Ashui.com

Thursday
Nov 21st
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Chuyên mục Quy hoạch đô thị Quản lý phát triển đô thị bền vững - Một số bài học kinh nghiệm

Quản lý phát triển đô thị bền vững - Một số bài học kinh nghiệm

Viết email In

1. Mở đầu:

Mức độ đô thị hóa đang tăng lên nhanh chóng ở Việt Nam, đạt khoảng 30% hiện nay với trên 750 đô thị, 180 khu công nghiệp tập trung, nhiều đô thị mới và khu kinh tế đặc thù trong cả nước. Quá trình đô thị hoá mang lại nhiều hiệu quả tích cực song cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề bất cập trong quy hoạch và quản lý đô thị liên quan đến các khía cạnh về kinh tế - xã hội và môi trường.

Các đô thị đang gặp nhiều khó khăn và chịu ảnh hưởng sâu sắc của bùng nổ đô thị trên mọi phương diện, đặc biệt là công tác quản lý phát triển đô thị. Chính quyền đô thị tại hầu hết các đô thị Việt Nam, đặc biệt là ở những đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối mặt với những thách thức của quá trình đô thị hóa nhanh và phát triển, cụ thể là: Sự phát triển mất cân đối; Sự phát triển thiếu bền vững; Năng lực quản lý hành chính của chính quyền đô thị đã vượt quá khả năng điều hành của chính quyền địa phương; Vấn đề an toàn xã hội, điều phối thu nhập và đói nghèo của đô thị.

Đô thị phát triển bền vững thường phải được quan tâm trong suốt quá trình triển khai xây dựng và hoạt động. Do đó, công tác quy hoạch đô thị phải được coi là một quá trình và công tác quản lý đô thị phải được lưu ý đặc biệt, khi mà quy mô đô thị ngày càng tăng. Hiện nay, công tác quản lý đô thị mới thực sự được đặt đúng vị trí và tầm quan trọng của nó trong phát triển đô thị. Một loạt các Luật, Nghị định và các Văn bản dưới luật, v.v... được ban hành đã phần nào đưa công tác quy hoạch và quản lý đô thị từng bước nâng cao và có hiệu quả. Việc học tập kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới và các nước trong khu vực là hết sức cần thiết và có ý nghĩa, từ đó chọn cho mình đường đi ngắn nhất, vận dụng linh hoạt và phù hợp với điều kiện thực tế của từng đô thị, từng tỉnh để xây dựng và quản lý đô thị hiệu quả.

Bài viết này trình bày vài nét về đô thị bền vững và một số bài học kinh nghiệm quốc tế, từ các nước phát triển trên thế giới như Canada, Thuỵ Điển, Pháp, Hà Lan, Ai Cập; trong châu lục như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Srilanka, Pakistan; và trong khu vực ASEAN như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia.

2. Vài nét về đô thị bền vững:

Trong một đô thị, có ba loại hình môi trường khác nhau cùng tồn tại: môi trường vật chất (tự nhiên và xây dựng), môi trường kinh tế và môi trường xã hội. Cả ba loại hình này cần phải cùng được xem xét, bởi vì chúng quan hệ rất chặt chẽ với nhau, hoặc đại diện hoặc cùng lúc biểu thị các mục tiêu, phương tiện và khó khăn tới các hoạt động của con người trong đô thị. Một đô thị được coi là bền vững khi tổng hiệu quả tốt của ba hình thái môi trường lớn hơn tổng của các hậu quả xấu.

Sự tác động giữa môi trường kinh tế và môi trường vật chất thường được đặc trưng bằng nhiều yếu tố bất lợi từ bên ngoài. Các ảnh hưởng xấu sinh ra từ các hoạt động kinh tế trong đô thị lên môi trường vật chất rất rõ ràng, có thể xác định là thảm họa về môi trường sinh ra từ đô thị, sự giảm sút của tài nguyên thiên nhiên, tiếng ồn, ô nhiễm nước và không khí, sự thu hẹp của các không gian xanh, tắc nghẽn giao thông và việc sử dụng quá mức năng lượng.

Sự tác động giữa môi trường kinh tế và xã hội làm tăng lên các hiệu quả kể cả thuận lợi và bất lợi. Hiệu quả thuận lợi xuất phát từ các dịch vụ xã hội như giáo dục, sức khoẻ, tiện nghi xã hội và những nghề nghiệp có chất lượng. Ngược lại, các yếu tố bất lợi về kinh tế có thể gây ra các hậu quả xấu về môi trường xã hội.

Sự tác động thứ ba nêu lên những thuận lợi và khó khăn xuất phát từ các môi trường vật chất và xã hội. Các khu cây xanh cho sinh hoạt công cộng là nguồn môi trường tốt cho phúc lợi xã hội. Mặt khác, sự xuống cấp của các công trình lịch sử, sự mất mát của những công trình văn hoá hoặc các vấn đề về sức khoẻ đô thị là những ví dụ về hậu quả của môi trường vật chất lên môi trường xã hội.

Nhiều tài liệu cho rằng một trong những đòi hỏi ban đầu cho phát triển đô thị bền vững là khả năng tồn tại lâu dài, với ba yếu tố cơ bản:

  1. Phương tiện sinh sống (sự đầy đủ về nước sạch, thực phẩm, không khí, không gian trống, năng lượng và xử lý chất thải);
  2. An toàn (không có chất độc, bệnh tật, tiếng ồn và các mối nguy hiểm trong môi trường);
  3. Hài hoà (mức độ của mỗi cá nhân cảm nhận sự tiện lợi đối với môi trường xung quanh).

