Một thời không xa
Mời quư độc giả t́m đọc tạp chí Kiến trúc & Đời sống tháng 11.2011, số đặc biệt kỷ niệm 30 năm thành lập hội Kiến trúc sư TP.HCM, phát hành trên toàn quốc từ ngày 3.11.2011.
Ngày 28.11.2011, hội KTS TP.HCM kỷ niệm 30 năm thành lập. Tạp chí Kiến trúc & Đời sống ra số đặc biệt chào mừng sự kiện này.SGTT.VN - Có lẽ là không đầy đủ, nhưng những người mà chúng tôi hân hạnh được tṛ chuyện dưới đây thực sự là những cây cổ thụ trong làng kiến trúc thành phố ta, là những người đă gắn bó, đóng góp không ít công lao cho kiến trúc thành phố nói riêng, và kiến trúc Việt Nam nói chung.
Xin gửi những trang báo này đến các bậc kiến trúc sư lăo thành thay cho những lời tri ân nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập hội Kiến trúc sư TP.HCM.
Nhóm phóng viên KT&ĐS được KTS Lê Văn Năm hẹn tiếp vào một buổi chiều tại nhà riêng. KTS Lê Văn Năm từng là phó chủ nhiệm rồi chủ nhiệm uỷ ban Xây dựng cơ bản; giám đốc sở Xây dựng (1979 – 1992); Kiến trúc sư trưởng TP.HCM (1992 – 2001); Phó tổng thư kư hội KTS TP.HCM từ lúc thành lập đến giữa khoá 1, Tổng thư kư từ giữa khóa 1 (1981- 1987) đến hết khóa 2 (1987- 1994), Chủ tịch hội khóa 3 (1994- 2000) và khóa 4 (2000- 2005).
Là người đứng đầu ở Hội và lănh đạo quản lư ở một thành phố sôi động như Sài G̣n – TP.HCM đúng thời kỳ mở cửa, ông có nhiều điều muốn chia sẻ. Cuộc phỏng vấn của phóng viên KT&ĐS lại trở thành buổi nghe kể chuyện. Nhưng câu chuyện của một thời chưa xa.
KTS Lê Văn Năm: Đến với hội trên tinh thần đồng nghiệp, b́nh đẳng.
1. Nói đến kỷ niệm thành lập hội KTS TP.HCM th́ không thể không nhắc đến nguyên Thủ tướng Vơ Văn Kiệt – chú Sáu Dân, người bạn lớn của giới kiến trúc sư như KT&ĐS từng nói. Có sự trùng hợp thú vị là tháng 11.2011 này, hầm Thủ Thiêm chính thức lưu thông, nối liền đại lộ Vơ Văn Kiệt qua bên kia sông Sài G̣n. Bây giờ nhớ lại, biết bao nhiêu sự kiện đă xảy ra mới có ngày người dân có thể đi từ bờ quận 1 qua bên kia sông, sang Thủ Thiêm. Con đường ngắn vậy mà phải đi rất nhiều năm. Lúc khởi động nghiên cứu dự án, có rất nhiều ư kiến khác nhau. Tôi nhớ, ư kiến chỉ đạo lúc bấy giờ là với đô thị lớn như TP.HCM, đường vành đai là không thể thiếu, nhưng đường xuyên tâm cũng rất cần thiết. Phương án bắc cầu qua sông Sài G̣n đoạn ở nhà máy Ba Son chưa thực hiện được. Phương án hầm d́m Thủ Thiêm được đưa ra làm trước theo quy hoạch tổng mặt bằng thành phố đă được chính phủ phê duyệt năm 1993. Anh em quy hoạch đề xuất giải pháp đường xuyên tâm qua thành phố theo hướng Đông – Tây có hầm nối với Thủ Thiêm. Phải nói là chúng tôi rất xúc động khi các cấp lănh đạo duyệt thông qua. Năm 2000 Thủ tướng phê duyệt quy hoạch chính thức, TP.HCM đă thực hiện đền bù giải toả mặt bằng trong bốn năm, gồm 6.754 hộ dân, 368 cơ quan trên tổng diện tích 201,63ha để đến năm 2005 khởi công.
Nay th́ đại lộ đă h́nh thành. Đại lộ mang tên Vơ Văn Kiệt, đi xuyên qua thành phố, nối từ phía tây sang phía đông. Đại lộ mang tên một con người, gợi nhớ rất nhiều kỷ niệm với hội KTS thành phố và nhiều anh, chị em hội viên đă có dịp làm việc với chú Sáu.
