại nhà c̣n chiếm lĩnh không gian đô thị trong nhiều năm nữa, sẽ rất đơn điệu, vô cảm như lâu nay.
Đây đó, lúc này lúc khác, nơi này nơi kia tổ chức hội thảo kiến trúc-quy hoạch với những chủ đề không kém hấp dẫn và rồi bài tham luận, thông tin, kết quả, … của hội thảo, không biết cất ở đâu, để làm ǵ? Phải ghi nhận những kỷ yếu hội thảo do hội Kiến trúc sư Việt Nam được tập hợp đầy đủ, ấn phẩm đẹp, gửi đến các Hội cơ sở; nhưng mong rằng, nó c̣n đến được cả những người quan tâm trong xă hội.
-Theo KTS th́ hiện tại ở Việt Nam có lư luận kiến trúc hay không? Nếu có th́ đang ở mức độ nào, v́ sao vậy?
Theo tôi, bất cứ một lĩnh vực ǵ cũng tự thân khách quan nó có nhu cầu h́nh thành lư luận, phê b́nh. Chỉ có điều, lư luận ấy là lẻ tẻ, manh mún hay tập trung, hệ thống. Kiến trúc là lĩnh vực sáng tạo, là thượng tằng ư thức của nhân loại càng có và càng cần thiết lư luận. Kiến trúc Việt Nam ta, dù ít, nhiều, dù tập hợp hay tản mạn cũng đă có, đang có và cần thiết phải có. Tuy nhiên, hiện nay nó là số cộng giản đơn của các quan điểm khác nhau, rời rạc trên các ấn phẩm hoặc tại các hội thảo nào đó. V́ sao vậy? Môi trường sáng tác lành mạnh th́ rất cần đến hệ thống lư luận, phê b́nh và ngược lại. Bản thân người thiết kế trong môi trường thực dụng th́ chẳng cần đến lư lẽ dài ḍng, làm sao cho có hợp đồng, vẽ theo ư thân chủ, mau chóng giao sản phẩm và nhanh chóng thanh toán là đủ. “Mỳ chén liền” th́ cần ǵ lư luận !
-Liệu trong 10 năm đến, tương quan: lư luận-sáng tác kiến trúc sẽ là tích cực hay tiêu cực?
Xă hội sẽ phát triển theo hướng tích cực, dù chậm. Nếu có sự tác động tích cực của chúng ta th́ kết quả sẽ đến mau hơn. Lư luận, phê b́nh và sáng tác trong kiến trúc cũng sẽ như vậy
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Kiến trúc sư, trước hết hăy và phải là nhà Xă hội học! - N@mPY
NamPY
Moderator
Ashui-I
*****


Phú Yên
Gián tuyến Gián tuyến

Bài: 16


Xem hồ sơ Trang chủ E-mail
« Trả lời #4 vào: 03/08/2008, 21:10 »