Một số điểm quan trọng được xem xét ở đô thị bền vững có thể là: Sự tham gia của dân cư trong việc quyết định chính sách và phát triển cộng đồng; Hình dáng cấu trúc của đô thị liên hệ chặt chẽ với tính chất sử dụng; Sự liên kết cao hơn giữa các khu vực tự nhiên và khu vực xây dựng; Đi bộ, xe đạp và giao thông công cộng là hình thức cơ bản của giao thông; Có tính tập thể về bảo tồn văn hoá và tài nguyên tự nhiên cho các thế hệ mai sau; Cung cấp các cơ hội công bằng về chất lượng sống cho mọi người trong cộng đồng; Giảm chi phí về năng lượng và tài nguyên; Giảm mức độ chất thải do tái chế.

Tóm lại, đô thị bền vững là một đô thị được phát triển dựa trên cơ sở bền vững của các yếu tố chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường và kinh tế. Dân cư hiện tại và những thế hệ tương lai đều có được cuộc sống hạnh phúc, có đầy đủ phúc lợi và các dịch vụ công cộng cơ bản, có sức khoẻ, được đảm bảo an toàn, giáo dục và đối xử công bằng. Được tận hưởng bản sắc văn hoá dân tộc, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng, có quyền chăm lo, bảo vệ cảnh quan và môi trường.

Hiện nay ở Việt Nam, nhiều yếu tố thuận lợi thúc đẩy mọi mặt quá trình phát triển đô thị bền vững. Tuy nhiên bên cạnh đó, nhiều vấn đề còn cần phải nghiên cứu khắc phục, như: Quy hoạch đô thị đôi khi vẫn bị coi là một sản phẩm, chưa phải là một quá trình; Cơ chế, thể chế triển khai quy hoạch còn chưa rõ ràng, phương pháp lập quy hoạch chưa hiện đại; Vốn dành cho công tác quy hoạch đô thị còn ít, quá trình xây dựng theo quy hoạch còn chậm; Thiếu sự tham gia của cộng đồng trong suốt quá trình phát triển đô thị; Thiếu sự phối hợp giữa các chuyên ngành, thiếu sự đồng bộ giữa các công trình hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật; và Công tác quản lý đô thị nói chung ở mọi khâu còn yếu kém.

Để có được các đô thị phát triển bền vững, ngoài việc tận dụng và phát huy nội lực, việc tranh thủ ngoại lực, học tập các kinh nghiệm của thế giới và khu vực, rút ra bài học cho đất nước là hết sức cần thiết.

3. Một số bài học kinh nghiệm về quy hoạch, quản lý đô thị:

3.1. Quy hoạch - Kiến trúc đô thị:

Tại Thụy Điển, nằm bên hồ lớn nhất đất nước Mälaren là thành phố Vasteras (ảnh bên) với ảnh hưởng đặc biệt của phong cách kiến trúc thế kỷ XIII. Vasteras có rất nhiều công trình cổ mang dấu ấn của lịch sử phát triển, ở đây, việc bảo tồn luôn luôn được quan tâm để phù hợp và hài hoà với sự phát triển của kiến trúc hiện đại và cảnh quan kiến trúc chung.

Về quy hoạch và kiến trúc, chính quyền thành phố hết sức lưu ý việc đầu tư xây dựng trong quá trình phát triển đảm bảo mối liên hệ với môi trường, cảnh quan và hệ sinh thái hồ. Cụ thể về gìn giữ môi trường, mặt nước hồ được quan tâm đặc biệt, tất cả hệ thống nước thải dân dụng, công nghiệp và nước mặt đều được tập trung vào một nhà máy để xử lý trước khi đổ vào hồ. Hồ Malaren có một hệ thống đường dạo với chiều rộng từ 10-20 mét bao quanh và một hệ sinh thái rừng ôn đới tự nhiên với thảm thực vật phong phú. Về quản lý kiến trúc, các công trình xây dựng đều phải thấp dần về phía bờ hồ để đảm bảo tầm nhìn và mỹ quan. Tại đây, việc khai thác phong cách kiến trúc truyền thống của Thụy Điển thế kỷ XIII được ủng hộ triệt để và quan tâm đặc biệt.

Tại Trung Quốc, một trong những yếu tố đem lại thành công là hệ thống văn bản pháp luật cũng như bộ máy thi hành pháp luật rất nghiêm khắc, công tác giải phóng mặt bằng được tập trung vốn, triển khai nhanh và đầu tư dứt điểm cho từng dự án. Do vậy, các công trình xây dựng và các tuyến đường trong đô thị được cải tạo, mở rộng và tiến hành theo đúng kế hoạch, quy hoạch được duyệt.