Tôi nhớ, chú Sáu bắt đầu có những buổi nghe báo cáo về quy hoạch từ khoảng năm 1976 – 1977, khi ông c̣n là chủ tịch Uỷ ban quân quản. Trước buổi nghe báo cáo, một hôm ông giao bên quân đội bố trí trực thăng để cùng nhóm chúng tôi quan sát và chụp h́nh thành phố từ trên cao. Nhân đây nói thêm, ư tưởng h́nh thành công viên Đầm Sen, công viên Chiến Thắng (hiện là công viên Hoàng Văn Thụ), công viên hồ Kỳ Hoà, công viên B́nh Tiên – B́nh Phú, công viên Lê Văn Tám, Lê Thị Riêng… là bắt đầu từ chuyến bay này. Trong buổi nghe về quy hoạch và hướng phát triển thành phố, ông đặc biệt quan tâm đến vùng TP.HCM, đến Nhơn Trạch, Biên Hoà, Tân An, Vũng Tàu.

Cao ốc Metropolitan là một trong 20 công tŕnh kiến trúc tiêu biểu thời kỳ đổi mới do hội KTS Việt Nam b́nh chọn.
Trước khi ra Hà Nội nhận công tác, cuối năm 1981, chúng tôi được gặp ông trong câu chuyện thân mật ở ngôi nhà ven sông tại Thủ Đức. Ông dặn ḍ, “Thành phố ḿnh lớn lắm, có vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Tôi tuy đi công tác xa nhưng vẫn nặng ḷng với thành phố”.
Lần cuối chúng tôi được bay trực thăng với ông là khoảng năm 1994, khi đó ông đang là thủ tướng. Chúng tôi đă dùng trực thăng quan sát bán đảo Thủ Thiêm, huyện Nhà Bè, B́nh Chánh, đô thị Phú Mỹ Hưng và đáp xuống chỗ nhà máy điện Hiệp Phước bây giờ. Đó là thời gian bàn về đại lộ Đông – Tây, con đường kết nối trung tâm hiện hữu của thành phố với khu đô thị mới Thủ Thiêm, h́nh thành bộ khung hạ tầng giao thông tạo tiền đề phát triển khu đô thị phía Đông thành phố; góp phần chỉnh trang đô thị, cải tạo môi trường khu vực dọc đại lộ, khôi phục cảnh quan “trên bến dưới thuyền” của Sài G̣n – Bến Nghé xưa… Ông khẳng định “trước sau ǵ cũng phải phát triển tiến về phía nam nhưng ở mức độ nào là điều phải tính”. Tuy không phải là kiến trúc sư nhưng ông có nhăn quan đặc biệt về kiến trúc, quy hoạch. Tầm nh́n của ông có tính chiến lược và có sức thuyết phục ghê gớm đối với giới kiến trúc sư.
2. Tôi có cái may mắn là người đóng cả hai vai, vừa làm quản lư, vừa làm công tác hội suốt thời gian dài. Hội KTS TP.HCM là một hội đoàn thể chính trị – xă hội – nghề nghiệp. Nhận thức rơ ràng như vậy để từ chân đứng nghề nghiệp, anh chị em phải làm tốt công tác phục vụ xă hội. Thành phố thời mở cửa, có rất nhiều chuyện để nhớ, để chiêm nghiệm (KTS Lê Văn Năm trầm ngâm).
T́nh h́nh chung của thành phố sau giải phóng c̣n vô vàn khó khăn, song các cấp lănh đạo đă sớm chủ động kiến nghị với trung ương cho tiến hành nghiên cứu quy hoạch cải tạo và xây dựng thành phố xứng với vị trí và tầm vóc của thành phố mang tên Bác Hồ. Trong giai đoạn ấy, lần đầu tiên lănh đạo đă mạnh dạn giao cho đội ngũ kiến trúc sư thành phố chủ tŕ phối hợp với các cơ quan liên đới nghiên cứu luận chứng kinh tế kỹ thuật rồi sau đó lập tổng mặt bằng TP.HCM. Sau hai lần điều chỉnh, đến nay, tổng mặt bằng TP.HCM được chính phủ phê duyệt lần đầu (1993) về cơ bản vẫn c̣n nguyên giá trị. Có thể nói, đây là sự kiện trọng đại đáng được ghi nhận về sự đóng góp của giới kiến trúc sư thành phố ta.
