Việt Khôi
Ashui-H

Hà Nội
Gián tuyến
Giới tính: 
Bài: 327
|
 |
« Trả lời #3 vào: 21/05/2007, 00:10 » |
|
Khoá II được tuyển từ 2 nguồn: Bộ kiến trúc tổ chức ḱ thi tuyển cán bộ trong ngành, có 40 thí sinh trúng tuyển và thi tuyển năng khiếu trong sinh viên khoá VII trường Đại học Bách khoa, chọn 60 sinh viên.
Số cán bộ trong ngành trúng tuyền khoá II:
Nguyễn Văn Cát, Lữ Linh Châu, Trần Minh Châu, Bùi Danh Dương, Nguyễn Thành Đức, Vũ Văn Đức, Phạm Tấn Đạt, Nguyễn Quang Giao, Lê Thế Hách, Nguyễn Hiền, Lê Mạnh Hiền, Bùi Văn Hiệt, Hoàng Hữu Hiệt, Trương Đ́nh Hồng, Phan Hùng, Trần Ngọc Hùng, Đậu Xuân Huy, Nguyễn Khắc Huy, Lê Hương, Nguyễn Xuân Hựu, Nguyễn Đức Khoái, Vũ Thái Lộc, Hà Thế Luân, Phạm Phúc Lượng, Phạm Lưu, Trương Xuân Mai, Trần Đắc Ninh, Lê Phát, Nguyễn Văn Phú, Đỗ Hữu Phụ, Vơ Trọng Phượng, Nguyễn Thế Quế, Nguyễn Hữu Qú, Nguyễn Phúc Thành, Nguyễn Văn Tiến, Lê Hải Trừng, Chu Kim Tuyến, Nguyễn Đào Viên, Phạm Ngọc Xưởng, Nguyễn Bạch Yến...
Số sinh viên Đai học Bách khoa trúng tuyển khoá II:
Trần Quốc An, Ngô Bách, Thân Văn Bạn, Nguyễn Thiện Bảo, Vũ Quốc Bảo, Nguyễn Mạnh Chu, Nguyễn Đức Cường, Vũ Khắc Đôn, Nguyễn Khắc Đạt, Trần Tiến Đạt, Nguyễn Văn Đính, Phạm Lê Đức, Bùi Vinh Hạnh, Trần Hiển, Lê Đ́nh Hiệp, Trần Gia Khiêm, Phan Trọng Khiêm, Nguyễn Địch Long, Phạm Khắc Lộc, Ngô Thế Luân, Đặng Minh, Đoàn Thị Mỹ, Phạm Vũ Mỹ, Đào Ngọc Nghiêm, Đỗ Văn Ngoă, Phạm Cao Nguyên, Đào Nguyễn, Hoàng Minh Nhuận, Trần Thị Ninh, Nguyễn Huy Phách, Mạc Kính Phong, Vũ Quang Phú, Nguyễn Thanh Phúc, Trần Phùng, Trần Ngọc Quang, Cao Sĩ Quế, Đàm Văn Sức, Trần Văn Tam, Phan Minh Tâm, Vũ Minh Tân, Nguyễn Quốc Thái, Vũ Trọng Thanh, Nguyễn Hữu Thành, Phạm Hữu Thăng, Hà Văn Thọ, Trần Xuân Toản, Nguyễn Thế Truyền, Trịnh Đức Tuấn, Lê Vinh, Nguyễn Hồng Việt.
số sinh viên lớp trên chuyển xuống:
Nguyễn Ngọc Đính, Nguyễn Thị Đông, Bùi Minh Đức, Nguyễn Thúc Nhương, Trần Đông Rạng,
Lê Tử Ḱ (từ trường ĐH kiến trúc Mascva chuyển về).