Phú Yên đột phá thu hút đầu tư
Phú Yên bước lên vị trí số một của khu vực miền Trung và xếp thứ hai trong cả nước (sau TP.HCM) về thu hút đầu tư nước ngoài đă thực sự gây bất ngờ.
Lợi thế
Nằm trong khu vực Duyên hải miền Trung và tiếp giáp Tây Nguyên về phía Tây, Phú Yên có tác động trực tiếp đến sự phát triển của các tỉnh thuộc lưu vực sông Ba. QL1A và đường sắt Bắc - Nam chạy xuyên suốt chiều dài tỉnh; QL25 và ĐT645 nối liền Phú Yên với các tỉnh Tây Nguyên. Phía Nam có cảng biển Vũng Rô gần kề về phía Bắc khu kinh tế (KKT) Vân Phong và cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong của Khánh Hoà. Sân bay Tuy Hoà có khả năng đón nhận được các loại máy bay hiện đại. Phía Bắc tiếp giáp với hệ thống cảng biển và KKT Nhơn Hội của B́nh Định. Qua nhiều cuộc khảo sát đều đi đến kết luận: Phú Yên là tỉnh có vị trí thuận lợi nhất cho việc mở tuyến đường sắt Đông - Tây nối liền với Tây Nguyên đến Campuchia, Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan. Các tuyến giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây, cảng biển, sân bay, và sự tiếp giáp với các KKT trọng điểm trong khu vực có tác động lớn đến quá tŕnh phát triển kinh tế - xă hội; tạo điều kiện thuận lợi cho quá tŕnh hợp tác giữa Phú Yên với các tỉnh trong vùng, cả nước và quốc tế. Đồng thời đây là yếu tố đặc biệt quan trọng để khai thác một cách hiệu quả nhất tiềm năng lợi thế của từng địa phương, tạo ra sức mạnh thúc đẩy sự phát triển.
Để đánh thức tiềm năng địa phương, tận dụng tiềm năng của các tỉnh trong khu vực tạo ra lợi thế và sức mạnh tổng hợp để thu hút đầu tư, đẩy nhanh tốc độ phát triển, Phú Yên đă kư kết và tổ chức thực hiện các chương tŕnh hợp tác phát triển kinh tế - xă hội với các tỉnh lân cận: Gia Lai, Đăk Lăk, B́nh Định, Khánh Ḥa. Theo đó, liên kết với các KKT trọng điểm, các tỉnh thuộc lưu vực sông Ba và phụ cận bằng cách hợp tác xây dựng vùng nguyên liệu, khu sản xuất tập trung; xây dựng cơ sở hạ tầng liên tỉnh; liên kết phát triển du lịch… đi đến h́nh thành tiểu vùng kinh tế của khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Phối hợp với tỉnh Khánh Ḥa h́nh thành KKT trọng điểm Nam Phú Yên – Bắc Khánh Ḥa mà trọng tâm là khu vực Vân Phong và Vũng Rô. Phối hợp với B́nh Định quy hoạch xây dựng KKT Đông Bắc Sông Cầu diện tích trên 10 ngh́n ha, bao gồm các KCN tập trung, cảng biển, cơ sở đóng tàu gắn với KKT Nhơn Hội và hệ thống cảng biển hiện có tại B́nh Định. Mục tiêu là sau năm 2015 các KKT này trở thành những hạt nhân, trung tâm phát triển của tỉnh và khu vực.
Đột phá trong thu hút đầu tư
Ngày 28/4/2008, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 53/2008/QĐ-TTg “Phê duyệt quy hoạch phát triển KKT Nam Phú Yên”. KKT có diện tích tự nhiên là 20.730ha. Đây là KKT tổng hợp, đa ngành, đa chức năng, trong đó trọng tâm là ngành công nghiệp lọc hoá dầu và các ngành công nghiệp sau dầu, các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến xuất khẩu; gắn với việc phát triển và khai thác có hiệu quả cảng Vũng Rô, Băi Gốc, sân bay Tuy Ḥa. Xây dựng KKT Nam Phú Yên thành một trung tâm công nghiệp và dịch vụ mang tính đột phá phát triển cho tỉnh Phú Yên và là cực phát triển quan trọng, là trung tâm giao thương quốc tế cho cả vùng Nam Trung bộ và Tây Nguyên.
Từ một tỉnh thuần nông, các điều kiện để hấp dẫn nhà đầu tư rất mờ nhạt, Phú Yên đă vươn lên đứng thứ 23/64 tỉnh, thành trong cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI). Thu hút đầu tư nước ngoài dẫn đầu khu vực miền Trung và đứng thứ hai trong cả nước. Tính cả giai đoạn 1988 - 2007 có 39 dự án FDI đầu tư vào Phú Yên, xếp thứ 7 trong cả nước. Hiện tại Phú Yên có hàng chục dự án đầu tư nước ngoài đă đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả điển h́nh như dự án Nhà máy đường KCP do Cty TNHH Công nghiệp KCP Việt Nam (100% vốn của Ấn Độ); Cty Thai PAKORN PATANA (100% vốn của Thái Lan); nhà máy sản xuất ôtô JRD (100% vốn của Malaysia)… Đặc biệt Phú Yên đă thu hút 3 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng kư lên đến hàng tỷ USD như: Dự án Nhà máy Lọc dầu Vũng Rô công suất 4 triệu tấn/năm (đă được cấp giấy chứng nhận đầu tư) do Cty Technostar Management (Anh) và Cty Dầu khí Telloil (Nga) làm chủ đầu tư, tổng số vốn 1,7 tỷ USD, dự kiến đến năm 2011 sẽ hoàn thành và đưa vào sản xuất, tạo ra doanh thu khoảng 2,23 tỷ USD/năm, giải quyết việc làm cho 690 lao động. Dự án đầu tư kết cấu hạ tầng KCN hoá dầu và tổ hợp hoá dầu Naphtha Cracking (đă công bố chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ) do Cty SP Cherniclals (Singapore) làm chủ đầu tư. Mục tiêu của dự án là xây dựng kết cấu hạ tầng một KCN hiện đại và đồng bộ dành cho công nghiệp hóa dầu trên diện tích 1.300ha mặt đất và 1.300ha mặt nước; xây dựng một khu cảng nước sâu có thể tiếp nhận tàu 250 ngh́n DWT. Dự kiến khi KCN hóa dầu được đầu tư hoàn chỉnh sẽ thu hút khoảng 11 tỷ USD, tạo việc làm cho từ 15 - 20 ngàn lao động; doanh thu khoảng 20 tỷ USD/năm. Dự án khu du lịch liên hợp cao cấp do Cty New City (Brunei) làm chủ đầu tư, tổng số vốn 2,3 tỷ USD, sẽ được triển khai trên diện tích 565ha với các dịch vụ du lịch cao cấp. Hiện có nhiều nhà đầu tư khu vực Đông Nam Á, Trung Đông, Hoa Kỳ, Canada, Nhật, Australia, Hàn Quốc đến Phú Yên để làm việc, t́m hiểu và kư một số biên bản ghi nhớ đầu tư.
Bước đột phá trong thu hút đầu tư là động lực đặc biệt quan trọng giúp cho Phú Yên đẩy nhanh tốc độ phát triển theo hướng CNH, HĐH. Từng bước khẳng định vai tṛ là hạt nhân tăng trưởng cho cả khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
                                                                                                                                                (theo kill_ love)
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Kiến trúc sư, trước hết hăy và phải là nhà Xă hội học! - N@mPY
NamPY
Moderator
Ashui-I
*****