Về tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan đô thị, cũng c̣n không ít ưu tư. Khoảng năm 1993, có một cao ốc văn pḥng 11 tầng xây ở mặt tiền đường Nguyễn Du, phía sau trụ sở UBND TP.HCM. Tuy nhiên, phần chóp của cao ốc lại cao hơn trụ sở UBND nếu đứng nh́n từ phía trước UBND trên đường Nguyễn Huệ. Dư luận phê phán nổi lên, thậm chí c̣n xuất hiện tranh luận là nên đập hay không! Sau cùng, các nhà kiến trúc đă có giải pháp xử lư nhưng cần thấy rằng, đó mới chỉ là một công tŕnh có phần nào tác động đến cảnh quan đô thị ở khu vực nhạy cảm. Ngay sau đó là chuyện cao ốc Metropolitan ở góc đường Nguyễn Du – Đồng Khởi. Đến trước ngày ra giấy phép xây dựng, chúng tôi c̣n yêu cầu hoăn để chỉnh sửa phương án. Chủ đầu tư thậm chí c̣n đ̣i kiện lên uỷ ban Nhà nước về hợp tác đầu tư. Cuối cùng, chúng tôi cũng thuyết phục được chủ đầu tư chấp nhận lùi vào, nhường không gian cho lợi ích chung. Sau này, đây là một trong 20 công tŕnh được hội KTS Việt Nam trao giải “Công tŕnh kiến trúc Việt Nam tiêu biểu” thời kỳ đổi mới công bố năm 2008 với nhận xét của hội đồng tuyển chọn: “Cao ốc Saigon Metropolitan tại TP.HCM gồm hai khối nhà 12 và 16 tầng, có khoảng lùi vừa đủ để không lấn át không gian quảng trường. Công tŕnh có một sự thoả hiệp khéo léo, trong sự hoà hợp với những biểu tượng văn hoá của những giai đoạn lịch sử khác nhau của thành phố. Toà nhà đă thoả măn những đ̣i hỏi nghiêm túc về nghệ thuật kiến trúc và không gian đô thị ở một khu vực nhạy cảm của TP.HCM”.

Trụ sở UBND Q.10, công tŕnh do KTS Nguyễn Văn Tất chủ tŕ thiết kế, đă đạt giải nhất giải thưởng Kiến trúc quốc gia năm 2000 và là một trong 20 công tŕnh kiến trúc tiêu biểu thời kỳ đổi mới. Ảnh: T.A.D
Một thí dụ khác là công tŕnh trụ sở UBND Q.10. Khi đó, hội đồng kiến trúc quy hoạch thành phố đă họp và tranh luận vài lần, có người đồng ư và không đồng ư. Phần kết luận, tôi nhấn mạnh, chính chủ đầu tư đă đồng ư chấp thuận phương án của người thiết kế sau khi đă chỉnh sửa theo các thành viên hội đồng. V́ vậy, tôi khẳng định sự đồng t́nh của cá nhân, quyết định cấp phép xây dựng.
Đó là về cái lư, là quyết định của một kiến trúc sư trưởng. C̣n về một lẽ khác, công tŕnh này do một tổ hội viên có năng lực của hội KTS TP.HCM sáng tác, chủ tŕ là KTS Nguyễn Văn Tất. Về t́nh đồng nghiệp và sự cảm nhận sáng tạo của nghệ thuật kiến trúc, tôi đă “ăn ư” với công tŕnh này từ lúc mới đề xuất ư tưởng. Công tŕnh hoàn thành xây dựng năm 1999, được giải thưởng Kiến trúc quốc gia năm 2000 và cũng được chọn làm “Công tŕnh kiến trúc Việt Nam tiêu biểu” thời kỳ đổi mới với nhận xét:“Trụ sở UBND Q.10 TP.HCM là công tŕnh đột phá trong ngôn ngữ kiến trúc và quan niệm tổ chức không gian trụ sở công quyền Nhà nước, vượt ra khỏi sự sao chép trước đây. Công tŕnh với những đường cong mềm mại của khối h́nh và một chiều cao vừa phải, đường nét kiến trúc giản đơn, chắc khoẻ đă tạo được sự gần gũi với con người và là nét đặc trưng cần có của một trụ sở cơ quan chính quyền”.