Khoá II có một số thuận lợi hơn khoá l. Trước hết là việc khai thác những kinh nghiệm từ khoá l. Mặt khác, bên cạnh các thày giáo lâu năm, có bổ sung một lực lượng thày giáo trẻ mới được tiếp cận với xu hướng kiến trúc hiện đại có tư duy mới mẻ. Những yếu tố này tác động tốt đến học tập, rèn luyện tài năng sáng tác của sinh viên. Thời gian khoá học cũng 4,5 năm. Đầu học ḱ VIII khoá II được phân ngành tương tự khoá l: 50 sinh viên kiến trúc dân dụng, 25 sinh viên kiến trúc công nghiệp, 25 sinh viên qui hoạch đô thị và nông thôn.
Lễ tốt nghiệp của khoá II cũng được tổ chức trang trọng và đông khách dự. Đề tài tốt nghiệp là những công tŕnh giả định. Nội dung đồ án, phong cách thể hiện và mầu sắc dùng rất phong phú. Có Pḥng trưng bầy đồ án. Hội trưởng bảo vệ được trang trí hoa văn rực rỡ. Trước Hội trường có cổng chào kết bằng lá cọ. Mừng thành công có mở tiệc ăn tươi nhờ kết quả chăn nuôi của nhà bếp và sinh viên. Buổi tối kết thúc có liên hoan văn nghệ ''cây nhà lá vườn" mừng các bạn tân khoa, rất vui. Thày Tạ Mĩ Duật hứng khởi xướng lên một điệu ca trù. Thày Trần Hữu Tiềm và ai đó đế thêm tiếng phách tiếng đàn miệng. Các thày đă có tuổi nhưng không một ai câu nệ, cùng hát cùng vui. cùng đều nhởn nhơ cảm khoái. Phối cùng nhau, tất cả âm hưởng đều được phát ra từ miệng. Kẻ tung người hứng, kẻ xướng người hoạ, rôm rả.
Thật là:
...T...rách, tách tách..'', tiếng phách rộn ràng gơ nhịp,
... ''Phưng, phừng, phưng tiếng đàn Đáy khi nhấn, lúc dồn,
...''Tom, chát, tom'', tiếng trống chầu đĩnh đạc điểm khổ, điểm câu.
(Lê Vân)
Không khí vui chen vào buổi liên hoan như vậy đấy. Nay chắc không thể có cái cảnh như thế nữa.
Số Kiến trúc sư khoá II có nhiều thành công trong sáng tác:
Ngô Bách, Lê Hiệp (Lê Đ́nh Hiệp), Trần Gia Khiêm, Trần Thị Ninh, Đoàn Thị Mĩ, Đào Nguyễn, Trần Quốc An, Nguyễn Huy Phách, Nguyễn Thanh Phúc, Trần Phùng, Vũ Quốc Bảo, ..
Số Kiến trúc sư khoá II trưởng thành trong quản lí ngành cấp trung ương, tỉnh thành, công ty:
Bùi Danh Dương, Trần Hiển, Hoàng Hữu Hiệt, Nguyễn Địch Long, Trương Xuân Mai, Đặng Minh, Đào Ngọc Nghiêm, Phạm Cao Nguyên, Hoàng Minh Nhuận, Nguyễn Huy Phách, Vũ Quang Phú, Vơ Trọng Phượng, Nguyễn Thế Quế, Trần Tam, Trần Thanh, Nguyễn Phúc Thành, Hà Văn Thọ, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Đào Viên, Nguyễn Đức Khoái,...
Lớp Đại học Kiến trúc cũng được Bộ giao quản lí và đào tạo khoá l tại chức kiến trúc (1962 - 1967), có 30 sinh viên.