Về kinh nghiệm trong quản lý bảo tồn di sản đô thị, các biện pháp kiểm soát phát triển khu vực Tây Hồ thuộc Hàng Châu, một viên ngọc trong chuỗi điểm du lịch của Trung Quốc là một ví dụ. Với vẻ nguyên sơ như xưa, mỗi năm Tây Hồ có tới 10 triệu du khách tham quan, trong đó 2 triệu du khách đến từ nước ngoài. Đến đây, du khách như lạc vào một thế giới khác; bờ hồ được kè bằng đá, bên cạnh vẫn nguyên vẹn từng bụi cây, từng phiến đá lát đường, từng gốc liễu cổ thụ rủ bóng ven hồ. Những mái ngói cổ kính còn vẹn nguyên với cỏ dại và rêu xanh phủ đầy trên mái. Dọc trên 6 km vòng quanh hồ không hề có bất kỳ một công trình kiến trúc mới nào. Xa xa, hút tầm mắt mới thấy những toà nhà cao tầng, những công trình kiến trúc mới của Hàng Châu, thủ phủ tỉnh Triết Giang. Như vậy những gì tân kỳ, hiện đại đều được bố trí lùi xa, khuất sau Tây Hồ và bàn tay con người không can thiệp thô bạo vào thiên nhiên và những gì mà người xưa để lại.

Tại Singapore, là một quốc gia - đô thị với hệ thống tập trung cao độ, cả nước chỉ có một tổ chức chịu trách nhiệm về xét duyệt quy hoạch và đầu tư - Cơ quan tái phát triển đô thị. Tính tập trung, công khai và mục đích quy hoạch cùng với công tác quy hoạch kiểm soát và quản lý theo quy hoạch rõ ràng nên quản lý quy hoạch kiến trúc ở Singapore hoạt động rất có hiệu quả.

Từ cuối những năm 1980, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá đô thị mới được đặc biệt chú ý. Nguyên tắc phổ biến về bảo tồn di sản kiến trúc đô thị ở Singapore chủ yếu là xây dựng mới theo hình thức cũ và bổ sung các chức năng mới theo hướng hiện đại. Việc bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống, giữ gìn cảnh quan tập trung vào các vấn đề: lối sống, nghề truyền thống, hình thức kiến trúc nhà ở và các di sản văn hoá có giá trị (đền, chùa, thành quách, dinh, thự…). Khai thác các giá trị văn hoá truyền thống tạo được thế mạnh trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ du lịch, đây là quan điểm bảo
tồn các quần cư truyền thống khá triệt để, có chọn lọc, thậm chí mang cả ý nghĩa giáo dục thông qua các tổ chức tham quan du lịch và bảo tồn.


Kuala Lumpur 

Tại Malaysia, lấy trường hợp Kuala Lumpur làm ví dụ thì quy trình lập, xét duyệt và xây dựng các quy định kiểm soát phát triển đô thị không khác nhiều so với những nước khác. Sự khác nhau chủ yếu là ở hệ thống xét duyệt đầu tư xây dựng. Nếu như Singapore có đặc điểm tập trung cao độ thì ở Kuala Lumpur là hệ thống các Ban hoặc Uỷ ban trên cơ sở phân cấp, phân quyền quản lý. Hệ thống các Ban này làm việc trên nguyên tắc phối hợp tập thể trước khi ra quyết định đầu tư phát triển đô thị. Mô hình quản lý Kuala Lumpur thể hiện tính dân chủ trong các quyết định. Mô hình này chỉ thực sự hoạt động có hiệu quả khi các thành viên trong hội đồng làm việc công tâm và trên những nguyên tắc, quy định chặt chẽ. Trong lĩnh vực phát triển đô thị, thành công cần được nhấn mạnh trong trường hợp Kuala Lumpur là vấn đề bảo tồn và phát triển làng trong đô thị với cấu trúc đô thị hiện đại.

3.2. Quản lý đất đai xây dựng đô thị:

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số đô thị trên thế giới, để nâng cao hiệu quả quản lý đất xây dựng cần giải quyết tốt ba vấn đề: i) Nội dung và phương pháp lập và xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị; ii) Chính sách quản lý đất đai xây dựng đô thị; iii) Quản lý khai thác đất xây dựng đô thị.

Tại Pháp, Chính phủ đã áp dụng ba chính sách chủ yếu cho công tác quản lý đất đô thị trên cơ sở quy hoạch đô thị được duyệt:

- Chính phủ cho phép mua trước đất nhằm tránh những khó khăn phát sinh từ tình trạng khan hiếm đất dùng cho xây dựng nhà ở. Luật Quy hoạch quy định dành các khu vực dự trữ ưu tiên cho việc mua đất phục vụ xây dựng nhà ở nhằm tránh các cơn sốt của thị trường, ngăn chặn nguy cơ đầu cơ, đồng thời giải quyết việc tồn tại quá độ trong vòng 15 năm của các bất động sản nằm trong vùng dự trữ.

- Chính quyền đô thị được mua trước những bất động sản của người có nhu cầu bán, làm quỹ dự trữ để chủ động cho việc thực hiện quy hoạch đô thị.

- Chính phủ Pháp có sự phối hợp chặt chẽ với các chính quyền địa phương về đầu tư và phát triển đất xây dựng đô thị và thị trường bất động sản. Chính phủ có Ban thư ký về đô thị, là đầu mối giữa chính quyền Trung ương, chính quyền địa phương và các cơ quan hợp tác phát triển công cộng. Khi dự án được xác định, cơ quan hợp tác phát triển công cộng là tổ chức chịu trách nhiệm chuẩn bị đất đai và thực hiện xây dựng hạ tầng cho đô thị mới. Hội đồng liên tỉnh về phát triển đô thị là cơ quan quản lý xây dựng đô thị, xem xét các dự án cấp giấy phép và xây dựng các công trình trong đô thị mới... Việc xây dựng đô thị mới dựa vào hệ thống hành chính hiện có và các nguồn tài chính trong nước là chủ yếu, được hỗ trợ bởi một khung giá đất ổn định đảm bảo cho việc đầu tư lâu dài.

