
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, “ma trận” thủ tục hành chính và sự chồng chéo của các quy định pháp luật đã khiến nhiều dự án đầu tư quy mô lớn rơi vào tình cảnh “đắp chiếu”, “nằm im” trên giấy, không thể triển khai. Có những dự án mất hàng chục năm để hoàn tất các thủ tục. Sự trì trệ này không chỉ làm lãng phí nguồn lực mà còn kìm hãm đà tăng trưởng, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Trước thực trạng này, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.
Theo ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, cùng với Luật Quy hoạch (sửa đổi) đã được thông qua trước đó và có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, những sửa đổi quan trọng trong hai luật này được kỳ vọng sẽ tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi hơn, qua đó mở ra một chu kỳ tăng trưởng mới thông qua việc tháo gỡ điểm nghẽn, “cởi trói” cho các dự án đang đình trệ.
Xóa bỏ “ma trận” xin – cho, chuyển sang cơ chế “hậu kiểm”
Lâu nay, một trong những nguyên nhân khiến dòng vốn lớn bị chôn vào đất là thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Quy định cũ được thiết kế theo cơ chế “tiền kiểm” với nhiều tầng nấc thủ tục, buộc doanh nghiệp phải xin đi xin lại các loại giấy phép. Điển hình, một nhà đầu tư thực hiện dự án khu đô thị đã được chấp thuận chủ trương, nhưng khi xây dựng hạng mục sân golf ngay trong khu đô thị, doanh nghiệp lại có thể bị ách tắc và phải thực hiện lại thủ tục từ đầu.
“Điều này dẫn đến một hệ lụy tất yếu là trong khi các cơ quan quản lý nhà nước rơi vào tình trạng quá tải hồ sơ, e dè trong việc ra quyết định thì doanh nghiệp lại mệt mỏi vì chờ đợi và mất cơ hội kinh doanh”, ông Hiếu cho biết.
Để khắc phục tình trạng này, Luật Đầu tư (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua đưa ra nguyên tắc “chỉ chấp thuận chủ trương đầu tư một lần”. Đặc biệt, Luật áp dụng kỹ thuật lập pháp “danh mục loại trừ” (negative list). Theo đó, thay vì quy định theo hướng tất cả dự án đều phải qua thủ tục chấp thuận, luật xác định 20 trường hợp dự án có tính chất đặc biệt quan trọng, tác động lớn đến an ninh, quốc phòng, môi trường hoặc sử dụng quỹ đất lớn mới thuộc diện bắt buộc phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư. Các dự án không thuộc danh mục này sẽ không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư.
Theo ông Phan Đức Hiếu, sự “cởi trói” này sẽ giúp rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án từ vài năm xuống còn vài tháng, qua đó tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng chi phí cơ hội cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Một sửa đổi khác được Bộ Tài chính kỳ vọng sẽ góp phần giải quyết tình trạng chậm trễ trong xử lý hồ sơ đối với các siêu dự án công nghệ cao và dự án trọng điểm là thiết kế “quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt”.
Lâu nay, quy trình đầu tư thường mang tính “nối đuôi”, khi thủ tục này là đầu vào của thủ tục kia: đăng ký đầu tư → thẩm định công nghệ → đánh giá tác động môi trường → giấy phép xây dựng, phòng cháy, chữa cháy… Vì vậy, chỉ cần một khâu bị ách tắc, toàn bộ dự án có thể đình trệ trong thời gian dài.
Để phá vỡ sức ì này, luật mới cho phép áp dụng nguyên tắc “hậu kiểm” và “tiến hành song song”. Theo đó, doanh nghiệp có thể triển khai đồng thời các thủ tục và nộp hồ sơ cùng lúc cho cơ quan quản lý trên cơ sở đăng ký, cam kết; cơ quan quản lý sẽ thực hiện kiểm tra, nghiệm thu khi dự án hoàn thành.
“Tất cả những quy trình này được tiến hành đồng thời. Khi dự án đầu tư đưa vào hoạt động thì yêu cầu lớn nhất là tất cả các quy trình này phải hoàn thành. Điều đó giải quyết được hai câu chuyện căn cơ: một là, tổng thời gian rút ngắn đáng kể; hai là, tránh được việc tắc ở một quy trình dẫn đến tắc toàn bộ dự án”, ông Phan Đức Hiếu nhấn mạnh.