Phú Yên
Gián tuyến Gián tuyến

Bài: 16


Xem hồ sơ Trang chủ E-mail
« Trả lời #3 vào: 29/07/2008, 23:14 »


* Phú Yên đột phá thu hút đầu tư.doc (34.5 KB - lần tải 446 lần.)
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Kiến trúc sư, trước hết hăy và phải là nhà Xă hội học! - N@mPY
vnArchitects
Bạn là khách
« Trả lời #2 vào: 29/07/2008, 15:32 »

nampy tŕnh bày bài viết dễ đọc hơn một chút nhé, có thể ngắt xuống ḍng các ư,... Smiley Cảm ơn Mod Phú Yên  Wink
Địa chỉ IP đã được lưu lại
NamPY
Moderator
Ashui-I
*****


Phú Yên
Gián tuyến Gián tuyến

Bài: 16


Xem hồ sơ Trang chủ E-mail
« Trả lời #1 vào: 29/07/2008, 14:33 »

* KTS - Quyenromvada.doc (66.5 KB - lần tải 409 lần.)
KIẾN TRÚC SƯ - QUYỀN RƠM VẠ ĐÁ
                                                                                 (… trước thềm ĐH Kiến trúc sư VN lần thứ VII)   

-KTS đánh giá thế nào về t́nh h́nh phát triển kiến trúc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới? Nếu có thể, KTS nói rơ hơn về hai lĩnh vực kiến trúc công tŕnh và quy hoạch đô thị-nông thôn?
-Nh́n chung, vào thời kỳ đổi mới, nếu tạm lấy theo mốc từ 1989 (năm Đại hội Kiến trúc sư Việt Nam lần thứ IV), t́nh h́nh kiến trúc Việt Nam trở nên sôi động, nhộn nhịp hơn. Cùng ḥa nhập xu thế chung đổi mới và mở cửa, vai tṛ, vị thế của giới kiến trúc trong xă hội được nâng cao, tôn vinh, tiếng nói của giới được chú trọng; theo chiều hướng tăng nhịp độ đầu tư phát triển của nền kinh tế cũng tạo nhiều cơ hội hơn cho hoạt động hành nghề sáng tác; do nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư nên thân chủ, bạn hàng của kiến trúc sư cũng đa dạng với nhiều loại tŕnh độ, tính cách; do tăng cường hợp tác quốc tế, đông đảo giới kiến trúc có điều kiện trao đổi, tham quan, học tập nước ngoài và tiến bộ thông tin đa kênh nên nhận thức, kiến thức của kiến trúc sư cũng được mở mang, tŕnh độ nghề được nâng cao hơn; một số công tŕnh kiến trúc đă tạo được giá trị công năng và thẩm mỹ; quy hoạch xây dựng đă là vấn đề rất nhạy cảm trong xă hội; hội Kiến trúc sư Việt Nam với đông đảo thành viên hơn, khẳng định vị thế xă hội…
Tuy nhiên, đó chỉ là bề nổi có tính “phong trào” tự thân. Cái mà giới kiến trúc cũng như xă hội quan tâm, đó phải là kết quả thực sự của t́nh h́nh hoạt động kiến trúc do sự tác động hữu hiệu của một cơ chế quản lư th́ không để lại dấu ấn ǵ cho một lĩnh vực sáng tạo thuộc về “bộ mặt đẳng cấp” và hơn thế, nó c̣n là tài nguyên của quốc gia!
T́nh h́nh hoạt động kiến trúc tốt phải sản sinh ra nền kiến trúc có bản sắc; một vài công tŕnh được đánh giá tốt chưa phải là nền kiến trúc phát triển! Các tác phẩm được trao Giải thưởng Kiến trúc Việt Nam – hai năm xét chọn một lần, càng lúc càng nâng cao chất trí tuệ trong tiêu chí xét thưởng, cố gắng “bó đũa chọn cột cờ” – cũng không thể đại diện cho muôn trùng công tŕnh với những kiểu thức “lai tạp”, hàng loạt các đô thị được nâng loại-cấp không thực chất với chất lượng tiện nghi hiện có và không thể tiêu biểu với đầy rẫy h́nh ảnh đô thị được “quy đồng bộ mặt” và nhuôm nham, muôn vàn khung cảnh làng quê trơ trụi v́ bị đô thị hóa cưỡng bức đang hiện diện trong mọi vùng; một bộ phận kiến trúc sư được đánh giá sáng tạo, một số chủ đầu tư biết hợp tác với kiến trúc sư chân chính cũng không thể thay mặt cho đa số c̣n rất hạn chế tŕnh độ thẩm mỹ kiến trúc.