Tại Trung Quốc, mô hình quản lý đất đô thị được xây dựng bằng việc thành lập một cơ quan hành chính đặc biệt, do một tổ chức thay mặt Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước toàn diện. Tổ chức này có thể do Chính phủ thành lập, cũng có thể là một cơ quan liên chính phủ hay là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo một cơ chế đặc biệt, theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Việc đầu tư xây dựng nhà ở có thể do doanh nghiệp trong nước hoặc phối hợp với các doanh nghiệp nước ngoài. Đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, đền bù giải phóng mặt bằng được điều tiết bằng Luật.

Tại Hàn Quốc, việc xây dựng đô thị mới được thực hiện trên cơ sở phối hợp giữa Chính phủ và khu vực tư nhân, quản lý bởi Văn phòng phát triển đô thị mới trực thuộc Bộ Xây dựng. Cơ quan xây dựng hạ tầng đô thị là Tập đoàn phát triển đất Hàn Quốc, có trách nhiệm mua đất để xây dựng nhà ở bằng các khoản ứng trước của các nhà đầu tư và các khoản tín dụng. Tập đoàn thanh toán lại cho các nhà đầu tư bằng đất đã có hạ tầng tín dụng, được hỗ trợ bằng chính sách trưng mua đất đai trong các đô thị dựa chủ yếu vào nguồn lực trong nước, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một tăng lên về nhà ở của các đô thị, thúc đẩy đô thị phát triển một cách có hiệu quả.

Tại Philippines (ảnh bên: Manila), hoạt động quản lý đô thị dựa vào các điều khoản của Hiến pháp và Pháp luật, đề cập tới sự phân loại, chuyển nhượng, chuyển dịch và phát triển tài nguyên đất đai. Đất đai được xem như một bất động sản đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước, không được phép chuyển dịch hay chuyển nhượng từ đời này sang đời khác. Sự chia nhỏ quyền sở hữu đất dựa trên Sắc lệnh về bảo đảm bất động sản và Sắc lệnh bảo vệ người mua. Chính quyền địa phương bảo đảm sở hữu đất được cấp cho Chính phủ hay các cá nhân.

Việc chuyển đổi đất đai từ đất nông nghiệp sang các chức năng khác phải thực hiện theo Sắc lệnh, giới hạn trong phạm vi từ 5% - 15% của vùng đất nông nghiệp. Những nơi đất đai không còn giá trị kinh tế cho mục đích nông nghiệp và những nơi đất đai có thể có giá trị kinh tế lớn cho mục đích ở, kinh doanh hay công nghiệp được quyết định bởi Hội đồng luật pháp địa phương.

Đất chuyển dịch là những vùng đất xấu, đất thu góp hay đất hợp tác xã, quỹ đất quyên góp cho Chính phủ. Mức độ giá trị của đất được xác định bằng việc phân loại đất, giá thị trường và thuế. Giải pháp hành chính của việc công nhận quyền sở hữu thông qua việc quyết định cấp giấy đăng ký tự do.

Tại Malaysia, hầu hết vấn đề đất đai nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Trung ương, trong khi việc trao quyền sử dụng đất và khai thác sử dụng đất chi tiết lại nằm trong phạm vi kiểm soát của chính quyền địa phương. Một trong những công cụ quan trọng nhất để quản lý đất đai ở Malaysia là kiểm soát sự phát triển. Chính quyền địa phương chuẩn bị hồ sơ quy hoạch của các khu vực trong phạm vi có khả năng phát triển, trên đó chỉ ra rất chi tiết khả năng có thể hoặc không thể xây dựng.

Malaysia ban hành Luật Bảo hộ quyền sử dụng đất, kiểm soát toàn bộ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phân chia đất và những điều kiện đánh thuế trên mục đích sử dụng đất. Một trong những công cụ hiệu quả cho sự phát triển là thu lại đất của tư nhân dành cho mục đích công cộng. Những bổ sung gần đây cho phép chính quyền thu hồi đất cho bất kỳ mục đích sử dụng nào phù hợp với chính sách phát triển của Nhà nước. Thuế đất ở Malaysia bao gồm thuế đánh vào bất động sản được thu bởi chính quyền địa phương, lãi của bất động sản và những thuế thu được từ chính quyền bang, thuế được thu hàng năm bởi chính quyền nhà nước, và những khoản tiền lãi khi chuyển nhượng đất.

Bộ luật Quy hoạch đô thị và nông thôn cho phép các chính quyền địa phương đánh “thuế phát triển” vào các phần đất có giá trị tăng lên nhờ kết quả của quy hoạch, hình thức thuế này được sử dụng như một công cụ của công tác quản lý đất đai đô thị. Thuế phát triển hạ tầng cơ sở, thuế lợi tức của bất động sản được đánh vào các phần lãi từ những đầu tư trên đất. Tỷ lệ thu thuế trong khoảng 5% – 50% lợi tức, phụ thuộc vào khoảng thời gian từ khi mua đến khi bán đất.