Để tiếp tục khắc phục tình trạng “sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm”, luật mới cũng đẩy mạnh phân cấp, chuyển giao thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư từ tập thể sang cá nhân người đứng đầu, như Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh. Việc gắn thẩm quyền với trách nhiệm cá nhân cụ thể được kỳ vọng tạo động lực cho quá trình ra quyết định, hạn chế tình trạng trì trệ, đồng thời đẩy nhanh việc xử lý các hồ sơ tồn đọng và giải phóng nguồn lực cho nền kinh tế.
Áp dụng cơ chế “1+1”, phá vỡ sự chồng chéo trong quy hoạch
Nếu Luật Đầu tư được xem là một trong những thay đổi quan trọng liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, thì Luật Quy hoạch sửa đổi, ban hành ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, lại tập trung tháo gỡ nút thắt liên quan đến không gian phát triển.
Thực tế thời gian qua cho thấy không ít dự án, trong đó có những dự án có tiềm lực mạnh, phải “phơi sương” chỉ vì sai lệch vài mét hoặc công năng thay đổi đôi chút so với quy hoạch.
Theo ông Phan Đức Hiếu, điểm yếu của quy định trước đây nằm ở tư duy làm quy hoạch quá cứng nhắc, mang nặng tính hình thức. Các cơ quan quản lý thường yêu cầu bản vẽ chi tiết của dự án phải khớp nối một cách “cơ học”, chính xác với từng nét vẽ trên bản đồ quy hoạch tỷ lệ lớn được phê duyệt từ nhiều năm trước, bất chấp những biến động của thực tiễn.
Vì vậy, Luật Quy hoạch sửa đổi đã định nghĩa lại quy hoạch theo hướng coi đây là công cụ định hướng không gian phát triển, qua đó khắc phục tình trạng “bó cứng” không gian và tạo dư địa linh hoạt hơn cho nhà đầu tư cũng như địa phương.
“Bản thân quy hoạch là định hướng. Vì thế, chúng ta không thể bó cứng các hoạt động kinh tế xã hội tại thời điểm làm quy hoạch cho tương lai”, ông Hiếu phân tích. Tuy nhiên, theo ông Phan Đức Hiếu, một trong những cải cách quan trọng của Luật Quy hoạch sửa đổi nhằm khơi thông các dự án “đắp chiếu” là xử lý tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các lớp quy hoạch, từ quy hoạch tỉnh, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng đến quy hoạch quốc gia.
“Một dự án có thể hoàn toàn phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, nhưng lại vô tình vi phạm một phần nhỏ trong quy hoạch ngành giao thông do Bộ Giao thông Vận tải (nay là Bộ Xây dựng) ban hành từ lâu. Hệ quả là dự án không được xử lý, còn cơ quan quản lý thì đùn đẩy trách nhiệm. Cuối cùng, dự án bị đình trệ vô thời hạn và chờ hướng dẫn từ Trung ương”, ông Hiếu cho biết.
Để xử lý tình trạng này, Luật Quy hoạch (sửa đổi) đưa ra cơ chế “1+1” nhằm giải quyết xung đột giữa các quy hoạch. Theo tinh thần của cơ chế này, ở mỗi giai đoạn thẩm định dự án, cơ quan nhà nước chỉ sử dụng một bản quy hoạch gần nhất, cập nhật nhất và phù hợp nhất với cấp độ thẩm định để làm căn cứ pháp lý.
Trong trường hợp phát hiện các bản quy hoạch mâu thuẫn nhau, cơ quan quản lý phải sử dụng quy hoạch cấp cao hơn làm “quy hoạch thực hiện” để dự án tiếp tục được triển khai. Bản quy hoạch còn lại nếu có sai lệch sẽ trở thành “quy hoạch điều chỉnh” và cơ quan nhà nước có trách nhiệm tự điều chỉnh, sửa đổi để bảo đảm đồng bộ, thay vì yêu cầu doanh nghiệp dừng dự án để chờ xử lý.
“Cơ chế 1+1 đã chuyển gánh nặng xử lý xung đột pháp lý từ phía doanh nghiệp sang hệ thống quản lý nhà nước. Đó không chỉ là sự thay đổi về luật, mà còn là sự thay đổi sâu sắc về tư duy Nhà nước kiến tạo. Khi những rào cản thể chế được dỡ bỏ, những dự án nghìn tỷ sẽ sớm được triển khai và có đóng góp to lớn cho tăng trưởng của nền kinh tế trong tương lai”, ông Phan Đức Hiếu khẳng định.
Ngân Hà