Sinh viên Kiến trúc tại chức khoá l:
Nguyễn Văn Ái, Nguyễn Văn Ấm, Nguyễn Đức Ảnh, Bùi Bốn, Lê Ngọc Chấn, Nguyễn Minh Châu, Trần Văn Dưỡng, Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Quốc Giáo, Đặng Đ́nh Giáp, Trần Minh Hoà, Lê Nguyên Hồng, Lê Văn Huy, Tô Thế Khải, Phạm Thị Ngọc Lai, Nguyễn Thuư Lăng, Nguyễn Văn Lập, Lê Thị Ngọc Liên, Trương Chí Lượng, Trịnh Kim Như, Bế Kim Nương, Nguyễn Thế Phiệt, Nguyễn Đ́nh Phúng, Nguyễn Như Sơn, Hồ Văn Tám, Nguyễn Thi, Phan Công Thức, Bùi Đức Tính, Lê Tri, Trịnh Hồng Triển, Lê Minh Triết, Nguyễn Xuân,
Sinh viên khoá tại chức này là những cán bộ tốt nghiệp Trung cấp kiến trúc khoá VII, khoá VIII (1955 - 1958, 1956 - 1959) đang công tác tại Viện Thiết kế của Bộ và Hà Nội. Do chế độ học tại chức với ngành kiến trúc, Ban Lănh đạo đă chỉ đạo chặt chẽ việc tổ chức học tập và bố trí giáo viên nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo. KTS. Vũ Tam Lang là Giáo viên Chủ nhiệm của lớp này.
KTS. Vũ Tam Lang tốt nghiệp Kiến trúc sư tại Trường Đại học Thanh Hoa - Bắc Kinh năm 1961, về trường năm 1962. Những năm đầu ông giảng dạy môn Cơ sở Kiến trúc, được sinh viên các lớp ngưỡng mộ về sự hiểu biết kiến trúc phương Đông và tài vẽ màu nước. Đầu năm 1967 ông được đi thực tế tại Viện Thiết kế kiến trúc dân dụng. Năm 1970 Ông trở lại Trường. Năm 1974 Ông là Phó Chủ nhiệm Khoa Kiến trúc. Ông đă thực tập giảng dạy tại Pháp. Ông là người xây dựng môn học Lịch sử kiến trúc Việt Nam, là tác giả cuốn sách ''Kiến trúc Cổ Việt Nam'' được xuất bản năm 1991. Ông được phong hàm Phó Giáo sư và danh hiệu Nhà giáo Ưu tú. Ông sống vô tư, thưởng làm thơ, đọc thơ, cả thơ vui.
Trên bản vẽ tô màu kiến trúc,
Cả cuộc đời đậm nhạt theo lên.
Vàng tươi phải đặt đỏ nền,
Tím hoa, xanh lá hồng chuyên đẹp đời.
...
Bầu trời Đông, b́nh minh hừng nắng ấm,
Rộn ră ḷng tôi nghe tiếng gọi xuán về.
Con chím non lớn bởi lúa đồng quê,
Đoá hoa nở v́ hứng tia ánh sáng.
...
Gầy cũng chả gầy, béo chả béo,
Trông tạng người chỉ bạc nhạc thôi.
Nghỉ hưu Ông vẫn tham gia giảng dạy đại học và cao học, viết bài về kiến trúc cho các báo.
Những năm sơ tán ở Phú Thọ, phong trào văn hoá văn nghệ trong cán bộ và sinh viên khá phong phú và sinh động, đă thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt, v́ học sinh thân yêu.
Có nhiều hoạt động bổ ích như: Triển lăm tranh của Hoạ sĩ Trần Tía đi thực tế Thanh Hoá; cuộc thi thơ trong giáo viên, với các Nhà thơ Quí Khoa, Tam Lang, Ngọc Thanh,..; những đêm diễn của CBCNV với vở kịch ''Ra đa con rệp'' có Thày Hội, Thày Thọ là diễn viên, có tốp ca của Chi đoàn giáo viên với bài ''Bói hoa'' do Thày Hội phổ nhạc bài thơ của Đoàn Lê,... Phong trào trong sinh viên cũng sôi nổi, mỗi lớp mở một đêm diễn: 65K có xiếc, 66K có ca kịch. Tất cả đều tuyệt vời. Nhân dân địa phương tới xem rất đông. Không khí trưởng lớp nơi sơ tán trở nên vui nhộn, quên đi những khó khăn vật chất.