3.3. Giao thông công cộng:

Quản lý giao thông xe buýt công cộng ở một số thành phố của các nước trong khu vực có những nét khác biệt với các thành phố thuộc các nước phát triển. Có hai quan điểm quản lý giao thông xe buýt là quản lý theo nhu cầu (ví dụ Bangkok, Thái Lan) và quản lý với quan điểm cung cấp là chủ yếu (ví dụ Singapore).

Bangkok có số dân khoảng 9 triệu người. Tại Bangkok, tổ chức quản lý giao thông xe buýt công cộng thuộc thẩm quyền của Cục Quản lý giao thông công cộng. Đội xe buýt có gần 5.000 chiếc chạy trên một số đường phố (khoảng 250 km) có làn dành riêng đã được hình thành nhằm giúp cho xe lưu thông thuận lợi (ảnh bên). Bên cạnh đó là việc huy động trên 2.000 xe tuktuk do tư nhân khai thác. Bangkok có nhiều kinh nghiệm trong việc đưa vào sử dụng loại xe mini buýt để bổ sung cho các xe buýt tiêu chuẩn theo nhu cầu sử dụng và thực trạng của từng đường phố trên mạng lưới đường.

Singapore là một quốc đảo có khoảng 4,5 triệu dân, trên diện tích 692 km2 với hơn 3.000 km đường. Số lượt di chuyển đã tăng 160% trong vòng 10 năm, số lượt đi lại mỗi ngày ước tính lên đến khoảng10 triệu vào năm 2010. Cục Giao thông đường bộ là cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về tất cả các dịch vụ liên quan đến vận tải. Cơ quan này có chức năng quy hoạch, phát triển, thực hiện, quản lý hạ tầng cơ sở và các chính sách về giao thông vận tải, có trách nhiệm thường xuyên nghiên cứu khả năng phát triển, quản lý và điều hành hệ thống giao thông đô thị và giao thông hành khách công cộng.

Bốn trọng tâm chính trong chiến lược phát triển giao thông là:

- Phối hợp chặt chẽ giữa quy hoạch phát triển không gian và vận tải nhằm tối ưu hoá nhu cầu đi lại bằng cách phát triển khu dân cư đô thị gắn với hệ thống giao thông công cộng, tập trung dân cư sống quanh các bến xe lớn. Phát triển một mạng lưới đường phố thống nhất đáp ứng nhu cầu đi lại bằng những biện pháp quản lý giao thông.

- Phát triển hệ thống giao thông hành khách công cộng có chất lượng tốt nhằm tối ưu hoá nhu cầu đi lại bằng một hệ thống đầy đủ, liên thông hợp lý và hữu hiệu.

- Chủ động quản lý nhu cầu để giải quyết sự ùn tắc giao thông bằng cách kiểm soát phương tiện giao thông cá nhân (hệ thống hạn ngạch xe) trên đường và thiết lập trạm thu thuế cầu đường trong thành phố.

- Việc đầu tư giao thông dựa trên mô hình: Nhà nước chịu trách nhiệm bỏ vốn đầu tư, nhất là phần hạ tầng kỹ thuật; Người sử dụng trả tiền dịch vụ và chi phí khai thác (giá cước thực tế); Chủ khai thác chịu trách nhiệm về chất lượng và hiệu quả của dịch vụ dưới sự giám sát của Uỷ ban giao thông công cộng.

Như vậy, ưu điểm về quản lý giao thông công cộng tại Singapore là sớm nhận thức được việc cần phải phát triển hệ thống xe buýt theo quan điểm cung cấp là chủ yếu kết hợp với việc kiểm soát chặt chẽ và kiềm chế sự phát triển các phương tiện cá nhân.

3.4. Môi trường đô thị:

Tại Hà Lan, hàng năm có tới 21 triệu tấn chất thải, 60% đổ ở các bãi chôn lấp, phần còn lại đưa vào các lò đốt rác hay tái chế. Để bảo vệ môi trường, mục tiêu giảm khối lượng chất thải hàng năm rất được quan tâm ở đất nước này. Hà Lan đã xây dựng một khu liên hợp xử lý chất thải rắn. Tại khu liên hợp người ta chôn lấp một khối lượng lớn các loại rác thải và chất thải độc hại sau xử lý (trước đây thường được tiêu huỷ ngoài biển), số còn lại được xử lý bằng những lò đốt với kỹ thuật mới nhất và sản xuất phân compost bằng phương pháp ủ hoặc ứng dụng những quy trình kỹ thuật đặc biệt sản xuất các loại nguyên liệu mới. Việc xử lý chất thải rắn ở Hà Lan đã xuất hiện một ngành kinh tế mới mang tính kinh doanh, áp dụng công nghệ tiên tiến và đầu tư lớn.

Tại Ai Cập, thủ đô Cairo có 12 triệu dân với lượng rác thải hàng ngày tới 6.000 tấn. Để làm sạch thủ đô có nhiều nguồn chất thải, tại thành phố đã hình thành một đội ngũ công nhân vệ sinh gồm 45.000 người, chia làm 3 ca quét dọn, thu gom. Thành phố còn xây dựng một nhà máy xử lý chất thải, mỗi ngày chế biến 80 tấn thành phân bón để cải tạo sa mạc. Tại thủ đô Cairo, việc xã hội hoá thu gom rác thải được làm rất tốt, ngoài công ty nhà nước còn có 44 công ty tư nhân thu gom rác thải, họ đưa túi nilon tới từng gia đình để đựng rác. Công tư tư nhân cho xe đến thu gom rác thường xuyên và thu lệ phí hàng tháng. Các công ty này có quyền kinh doanh việc xử lý chất thải và tái chế thành phẩm.