Tôi kể chuyện này, mong muốn chia sẻ những ứng xử của người vừa làm quản lư vừa làm công tác hội. Làm quản lư th́ phải theo luật, theo hệ thống chính quyền. Làm công tác hội th́ b́nh đẳng. Đó là nguyên tắc. Hội chúng ta có điều đáng quư là anh em nhiều lứa tuổi, từ nhiều nguồn, trường lớp khác nhau, hoàn cảnh kinh tế, công việc, chức vụ cũng khác nhau nhưng đă đến với hội là trên tinh thần đồng nghiệp, b́nh đẳng, cởi mở, thân thiết, không đố kỵ. Mong rằng hội của chúng ta tiếp tục giữ vững được tinh thần này.
KTS Cổ Văn Hậu: Người thầy của nhiều thế hệ kiến trúc sư TP.HCM
Ông được biết đến là người rất đam mê và giỏi về cấu trúc không gian, kỹ thuật h́nh học và thực hiện mô h́nh kiến trúc, là người thầy của rất nhiều thế hệ KTS TP.HCM, với 42 năm giảng dạy (từ 1966 – 2008), ông đă góp phần đào tạo hơn 4.000 kiến trúc sư. Được học tṛ thân thương gọi là kiến trúc sư có ṿng một nhỏ nhất hội KTS TP.HCM, ông giáo Hậu cười vui trả lời: “Tụi nhỏ nó quậy tí cho vui, có mất mát ǵ đâu, tui là con thứ bảy trong nhà, ốm yếu từ nhỏ, mặc cảm lắm, nên làm ǵ tôi cũng phải quyết tâm làm cho thật tốt, có nghề nghiệp, có học tṛ thương mến, với tôi vậy là măn nguyện”. Là kiến trúc sư đa tài không chỉ với nghề, ông c̣n giỏi đàn piano, guitar, sáng tác nhạc và mới hai năm trở lại đây ông vẽ tranh. Lư giải cho thú vui tuổi già, ông tâm sự: “Già rồi, không đi dạy nữa, rảnh nên ở nhà làm đủ tṛ chơi cho vui”. Thế mà học tṛ cũ – mới cần ǵ, chạy đến ông đều được ông tận t́nh giúp đỡ, ông tâm niệm rằng: “Tôi đi dạy bằng cái tâm của ḿnh, học tṛ cần ǵ tôi giúp hết, với tôi c̣n sống là c̣n học, làm ǵ cũng nhờ cái tâm, ḿnh gieo ǵ th́ ḿnh sẽ gặt nấy”.
Ở tuổi 78, niềm đam mê công việc, nhiệt huyết với nghề, với câu chuyện kiến trúc, với hoạt động của hội KTS TP.HCM vẫn luôn được ông quan tâm và chia sẻ: “Kiến trúc thành phố có nhiều thay đổi về h́nh thức, nhu cầu, vật liệu, nhưng mang tư tưởng hướng ngoại nhiều hơn. Hễ nói ǵ đến yếu tố Việt, đến truyền thống th́ dễ bị chê, coi là lạc hậu, quê mùa. Thực ra trong cái yếu tố thuần Việt ấy có rất nhiều đặc trưng riêng, đâu phải cứ đội nón lá, ở nhà lá là xấu, vấn đề là ḿnh biết vận dụng, phối hợp, đặt đúng nơi đúng chỗ, sẽ phát huy được cái đẹp, cái duyên và cái đặc thù của kiến trúc Việt Nam. Một kiến trúc đẹp, hiện đại nhưng anh đặt sai chỗ mà quên đi yếu tố khí hậu th́ nó cũng trở thành thứ chướng mắt chứ không đem lại vẻ đẹp ǵ. Hơn nữa trong quy hoạch kiến trúc của ḿnh, từ nhà ở tư nhân đến các công tŕnh công cộng hay tức nhau tiếng gáy, v́ mê tín từ câu nói: “Nhà sau xây cao hơn nhà trước”, cái sau xây phải to lớn, đồ sộ hoành tráng hơn cái trước. Chính điều này khiến cho bộ mặt kiến trúc chung bị vỡ vụn hết. Trong quy hoạch, yếu tố kinh doanh được đặt nặng mà quên cái cảnh quan, cái môi trường sống… cùng với sự kết hợp hài hoà của lô đất và kiến trúc xây dựng trong lô đất ấy với không gian xung quanh. Chừng nào điều này chưa được coi trọng th́ chưa đem lại bộ mặt đẹp cho kiến trúc thành phố được”.
KTS Cổ Văn Hậu sinh năm 1934 tại Long An, tốt nghiệp đại học Kiến trúc Sài G̣n năm 1964.