-Từ 1989 đến nay, môi trường sáng tác của kiến trúc sư, kinh phí đầu tư, tŕnh độ kỹ thuật xây dựng và nhu cầu xây dựng ở nước ta đă có những đổi mới, phát triển tích cực cho công tác thiết kế kiến trúc, nhưng tại sao cho đến nay, năm 2005, chúng ta vẫn chưa có những công tŕnh thật sự tiêu biểu cho kiến trúc Việt Nam những năm đổi mới, chưa có những công tŕnh tương xứng với thực tế đổi mới?
   -Như đă nói trước, tôi hoàn toàn đồng ư với nhận định của câu hỏi, nếu loại bỏ nhóm từ môi trường sáng tác! Môi trường sáng tác hiện nay chưa được đổi mới bản chất, chưa được phát triển tích cực. Đây chính là nguyên nhân bao trùm, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kiến trúc-quy hoạch nước nhà.
-Theo KTS, những nguyên nhân nào ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của kiến trúc Việt Nam trong thời kỳ này?
-Muốn tác phẩm kiến trúc-quy hoạch đô thị có chất lượng, ngoài yếu tố chủ quan của người thiết kế, c̣n cần phải có môi trường sáng tác lành mạnh: công khai nhu cầu tư vấn thiết kế kiến trúc, chức năng sáng tạo kiến trúc hăy để cho kiến trúc sư, chọn lọc tác phẩm qua thi tuyển b́nh đẳng, lựa chọn phương án một cách minh bạch, thẩm duyệt hồ sơ thiết kế nhất quán theo quy chuẩn…; những yêu cầu đó, là nội dung chính của cơ chế. Vậy th́ muốn cơ chế, môi trường sáng tác thông thoáng, lành mạnh, phát huy chất trí tuệ th́ không ǵ khác các nhà quản lư kiến trúc-quy hoạch (nhất là ở địa phương) phải là người có chuyên môn, phải được chuyên nghiệp hóa, phải là công chức tâm huyết, chí công, bất vụ lợi…
-KTS có nhận xét ǵ về nhận định: “Chúng ta có nhiều công tŕnh xây dựng nhưng rất ít tác phẩm kiến trúc”?
-Thật đáng buồn khi mà sau 30 năm có điều kiện để “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, mà phải nhận định như vậy. Nhưng… tôi hoàn toàn tán đồng với nhận định trên về hiện trạng tổng thể nền kiến trúc của ta giai đoạn hiện nay!
Giới nghề nghiệp xây dựng nói chung, thừa biết điều sơ đẳng nhất để phân biệt thế nào là công tŕnh xây dựng, thế nào là tác phẩm kiến trúc. Tưởng không thừa khi nhắc những vấn đề có tính kinh điển của người làm nghề kiến trúc: hai khái niệm kiến trúc và xây dựng, có nội hàm và cũng có ngoại diên. Những yếu tố cấu thành kiến trúc là: công năng sử dụng, kết cấu kỹ thuật và h́nh tượng nghệ thuật; chính yếu tố h́nh tượng nghệ thuật đă làm phân biệt công tŕnh kiến trúc với các loại h́nh công tŕnh khác được con người tạo dựng nên; yếu tố kết cấu kỹ thuật là một phần của khái niệm xây dựng, chỉ là một bộ phận cấu thành nên kiến trúc và là phương tiện để đi đến cái đích kiến trúc.
-Lịch sử loài người, khi thoát thai thời “ăn lông, ở lỗ”, để tạo dựng nơi cư trú th́ cũng chỉ bắt đầu bằng phương tiện xây dựng; chỉ đến khi tiến hóa, h́nh thành xă hội, phát triển thượng tằng ư thức th́ kiến trúc mới xuất hiện và càng thăng hoa khi kinh tế-xă hội-khoa học phát triển. Như vậy, “nhiều công tŕnh xây dựng, ít tác phẩm kiến trúc” nghĩa là chúng ta mới chỉ đạt ở mức độ công cụ chứ chưa đến được cái đích thượng tằng.
-V́ sao có t́nh trạng “nhiều công tŕnh xây dựng, ít tác phẩm kiến trúc”? Đó là một câu hỏi có nhiều câu trả lời tùy góc độ: môi trường sáng tác, cơ chế quản lư hành nghề kiến trúc, tŕnh độ-bản lĩnh của kiến trúc sư, vai tṛ “nhạc trưởng” trong quản lư kiến trúc-quy hoạch, tầm nh́n của người có thẩm quyền, “quyền lực” của chủ đầu tư, tŕnh độ thẩm mỹ kiến trúc của dân trí...v.v. và v.v. Ngoài những vấn đề trên, ở cụ thể nơi tôi - tỉnh Phú Yên, c̣n một nguyên nhân là do việc sử dụng tham mưu, quản lư về quy hoạch-kiến trúc lại