Tại Singapore, chất thải được phân loại và thu gom bằng túi nylon từ nơi phát sinh, sau đó xử lý bằng phương pháp đốt tại 5 nhà máy công suất 9.000 m3/ngày, với công nghệ hiện đại đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường, nhiệt lượng thu từ các lò đốt được dùng để phát điện. Các chất tái chế được như giấy, chai lọ, dầu thải công nghiệp được xử lý, sử dụng lại.

Việc thu gom chất thải do các công ty tư nhân đảm nhiệm, lệ phí thu gom cho mỗi hộ gia đình một tháng có thời điểm là 6 đôla Mỹ, với căn hộ có sân vườn là 11 đôla Mỹ. Hiện nay các công ty thu gom chất thải đang chuyển sang hình thức cổ phần hoá. Nhà nước hỗ trợ tiền xây dựng nhà máy xử lý chất thải. Bộ Môi trường giám sát chặt chẽ việc quản lý chất thải trên phạm vi toàn quốc.

Tại Indonesia, để đảm bảo hoạt động thu gom rác thường xuyên, mỗi cộng đồng khu dân cư có thu nhập thấp (Kampung) ở Surabaya tự tổ chức dịch vụ thu gom rác trong phạm vi của mình. “Đội quân vàng” gần 12.000 người thu gom và quét rác trong đồng phục màu vàng do chính những người dân Surabaya trả lương, bổ sung hỗ trợ cho 1.300 công nhân vệ sinh được chính quyền trả lương. Có hai loại thùng rác màu xanh và màu vàng được bố trí cạnh nhau. Các thùng rác màu xanh dành cho các loại rác thải có thể tái sử dụng như giấy, bìa, kim loại, thủy tinh. Bên cạnh mục đích bảo vệ môi trường, việc làm trên còn ý nghĩa giáo dục, đặc biệt cho lớp trẻ.

3.5. Quản lý nhà ở:

Tại Trung Quốc, hầu hết nhà ở được xây dựng dưới dạng chung cư cao từ 4 tầng đến 30 tầng. Công tác xây dựng nhà ở tại Trung Quốc phát triển nhanh chóng do nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và nhu cầu về nhà ở của nhân dân tăng cao. Cùng với chủ trương phát triển, Trung quốc thực hiện ba phương thức cung cấp nhà ở: Nhà ở có tiêu chuẩn cao và khá cao được xây dựng phục vụ mục đích kinh doanh, bán cho các đối tượng có thu nhập cao; Nhà ở thích hợp xây dựng phù hợp với điều kiện kinh tế của các gia đình có thu nhập vừa và thấp; Nhà cho thuê với giá rẻ, xây dựng phục vụ cho các đối tượng nghèo với mức tiêu chuẩn khá thấp do Nhà nước quản lý.

Ngoài ra, Nhà nước còn mở rộng, phát triển và cải thiện công tác lưu thông tiền vốn nhà ở, kéo dài thời hạn cho vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi giúp người dân vay vốn mua nhà ở, đồng thời quản lý tốt giá cả, thúc đẩy, cải cách giá cho thuê nhà.

Tại Nhật Bản, hệ thống cung cấp và quản lý nhà ở của Nhà nước thực hiện thông qua Tổng Công ty tài chính nhà ở Chính phủ, thực hiện cung cấp vốn vay dài hạn với lãi suất thấp cho những người sắp xây dựng nhà hoặc mua nhà. Cơ quan quản lý nhà công cộng giúp chính quyền các địa phương cung cấp nhà cho thuê với giá thấp được trung ương bao cấp một phần. Tổng Công ty phát triển nhà và đô thị thực hiện khắc phục tình trạng thiếu nhà ở tại các trung tâm đồng thời xúc tiến quá trình đổi mới đô thị nhằm tạo ra môi trường đô thị tốt với hình thức đa dạng.

Nhà nước Nhật Bản chủ trương đẩy mạnh xây dựng nhà ở nhiều loại hình với sự phối hợp giữa chính quyền trung ương, địa phương và cộng đồng dân cư trên cơ sở những chương trình dài hạn và toàn diện, tạo cơ hội cho mọi người lựa chọn nhà ở phù hợp với tình trạng và khả năng của mình, như: các khu ở có chất lượng tốt hoặc quy mô lớn, có công năng sử dụng hợp lý, có môi trường sống theo tiêu chí phát triển bền vững; nhà ở cho thuê giá rẻ, nhà ở cho người ở xa gia đình, người già yếu, người khuyết tật.

Nhật Bản đã xây dựng những bộ luật và những quy ước hoạt động cho tất cả các thành viên trong khu ở cũng như các quy định cụ thể về trách nhiệm của từng đối tượng đối với phần tài sản trong nhà ở chung mà mình sở hữu, ban hành các biểu, bảng để kê khai, kiến nghị đề xuất tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng chung cư đề đạt các ý kiến của mình. Tổ chức các Ban quản lý khu chung cư trong đó các thành viên và cả Ban Giám đốc điều hành đều do hội nghị toàn thể các gia đình trong chung cư bầu ra, đồng thời quy định rõ về hoạt động và hạch toán của Ban này.