Kết quả này phản ánh rơ trong thành tích giảng dạy của giáo viên và học tập của sinh viên các khoá IV, V, VI hệ dài hạn, Khoá l hệ chuyên tu kiến trúc. Đặc biệt là kết quả đồ án tốt nghiệp của các khoá l, II hệ dài hạn, và khoá l hệ tại chức kiến trúc.
Nơi sơ tán càng nổi bật sự tận t́nh giảng dạy của thày gíáo. Một trong những tấm gương tiêu biểu là KTS. Đoàn Văn Minh - một Giảng viên cao tuổi của Bộ môn Kiến trúc. Mỗi buổi có giờ lên lớp, khi sương mù c̣n bao toát đă thấy thày ngồi trước bục giảng chờ sinh viên đến thông qua đồ án. Không quản tuổi cao lại bị hen xuyễn măn tính, thày mang hết sức ḿnh truyền đạt kiến thức và kinh nghệm cho các thế hệ sau. Có lần sau buổi hướng dẫn đồ án (tốt nghiệp), vừa qua hai ngọn đồi về đến nhà, chưa kịp ăn, Thày vội quay lại lớp, lại qua 2 ngọn đồi, gặp lại sinh viên của ḿnh. Thày hổn hển nói: Tôi nói lại chỗ này chỗ kia nên làm thế này.. Lúc năy tôi nói chưa rơ, sợ anh em mất công, nên tôi quay lại nói kĩ hơn. Bấy giờ Thày mới yên tâm ra về, lại qua 2 ngọn đồi, ḷng vui quên mệt. Các tṛ vẫn không quên câu nói khiêm nhường và dứt khoát: "Không ai người ta làm thế đâu cậu ạ", Thày thưởng tâm t́nh với các bạn trẻ: ''Làm kiến trúc phải lao tâm khổ tứ, khóng thể hời hợt. Một bức tranh, một pho tượng,... nếu không đạt có thể bỏ đi làm lại. Một công tŕnh không đạt không dễ ǵ phá bỏ, tốn tiền của, cái xấu tồn tại hàng trăm năm. Tôi thành thật khuyên các tṛ ai không đủ chí, theo nghề không chuyên tâm học hành, th́ nên sớm chuyển học ngành khác. Như thế đỡ hận cho ḿnh và hoạ cho xă hội!..''. Nhiều śnh viên từ khóa l đến khoá VII vẫn khắc sâu trong tâm trí h́nh ảnh thày - một ông già dáng cao mảnh khảnh, trán cao và rộng mắt sâu lắng đầy suy tư, ít nói nhưng sâu sắc và thẳng thắn. Lúc nào cũng chỉ với bộ cánh trắng giàn dị, chiếc gậy mộc trên tay, chiếc đồng hồ quả quít gài trên ngực, bước đi châm răi, vừa đi vừa thở hổn hển, lúc lẩn khuất trong sương sớm, lúc nghiêng nghiêng trong ráng chiều trên sườn đồi Ma cải Thuỵ Vân.
Giữa cán bộ, nhân viên với thày giáo và sinh viên như những người thân. Đặc biệt chúng ta ghi nhớ nghĩa t́nh của anh chị em nuôi cả một chặng đường từ Phúc Xá đến Hà Đông. Chị em nào cũng nặng gánh gia đ́nh, con nhỏ, chồng ở xa, nhưng đều rất thông cảm với thày tṛ học hành vất vả. Những buổi lên lớp quá giờ, đi công tác về muộn, thế nào các chị cũng để giành cơm chu tất. Đội quân bền bỉ này đă đi suốt với trường trên mọi nẻo đường sơ tán đến ngày thắng lợi.
...