là các kỹ sư (có chuyên môn: máy, xây dựng, thủy lợi, cầu cảng, kinh tế…) c̣n kiến trúc sư th́… hăy “t́m chỗ khác chơi” (!?),  th́ làm sao mà không “nhiều công tŕnh xây dựng, ít tác phẩm kiến trúc” ?! Không hề có một khung chuẩn thẩm mỹ, thiết kế đô thị th́ lâu nay bất cấp, “nhạc trưởng kiến trúc” th́ không có; con đường thẩm định để h́nh thành tác phẩm kiến trúc-quy hoạch, từ phương án sơ bộ trong Báo cáo nghiên cứu khả thi (theo quy định trước khi có luật Xây dựng) đến Thiết kế kỹ thuật-bản vẽ thi công, được tác động hầu hết bởi các cử nhân kinh tế kế hoạch, kỹ sư các chuyên ngành xây dựng khác mà không hề có bóng dáng kiến trúc sư th́ “nhiều công tŕnh xây dựng, ít tác phẩm kiến trúc” là đương nhiên và c̣n may!
-Trách nhiệm của các kiến trúc sư đến đâu, thưa KTS?
-T́nh trạng này, cũng có “vai tṛ” không nhỏ do chính giới kiến trúc gây ra. Một số kiến trúc sư có chức năng quản lư th́ lại lợi dụng địa vị để “đánh quả”; một số khác th́ thờ ơ, cam chịu hoặc được chăng hay chớ, biến ḿnh thành những “thợ vẽ kiến trúc”…
-Theo KTS, các nhà quản lư kiến trúc-quy hoạch có đóng góp và cản trở ǵ trong sáng tác, thiết kế kiến trúc và trong việc thực hiện hóa tác phẩm kiến trúc?
-Đầu tiên, phải đồng thuận với nhau rằng, các nhà quản lư kiến trúc-quy hoạch là các quan chức, công chức có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước chứ không phải là các hội viên một tổ chức chính trị-đoàn thể-nghề nghiệp như hội Kiến trúc sư. Hội Kiến trúc sư không hề và không thể có thẩm quyền quản lư Nhà nước; thực sự, vai tṛ của hội Kiến trúc sư là “quyền rơm, vạ đá” v́ nếu cơ quan Nhà nước không hỏi hoặc không nghe hoặc “nghe giả bộ” nhưng không thực hiện th́ cũng chả biết làm sao (?) nhưng dư luận th́ lại cứ đè “ông hội kiến trúc” ra mà chỉ trích!
Rơ ràng, với quyền hạn, các nhà quản lư có vai tṛ hết sức quan trọng, nếu không nói là “cực kỳ” quan trọng trong việc hoạch định chính sách, cơ chế; ở Trung ương có mức độ vĩ mô, ở địa phương có mức độ vi mô cho sự nghiệp kiến trúc-quy hoạch quốc gia hay vùng lănh thổ. Các nhà quản lư, có thể ở các cương vị khác nhau: các quan chức thủ trưởng cơ quan chuyên môn và chủ lănh thổ hành chính, các công chức chuyên viên tham mưu… với thẩm quyền của ḿnh, nếu công tâm (và có chút tŕnh độ) họ sẽ là những “bà đỡ” cho các tác phẩm kiến trúc đích thực và ngược lại, sẽ là “sát thủ” kiến trúc và làm dấy lên vô số “âm binh” mượn danh kiến trúc. Vai tṛ của các quan chức, công chức quản lư kiến trúc-quy hoạch đô thị vô cùng quan trọng, dù là ở Trung ương hay địa phương với bất cứ khâu, lĩnh vực nào liên quan.   
-Nếu muốn giải quyết những vấn đề đó, th́ giới kiến trúc sư phải làm ǵ?
-Tùy theo vị trí xă hội, trách nhiệm của mỗi vai tṛ mà có những động thái, hành xử phù hợp; song, trước hết giới kiến trúc sư nói chung phải tâm huyết với sự nghiệp kiến trúc-quy hoạch nước nhà, phải luôn trau dồi, nâng cao tŕnh độ nghề, nắm bắt nhịp điệu cuộc sống; từng kiến trúc sư tác giả hành nghề sáng tác phải có bản lĩnh nghề nghiệp, phải có dũng khí chối từ những điều phi lư, thậm chí là những hợp đồng béo bở!
Trước t́nh h́nh “nhiều công tŕnh xây dựng, ít tác phẩm kiến trúc”, phải giải quyết hàng loạt các vấn đề đă nêu: môi trường sáng tác, cơ chế quản lư hành nghề sáng tác kiến trúc, tŕnh độ-bản lĩnh của kiến trúc sư, vai tṛ “nhạc trưởng” trong quản lư kiến trúc-quy hoạch, tầm nh́n của người có thẩm quyền, sử dụng đúng vai tṛ chức năng kiến trúc sư, “quyền lực” của chủ đầu tư, tŕnh độ thẩm mỹ kiến trúc của dân trí,...