Tại Singapore, hàng loạt khu ở được xây dựng rất đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật, từ mạng lưới giao thông đến cấp nước, thoát nước thải, cấp điện, thông tin liên lạc, cây xanh và vệ sinh môi trường từ những năm 1980 (ảnh bên). Nhiều khu ở của Singapore đã trở thành mẫu mực cho các đô thị về cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Nhiều hệ thống được xây dựng trước theo định hướng phát triển đáp ứng nhu cầu của tương lai: Giao thông tĩnh trong khu ở xây dựng theo chỉ tiêu 150 xe con trên 1.000 dân; Hệ thống cáp được đầu tư theo nhu cầu mỗi gia đình có từ 3 đến 4 máy thông tin liên lạc; Hệ thống cấp nước cho chỉ tiêu từ 180 - 250 lít/người/ngày.

Chính sách của Chính phủ Singapore nhằm cung cấp nhà ở cho mọi gia đình, tạo điều kiện cho họ làm chủ sở hữu căn nhà đó. Chính phủ thực hiện mục tiêu này thông qua Cơ quan phát triển nhà ở. Hoạt động của cơ quan này bao gồm quy hoạch phát triển đô thị mới, nâng cấp nhà cũ, khuyến khích sở hữu nhà ở của dân, nâng cao trách nhiệm cuộc sống cộng đồng, cung cấp nhà ở chất lượng cao và các tiện nghi công cộng liên quan, đề ra các tiêu chuẩn về xây dựng và quản lý địa ốc. Cơ quan này được vay tiền Chính phủ để phát triển nhà ở và cho dân vay lại để mua nhà trả góp. Chìa khoá để giải quyết vấn đề này là "quỹ tiết kiệm Trung ương".

Theo luật pháp Singapore tất cả các công dân làm việc phải trích vào quỹ này 20% lương của mình, các nhà doanh nghiệp, các chủ kinh doanh hàng tháng cũng phải nộp vào quỹ một số tiền nhất định. Do vậy số tiền trong quỹ rất lớn, bằng 40% quỹ lương cả nước. Phần tiền lương trích vào quỹ không bị đánh thuế thu nhập, nó vẫn thuộc sở hữu người gửi và xem như tiết kiệm hàng năm được cộng vào lãi theo quy định và chỉ được rút ra khi về hưu hoặc có khoản chi cần thiết như mua nhà hay chữa bệnh. Quỹ này hỗ trợ cho dân có tiền gửi tiết kiệm để mua nhà, tiền trả góp hàng tháng cho Nhà nước.

3.6. Phát triển đô thị với sự tham gia của cộng đồng:

Tại Canada, phổ biến rộng rãi mô hình cộng đồng về sản xuất nhà ở. Đó là những nhóm đa ngành giúp cho người thuê nhà, mua nhà hình thành một hợp tác xã về nhà ở được cung cấp những dịch vụ kỹ thuật, được hỗ trợ để thực hiện đầy đủ dự án của mình. Nhóm đa ngành gồm những người có khả năng về nhiều lĩnh vực khác nhau trong dịch vụ nhà ở như lập kế hoạch triển khai công việc, dự kiến ngân sách, quản lý tài chính trong lĩnh vực nhà ở.

Nhiệm vụ của từng nhóm kỹ thuật là giúp thực hiện dễ dàng các dự án, có khả năng vượt qua các trở ngại nảy sinh về tài chính, hành chính, kỹ thuật và xã hội. Nhóm nguồn lực kỹ thuật liên kết chặt chẽ với các thành viên của cộng đồng trong quá trình thực hiện dự án nhằm giúp họ: i) Hiểu mọi tình huống và đề xuất giải pháp thực hiện; ii) Gắn kết với dự án, thực hiện dự án lâu dài với sự hợp tác linh hoạt; iii) Có đủ kiến thức và khả năng quản lý nhà; iv) Thống nhất với nhau để khắc phục những khác biệt, cùng nhau đưa ra các quyết định chung trong quá trình quản lý. Nhóm nguồn lực kỹ thuật có thể tiến hành nhiều loại hình như xây dựng hoặc cho thuê nhà ở, thực hiện trong cả quá trình xây dựng và sử dụng nhà ở theo ba khía cạnh: vật thể, kinh tế và xã hội.

Tại Srilanka, chính quyền ngày càng nhận ra vai trò của người dân trong phát triển định cư và bắt đầu hỗ trợ người dân xây nhà chứ không xây sẵn nhà cho họ (ảnh bên). Tổ chức Quốc gia về phát triển nhà ở đã soạn ra những hướng dẫn về sự tham gia của người dân ở mức độ địa phương trong tiểu chương trình nhà ở thuộc Chương trình “Triệu căn nhà”.

Những hướng dẫn này cho biết làm thế nào để thiết lập được những yêu cầu hỗ trợ tổ chức ở mức độ địa phương và cộng đồng. Tổ chức Quốc gia về phát triển nhà góp phần chủ động trong các hội thảo và gặp gỡ những nhóm mục tiêu mà không có những quan điểm áp đặt của chính quyền, nó đóng vai trò tác nhân trong sự xây dựng và phát triển định cư ở địa phương.

Tại Pakistan, ở Orangi - khu định cư cho những người trú ngụ bất hợp pháp tại Karachi với 800.000 người trong một điều kiện sống rất nguy hiểm, mất vệ sinh, thiếu hệ thống thoát nước và thu gom rác thải. Orangi nhận được rất ít sự quan tâm từ phía chính quyền.