Nhưng em ơi có thể nào quên,
Đồi cọ Trung du, những chị dịu hiền,
Bên bếp lửa suốt ngày cặm cụi,
Lửa vă mồ hôi mắt mờ than bụi,
Quên cả thân ḿnh, quên cả con thơ,
Quên cả miếng ăn quên cả th́ giờ,
Thổi cho cơm ngon, nấu nồi canh ngọt.
Em ăn ngon chị ngời lên ánh mắt
Em vơ vàng chị ái ngại lo âu.
Tự sớm tinh mơ, công việc ngập đầu
Trời sập tối, chị giong đèn làm cá.
Đồi gập ghềnh trong những đêm lạnh giá,
Chợ xa về đầy thịt cá rau xanh.
Có nhớ không em, những bát cháo hành,
Đậm thắm t́nh người, khi ốm yếu.
Nơi xa dù say sưa nhịp điệu
Sắp xếp khối h́nh ô kính tường ngăn,
Đừng v́ đường xa, sông núi khó khăn,
Mà quên gửi lời thăm các chị.
Trích trong bài Nhắn nhủ (1967) của HS. Đặng Quí Khoa
T́nh cảm quí giá này như chất keo gắn kết một tập thể mạnh mẽ, vượt qua nhiều gian khổ, đưa nhà trường tiến lên trong những năm sáu mươi, bẩy mươi .
Thầy giáo Hoạ sỹ Đặng Quư Khoa được viên các khoá ngưỡng mộ về tài năng và phương pháp giảng dạy. Tuỳ đối tượng sinh viên khá, trung b́nh hay yếu, Ông có phương pháp dạy thích hợp. Ông coi trọng việc giảng lư thuyết kết hợp làm mẫu. Sinh viên được Ông hướng dẫn đều tiến bộ nhanh. Ông thuộc lầu văn hoá Đông - Tây. Những dẫn chứng dí dỏm của Ông trong các cuộc trao đổi nghệ thuật hoàn toàn chinh phục người nghe. Không chỉ giới hạn trong việc dạy vẽ, Ông c̣n quan tâm đến việc giáo dục ḷng say mê nghề nghiệp cho sinh viên. ông khuyên nhủ, góp ư nhẹ nhàng mang tính triết lí, tư vấn khi họ gặp trắc trở trong cuộc sống. Nghe Ông nói, họ như được thuốc tiên giảm hết phiền muộn. Năm 1984 Ông chuyển về Trường Đại học Mĩ thuật, được đề bạt làm Chủ nhiệm Khoa Lí luận, và được phong hàm Phó Giáo sư. Ông vẫn về thăm Trường Kiến trúc và thường xuyên gặp gỡ các lớp tṛ cũ của ḿnh.
II.5. Trở thành Khoa Kiến trúc đô thị Trường Đại học Xây dựng (10.1967 - 8.1969)
Năm 1966, Nhà nước thành lập Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Một loạt Trường Đại học mới ra đời, trong đó có Trường Đại học Xây dựng. Theo đề nghị của Bộ Đại học và TH chuyên nghiệp, tại cuộc họp Chính phủ ngày 7/6/1967, Chính phủ đă quyết định việc nghiên cứu sát nhập Lớp Đào tạo Kiến trúc sư vào Trường Đại học Xây dựng.
Ngày 2/8/1967, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và Bộ kiến trúc đă thảo thuận về nội dung và nguyên tắc bàn giao:
1) Bàn giao toàn bộ CBGD, CB lănh đạo, quản lí và phục vụ lớp Kiến trúc sư, toàn bộ sinh viên đang học ờ trường và sinh viên tuyển cho năm học 1967 - 1968, toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị của lớp kiến trúc sư cho Bộ Đại học và THCN.
2) Bàn giao chỉ tiêu biên chế năm 1967, chỉ tiêu tuyển sinh năm học 1967 - 1968, kinh phí năm 1967 của lớp Kiến trúc sư cho Bộ Đại học và THCN.