-Đối với vai tṛ của hội Kiến trúc sư?
-Hội Kiến trúc sư các cấp phải tăng cường hoạt động, tận dụng theo những điều luật hiện hành để góp sức tham mưu cho chính quyền sở tại các vấn đề liên quan đến sự nghiệp kiến trúc-quy hoạch. Mặt khác, phải có “cơ chế” nào đó để hội Kiến trúc sư có thẩm quyền với việc quản lư hành nghề sáng tác kiến trúc và các vấn đề về kiến trúc-quy hoạch chứ không thể bằng “lời kêu gọi” tâm-đức!
-Môi trường hành nghề hiện nay, theo KTS th́ thế nào là phù hợp? Hiện tại, luật Xây dựng đă có hiệu lực, dẫu chưa thật hoàn chỉnh; nhưng theo KTS, nếu tuân thủ đúng Luật th́ môi trường sáng tác và hành nghề có những vướng mắc ǵ về mặt quản lư, phê duyệt? Cần phải làm ǵ để có thể tháo gỡ những điều đó? KTS có đề xuất ǵ với đối với công tác quản lư kiến trúc-quy hoạch không?
-Luật Xây dựng và các văn bản sau luật (các Nghị định: 209/, 08/, 16/ của Chính phủ; các Thông tư 05/, 09/ của bộ Xây dựng) chưa nêu được định nghĩa và các đặc thù của một công tŕnh kiến trúc khác với các loại h́nh công tŕnh xây dựng cơ bản khác, đồng thời cũng chưa đáp ứng được yêu cầu về môi trường sáng tác cũng như quyền của một chủ thể sáng tạo kiến trúc; do vậy, biện pháp quản lư với những quyền hạn thẩm duyệt quy hoạch-kiến trúc vẫn c̣n những bất cập. Thực tiễn đ̣i hỏi luật lệ Xây dựng cùng với yêu cầu cải cách hành chính theo hướng gọn nhẹ thủ tục nhưng cũng phải tạo ra những cơ sở để bảo đảm tính tổng thể trong môi trường cảnh quan kiến trúc (thiết chế kiến trúc sư trưởng), môi trường hành nghề kiến trúc sư lành mạnh và quyền tác giả được tôn trọng thực sự
Trong các quy định hiện hành liên quan đến chức năng của hội Kiến trúc sư, cũng không ǵ hơn là tăng cường hoạt động tư vấn, phản biện, giám định xă hội…; tuy nhiên, hiệu quả tới đâu là c̣n tùy thuộc rất nhiều vào sự nh́n nhận của các chủ thể quản lư Nhà nước liên quan.
-Những đề xuất của KTS?
-Thứ nhất, phải có chính sách “xă hội hóa” công tác phát triển kiến trúc-quy hoạch, không coi kiến trúc-quy hoạch chỉ là kiến thức riêng, sự nghiệp riêng của giới kiến trúc; nhưng mặt khác, lại phải chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa bộ máy công chức trong khâu quản lư Nhà nước về quy hoạch-kiến trúc.
Thứ hai, hội Kiến trúc sư phải có thẩm quyền với việc quản lư hành nghề sáng tác kiến trúc và các vấn đề về kiến trúc-quy hoạch. Chứ cứ như nhiều năm nay, có quan tâm đến mấy các vấn đề về quy hoạch-đô thị-kiến trúc… th́ giữa hội KTS VN với các cơ quan quản lư nhà nước các cấp, vẫn cứ như:         Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tâm bóng một người. (Hai sắc hoa tigôn - TTKh)
Thứ ba, h́nh thành hệ thống quản lư kiến trúc-quy hoạch từ Trung ương đến cấp huyện; phải có định chế chỉ bố trí chức danh kiến trúc sư trong bộ máy quản lư quy hoạch-kiến trúc.
-KTS có tin là những đề xuất của ḿnh sẽ được các cơ quan quản lư quan tâm đến không? Làm ǵ để những ư kiến của các kiến trúc sư về các vấn đề quy hoạch-kiến trúc được các cơ quan quản lư quan tâm đến và tham khảo thực hiện?
Phấn đấu cho sự nghiệp nào th́ cũng phải có niềm tin và đôi khi cũng phải làm “Ngu công đào núi” thôi! Hội Kiến trúc sư Phú Yên đă hơn một lần kiên tŕ đề xuất, được chính quyền ghi nhận và thực hiện, như việc từ khi chưa có luật Xây dựng, đă đề xuất mọi công tŕnh kiến trúc ở địa phương, có quy mô từ 2 tỷ đồng trở lên phải bắt buộc thi chọn phương án kiến trúc được quy định trong văn bản pháp quy ở Tỉnh.