Năm 1980, một tổ chức phi chính phủ tại địa phương phát động một dự án phát triển thích hợp, chi phí thấp nhằm xây nhà, tài chính và hệ thống quản lý vệ sinh cho Orangi. Dự án đầu tiên được thành lập trên một đường hẻm cho 20 gia đình. Cư dân của 20 gia đình này được tổ chức thành từng nhóm, bầu ra một cán bộ quản lý và một thủ quỹ. Họ quản lý xây dựng, thu tiền và thuê người xây dựng các công trình vệ sinh. Qua quá trình xây dựng những vấn đề phát sinh đều được giải quyết. Dự án thành công đến nỗi tất cả cư dân ở các hẻm khác cũng học tập và làm theo.

Tại Indonesia, do nguồn lực hạn chế của chính quyền trong các dự án nâng cấp, cải tạo hạ tầng kỹ thuật các Kampung, sự đóng góp của cộng đồng là yếu tố quan trọng để dự án đạt tính bền vững. Trung bình với mỗi dự án, cứ Nhà nước đầu tư một triệu rupi cho các chi phí trực tiếp, thì cộng đồng đóng góp 50.000 rupi (5%). Nếu kể cả những đóng góp của cá nhân và cộng đồng qua việc trồng và chăm sóc cây xanh, cấp điện chiếu sáng, xây dựng, thu gom rác, thì đóng góp từ phía cộng đồng còn lớn hơn nhiều.

Ở các thành phố lớn như Jakarta hay Surabaya, các dự án cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống hạ tầng kỹ thuật cho các Kampung đã thực sự thành công với sự đóng góp của chính cộng đồng dân cư ở đó. Chương trình cải tạo Kampung được hình thành bắt đầu vào 1969 tại thành phố Surabaya, thành phố lớn thứ hai của Indonesia, với số dân khoảng 3 triệu người. Chương trình cải tạo Kampung bao gồm nâng cấp đường phố, các hẻm nhỏ, hệ thống cấp thoát nước, các điều kiện vệ sinh và quản lý rác thải…, có sự phối hợp giữa cộng đồng dân cư và chính quyền, qua ba phương thức: Các dự án do người dân tự đóng góp thực hiện; Các dự án có sự hỗ trợ một phần của chính quyền; Các dự án được chính quyền địa phương và Trung ương tài trợ cùng khoản viện trợ của Ngân hàng Thế giới.

Các chương trình ở Surabaya thể hiện mạnh mẽ sự hợp tác giữa chính quyền và các cộng đồng dân cư. Qua việc xác định nhu cầu và có sự tham gia của cộng đồng vào các dự án nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, làm cho người dân cảm thấy đây là chương trình của họ, vì vậy họ có thể bảo đảm được việc thành công của dự án, và tham gia duy tu bảo dưỡng các cơ sở hạ tầng sau khi được xây dựng.


Surabaya

4. Kết luận:

Đô thị bền vững được phát triển trên cơ sở bền vững của mọi yếu tố. Đô thị bền vững không những chỉ đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn phải đáp ứng nhu cầu của những thế hệ tương lai. Trong đô thị bền vững, mọi thế hệ đều có được cuộc sống hạnh phúc, đầy đủ phúc lợi và dịch vụ cơ bản, có sức khoẻ, giáo dục, được đảm bảo an toàn và đối xử công bằng. Họ được tận hưởng bản sắc văn hóa dân tộc, lịch sử, cảnh quan và môi trường của riêng mình bên cạnh những thành tựu khoa học tiên tiến của nhân loại.

Phát triển đô thị bền vững trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng là một nội dung khoa học hết sức cấp bách hiện nay, cần có sự quan tâm tham gia của tất cả các cấp chính quyền và mọi thành phần xã hội. Kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới và các nước trong khu vực đã phần nào giúp nước ta học tập nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực cho công tác xây dựng và phát triển đô thị.

Kinh nghiệm quốc tế về phát triển đô thị cần được học tập một cách có chọn lọc và linh hoạt căn cứ vào từng trường hợp và từng điều kiện cụ thể của Việt Nam. Hy vọng với nỗ lực của toàn xã hội, công tác quản lý phát triển đô thị ở nước ta ngày càng phát huy được hiệu quả và các đô thị Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững./.

Tài liệu tham khảo: 

  • Bộ Xây dựng. Phát triển đô thị giai đoạn 1999-2009. Báo cáo - Tham luận tại Hội nghị đô thị toàn quốc, Hà Nội ngày 06 tháng 11 năm 2009;
  • Bộ Xây dựng, UBND thành phố Hà Nội, Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam và Hiệp Hội các Đô thị Việt Nam. Đô thị Việt Nam, Quy hoạch và Quản lý phát triển bền vững. Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội ngày 07 tháng 11 năm 2009;
  • Nguyễn Tố Lăng. Quản lý đô thị ở các nước đang phát triển. Tài liệu giảng dạy sau đại học, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, 2004.

PGS.TS.KTS Nguyễn Tố Lăng - ảnh minh họa: Ashui.com 

 

Lời bình  

 
0 # LVVK 22/09/2010 11:29
cảm ơn tác giả PGS.TS.KTS Nguyễn Tố Lăng!
Trả lời | Trả lời kèm trích dẫn | Trích dẫn
 

Thêm bình luận


Mã an toàn
Đổi mã khác

Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo