
Theo dự thảo, quy mô dân số TP.HCM tiếp tục tăng mạnh trong các thập kỷ tới. Đến năm 2030, dân số dự kiến đạt khoảng 15,5 – 16 triệu người; năm 2045 khoảng 20 – 21 triệu người; đến năm 2050 khoảng 22 – 23 triệu người. Nếu tính cả dân số quy đổi, bao gồm người học tập, lao động và khách du lịch, quy mô có thể đạt khoảng 27,8 triệu người.
Về mục tiêu phát triển, đến năm 2030, TP.HCM phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm, GRDP bình quân đầu người đạt từ 14.000 USD, kinh tế số chiếm khoảng 40% GRDP và hoàn thành khoảng 200 km đường sắt đô thị. Sau năm 2075, thành phố hướng tới trở thành đô thị toàn cầu với GRDP bình quân đầu người trên 100.000 USD.
Điểm đáng chú ý của dự thảo là đề xuất tổ chức không gian phát triển theo 10 vùng quản trị, được xác định trên cơ sở chức năng, điều kiện hạ tầng, tài nguyên, môi trường và yêu cầu quản lý, thay vì chỉ dựa trên ranh giới hành chính.
Trong đó, Vùng 1 là lõi đô thị – tài chính – quản trị – di sản, gồm khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn, Thủ Thiêm và hai bờ sông Sài Gòn. Khu vực này được định hướng phát triển thành trung tâm tài chính, dịch vụ cao cấp, văn hóa và đối ngoại, đồng thời tái thiết theo mô hình TOD, phát triển không gian ngầm và mở rộng không gian công cộng ven sông.
Vùng 2 là cực đổi mới sáng tạo phía Đông, gồm Thủ Đức, Dĩ An, Thuận An và khu vực kết nối Cảng Hàng không quốc tế Long Thành. Đây sẽ là trung tâm nghiên cứu – phát triển, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, tài chính mới, fintech và khởi nghiệp; ưu tiên phát triển các khu TOD, hạ tầng số và chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu sang mô hình đô thị công nghiệp tri thức.
Vùng 3 được định hướng là cửa ngõ kết nối ĐBSCL, phát triển logistics, y sinh, công nghiệp sạch và các đô thị thích ứng ngập nước; đồng thời giữ vai trò vùng đệm thoát lũ và kiểm soát quá trình đô thị hóa về phía Tây.
Vùng 4, khu vực Bình Dương cũ, được xác định là đô thị công nghiệp – dịch vụ, đóng vai trò hậu phương sản xuất của siêu đô thị. Quy hoạch định hướng nâng cấp các khu công nghiệp theo mô hình sinh thái, công nghệ cao, đồng thời bổ sung nhà ở xã hội, y tế và giáo dục để hình thành hệ sinh thái công nghiệp – đô thị – dịch vụ.
Đối với Vùng 5, khu vực phía Bắc, Tây Bắc Bình Dương và Đông Nam Vũng Tàu sẽ là vùng sinh thái và dự trữ phát triển, tập trung bảo vệ rừng, mặt nước, đất nông nghiệp, quỹ đất dự trữ và phát triển nông nghiệp công nghệ cao.
Vùng 6 được định hướng trở thành cực đô thị cảng và logistics tại khu vực Nhà Bè – Hiệp Phước, kết nối trung tâm TP.HCM với Cần Giờ và hệ thống cảng biển.
Vùng 7 là khu sinh thái biển Cần Giờ, tiếp tục ưu tiên bảo tồn rừng ngập mặn, phát triển kinh tế biển xanh và du lịch sinh thái có kiểm soát. Mọi hoạt động phát triển sẽ phải tuân thủ sức chịu tải của hệ sinh thái, hạn chế gia tăng dân số và không đô thị hóa đại trà.
Vùng 8 bao gồm khu cảng biển, logistics, công nghiệp và năng lượng, với hạt nhân là Cái Mép – Thị Vải, được quy hoạch trở thành cửa ngõ hàng hải quốc tế, phát triển cảng nước sâu, logistics quốc tế, khu thương mại tự do và công nghiệp cảng.
Vùng 9 hướng tới hình thành chuỗi đô thị du lịch biển Vũng Tàu – Long Hải – Hồ Tràm với các loại hình nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, kinh tế đêm và thể thao biển, đồng thời kiểm soát chặt việc phát triển xây dựng nhằm hạn chế bê tông hóa dải ven biển.
Vùng 10 là đặc khu Côn Đảo, được định hướng phát triển theo mô hình đặc khu sinh thái – di sản – quốc phòng, tập trung vào du lịch chất lượng cao có kiểm soát, xây dựng đảo xanh gắn với bảo tồn hệ sinh thái biển và các giá trị lịch sử.
Thiện Tùng