Muốn những ư kiến của ḿnh về các vấn đề của kiến trúc được các cơ quan quản lư quan tâm đến và tham khảo thực hiện, các kiến trúc sư phải thực sự theo nhịp cuộc sống, công tâm, kiên tŕ và… học chữ “nhẫn”! Hội Kiến trúc sư Phú Yên rất trách nhiệm với các vấn đề quy hoạch-kiến trúc được tham gia với tư cách tư vấn, phản biện xă hội; nhưng tiếng nói kiến nghị, đề xuất với cơ quan Nhà nước sao c̣n lẻ loi, đơn độc quá?
-Theo KTS th́ có bao nhiêu tỷ lệ kiến trúc sư Việt Nam đang hành nghề sáng tác và quản lư ở nước ta thật sự quan tâm đến sự phát triển của kiến trúc nước nhà? Họ biểu hiện ở những mặt nào?
Không “mỵ dân” mà nên thẳng thắn và rất buồn mà nói rằng, nếu lấy địa phương ḿnh để nhận xét, số kiến trúc sư thực sự quan tâm đến sự nghiệp kiến trúc-quy hoạch là rất ít. Những kiến trúc sư quan tâm thực sự, họ như “nhà xă hội học”, quan tâm đến mọi mặt đời sống kinh tế xă hội địa phương, đương nhiên không thể thiếu vấn đề quy hoạch-kiến trúc, họ luôn t́m cơ hội học tập, trao đổi, tham quan các nơi khác, họ t́m đọc các loại ấn phẩm nghề nghiệp, họ không tự măn với những phương án kiến trúc đă được đầu tư xây dựng, luôn t́m ṭi sáng tạo, họ không đua theo những kiểu cách kiến trúc xa lạ với tập quán truyền thống khu vực, họ diễn giải, thuyết phục chủ đầu tư; họ tận dụng mọi diễn đàn có thể để trao đổi, thuyết tŕnh, đăng tải các vấn đề liên quan kiến trúc-quy hoạch để rộng đường quảng đại dư luận… Tôi đă chứng kiến hai kiến trúc sư khi họ từ chối kư hợp đồng thiết kế hai công tŕnh không nhỏ khi chủ đầu tư nằng nặc yêu cầu họ phải vẽ theo ư.
-Thế số c̣n lại th́ họ quan tâm đến điều ǵ?
Số kiến trúc sư khác, hoặc là lao vào các “phi vụ đánh quả” bất chấp mọi chuyện kiểu “mèo trắng, mèo đen” hoặc là thờ ơ, cam chịu, được chăng hay chớ hoặc dùng “mác” kiến trúc sư để đánh bóng ḿnh và boong chen thăng quan tiến chức…
-Theo KTS, trong thực tế phát triển kiến trúc ở địa phương th́ lư luận kiến trúc có tác dụng hay không đối với sáng tác kiến trúc? Nếu có th́ được biểu hiện ở đâu? Nếu không, theo KTS là v́ sao?
Lư luận kiến trúc ở ta, nó nằm ở đâu, tôi chẳng biết (?!) Khi biết viện Tiêu chuẩn được chuyển đổi chức năng là viện Nghiên cứu kiến trúc, chúng tôi rất mừng và mong rằng, từ đây hệ thống lư luận bài bản, chính thống của nền kiến trúc Việt Nam sẽ là cơ hội “chắp cánh” cho sáng tác và góp phần giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn cuộc sống. Chúng tôi biết, viện Nghiên cứu kiến trúc cũng đă dày công sức, có không ít công tŕnh nghiên cứu… Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu được công bố ở đâu, có góp phần ǵ cho sáng tác hay giải quyết các vấn đề phát sinh không, th́ chẳng biết.
Theo tôi, kết quả nghiên cứu được hệ thống thành lư luận phải được công bố, phải áp dụng vào chương tŕnh giảng dạy, phải đưa vào quy chuẩn, tiêu chuẩn, chí ít th́ cũng được ấn hành rộng răi để những đối tượng có nhu cầu liên quan tham khảo. “Định hướng quy hoạch tổng thể đô thị Việt Nam…” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 10/ ngày 23-01-2002 và “Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam…” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 112/ ngày 03-9-2002, hầu như rất ít người trong giới kiến trúc biết huống chi là các nhà quản lư, huống chi là tuân thủ? Rất nhiều các vấn đề từ thực tiễn cuộc sống đ̣i hỏi: đơn vị ở-tiểu khu, khu đô thị mới-khu tái định cư, nhà liền