3) Thời gian bàn giao cần tiến hành khẩn trương bảo đảm kịp khai giảng vào đầu năm học 1967 - 1968.
Tháng 11.1967 đă hoàn thành việc bàn giao và di chuyển Lớp Đại học Kiến trúc trở thành khoa Kiến trúc Đô thị Trường Đại học Xây dựng. KTS. Nguyễn Nghi Chủ nhiệm khoa đầu tiên.
Khoa có 5 Bộ môn: Mĩ Thuật, Vật lí Kiến trúc, Kiến trúc dân dụng, Kiến trúc Công nghiệp, Qui hoạch Đô thị và Nông thôn.
Tổ trưởng các Bộ môn như sau:
Mĩ thuật: HS. Đặng Quí Khoa.
Vật lí Kiến trúc: TS. Phạm Ngọc Đăng
Kiến trúc dân dụng: KTS. Đoàn Văn Minh
Kiến trúc Công rlghiệp: TS. Hoàng Huy Thắng
Qui hoạch đô thị - nông thôn: KTS. Khổng Toán
Tại thời điểm này, khoa có 30 cán bộ giảng dạy.
Khoa Kiến trúc đô thị đào tạo 2 ngành chính: Kiến trúc sư và kĩ sư đô thị.
Ngành Kiến trúc có trên 180 sinh viên, gồm các lớp 63K, 64K, 65K, 66K, 67K, CT.66K. Ngành Đô thị có trên 120 sinh viên, gồm các lớp 64Đ, 65Đ, 66Đ, 67Đ. Năm học 1968 - 1969, qua ḱ thi năng khiếu tuyển được 80 sinh viên ngành kiến trúc - qui hoạch, trong số sinh viên đă được vào học Trường Đại học Xây dựng. Sinh viên khoá này được phiên chế thành 2 lớp 68K, 68Q.
Khoa sơ tán tại các làng Mai Thôn, Thuỷ Thôn, Măo Thôn, thuộc xă Chi Lăng, huyện Quế Vơ, tỉnh Hà Bắc. Đây là vùng quê ven sông Đuống, nơi có nhiều địa chỉ văn hoá kiến trúc xưa: Núi Thiên Thai, Bến Tiểu Than, Chùa Dâu, Chùa Bút Tháp, Chùa Phật Tíịch, Làng Đ́nh Bảng,...
Thực hiện phương thức vừa học vừa làm, Thày tṛ đă đóng góp nhiều phưng án qui hoạch nông trường, nông thôn mới (Lương Sơn Hoà B́nh, Việt Hùng Quế Vơ, Trác Bút Duy Tiên, ...). Thày giáo Trần Tía đă dựng tượng đài chiến thắng Cầu Đào cho địa phương.
Số cán bộ giảng dạy cơ bản, ngoại ngữ, chính thị và kết cấu từ Lớp Đại học kiến trúc chuyển về được phiên chế sang các khoa khác. Anh chị em vẫn được bố trí dạy ngành Kiến trúc đô thị và các khoa khác.
Các khoa của Trường Đại học xây dựng sơ tán trong các làng xóm dọc hai bờ sông Đuốg từ Mai Thôn Chợ Ch́ đến Cầu Đào Tiểu Than Gia Lương, xa tới 20km. Với chiếc xe đạp giă chiến, hàng ngày các thày đi đến các khoa truyền kiến thức cho sinh viên, không nề vất vả mệt nhọc. Trên đường đi dạy học, Nhà giáo Dương Tiến Thọ tức cảnh viết một bài thơ gửi bạn đồng nghiệp, để cảnh và t́nh người hồi ấy lưu đọng măi:
...
Sông uốn khúc đường xa theo khúc,
Bánh xe ṃn lóc cóc trên dường,
Đường mưa đường gió đường sương,
Mắt mờ ngoái lại, mơ màng t́m ai.
|