kề lô phố-nhà chung cư-nhà cao tầng, nhà cho người thu nhập thấp, các xu hướng kiến trúc-mặt tiền nhà liên kề lô phố, quy tŕnh lập đồ án quy hoạch, thiết kế đô thị...v.v. và v.v… nhưng không thấy nhà lư luận ở đâu? Cho dù là về một vấn đề nào đó c̣n nhiều ư kiến, quan điểm th́ cũng cần nên được tập hợp, ấn hành để dư luận xă hội quan tâm tham khảo. Quy chuẩn, tiêu chuẩn rất cần “cấu trúc mềm” để được điều chỉnh bởi hệ thống lư luận gắn bó với thực tiễn. Nhưng quy chuẩn, tiêu chuẩn của ta lại quá cứng nhắc, soạn thảo, ban hành xong th́ đă lạc hậu. Ví dụ, Quy chuẩn Việt Nam (ban hành cách nay khoảng 7-8 năm), Phần 1 về quản lư quy hoạch, quy định mặt tiền nhà liền kề lô phố không được làm lô-gia hoặc pḥng mà chỉ được phép làm ban-công; nhưng thực tế ở nhiều đô thị hiện nay, mặt tiền các loại nhà này được chủ nhà yêu cầu thiết kế lô-gia hoặc pḥng đă tạo ra những không gian thích dụng, sinh động và hài ḥa với tổng thể các nhà liền kề; nhưng rơ ràng là vi phạm quy chuẩn, mà nếu theo quy chuẩn th́ mặt phố có loại nhà c̣n chiếm lĩnh không gian đô thị trong nhiều năm nữa, sẽ rất đơn điệu, vô cảm như lâu nay.
Đây đó, lúc này lúc khác, nơi này nơi kia tổ chức hội thảo kiến trúc-quy hoạch với những chủ đề không kém hấp dẫn và rồi bài tham luận, thông tin, kết quả, … của hội thảo, không biết cất ở đâu, để làm ǵ? Phải ghi nhận những kỷ yếu hội thảo do hội Kiến trúc sư Việt Nam được tập hợp đầy đủ, ấn phẩm đẹp, gửi đến các Hội cơ sở; nhưng mong rằng, nó c̣n đến được cả những người quan tâm trong xă hội.
-Theo KTS th́ hiện tại ở Việt Nam có lư luận kiến trúc hay không? Nếu có th́ đang ở mức độ nào, v́ sao vậy?
Theo tôi, bất cứ một lĩnh vực ǵ cũng tự thân khách quan nó có nhu cầu h́nh thành lư luận, phê b́nh. Chỉ có điều, lư luận ấy là lẻ tẻ, manh mún hay tập trung, hệ thống. Kiến trúc là lĩnh vực sáng tạo, là thượng tằng ư thức của nhân loại càng có và càng cần thiết lư luận. Kiến trúc Việt Nam ta, dù ít, nhiều, dù tập hợp hay tản mạn cũng đă có, đang có và cần thiết phải có. Tuy nhiên, hiện nay nó là số cộng giản đơn của các quan điểm khác nhau, rời rạc trên các ấn phẩm hoặc tại các hội thảo nào đó. V́ sao vậy? Môi trường sáng tác lành mạnh th́ rất cần đến hệ thống lư luận, phê b́nh và ngược lại. Bản thân người thiết kế trong môi trường thực dụng th́ chẳng cần đến lư lẽ dài ḍng, làm sao cho có hợp đồng, vẽ theo ư thân chủ, mau chóng giao sản phẩm và nhanh chóng thanh toán là đủ. “Mỳ chén liền” th́ cần ǵ lư luận !
-Liệu trong 10 năm đến, tương quan: lư luận-sáng tác kiến trúc sẽ là tích cực hay tiêu cực?
Xă hội sẽ phát triển theo hướng tích cực, dù chậm. Nếu có sự tác động tích cực của chúng ta th́ kết quả sẽ đến mau hơn. Lư luận, phê b́nh và sáng tác trong kiến trúc cũng sẽ như vậy.

* KTS - Quyenromvada.doc (66.5 KB - lần tải 409 lần.)
Địa chỉ IP đã được lưu lại

Kiến trúc sư, trước hết hăy và phải là nhà Xă hội học! - N@mPY
vnArchitects
Bạn là khách
« vào: 29/07/2008, 08:13 »

 Wink box Phú Yên vừa được thành lập theo đề xuất của các Kiến ở đây. Mời mọi người cùng tham gia..
Địa chỉ IP đã được lưu lại
Trang: [1]   Chuyển lên
  In ấn  
 
Chuyển tới:  

Liên hệ Ban quản trị diễn đàn: ASEAN TIMES ONLINE
+84 9 8888 7890 | E-mail: admin@ashui.com
URLs: vnarchitects.ashui.com, vnarchitects.com
© 2008 VNArchitects | Ashui® Corporation
Hỗ trợ bởi MySQL Hỗ trợ bởi PHP Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Powered by SMF 1.1.4 | SMF © 2005, Simple Machines LLC